Tổng quan nghiên cứu

Hoạt động nghiên cứu và triển khai đóng vai trò quyết định đối với chất lượng và độ an toàn của sản phẩm an ninh tiền tệ quốc gia. Kể từ năm 2001, khi Ngân hàng Nhà nước Việt Nam bắt đầu triển khai chuyển đổi từ tiền giấy cotton sang tiền Polymer và phát hành mệnh giá 500.000 đồng, các giải pháp công nghệ đã giúp giảm trên 60% tỷ lệ làm giả và tăng 1,5% độ bền của đồng tiền lưu hành. Tuy nhiên, nguồn nhân lực R&D tại Nhà máy In tiền Quốc gia Việt Nam vẫn còn mỏng với chỉ 06 cán bộ nghiên cứu chuyên trách trong tổng số khoảng 66 cán bộ tham gia hoạt động khoa học công nghệ.

Vấn đề nghiên cứu cốt lõi xuất phát từ sự bất cập trong chính sách sử dụng lao động: việc áp dụng quy chế chấm công hành chính cố định 8 giờ/ngày và duy trì hợp đồng không xác định thời hạn đã tạo ra sức ỳ, dẫn đến hiện tượng suy giảm chất lượng phục vụ của đội ngũ R&D. Mục tiêu cụ thể của luận văn là khảo sát toàn diện thực trạng quản lý nhân sự, đánh giá mức độ cống hiến và đề xuất các giải pháp đổi mới chính sách sử dụng nhằm tối ưu hóa năng lực sáng tạo của nhân lực R&D trong giai đoạn từ năm 2001 đến năm 2017.

Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn khi trực tiếp tháo gỡ điểm nghẽn cho hơn 75% nhân lực có trình độ đại học và sau đại học tại đơn vị, thiết lập cơ chế đãi ngộ gắn liền với hiệu suất và thúc đẩy năng lực tự chủ công nghệ in ấn bảo an phức tạp cho hệ thống tài chính quốc gia.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự tích hợp của hai khung lý thuyết nền tảng:

Thứ nhất, khung phân loại hoạt động và nhân lực R&D theo hướng dẫn của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hiệp quốc (UNESCO) cùng Cẩm nang Frascati của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Lý thuyết này phân định rõ 3 giai đoạn nghiên cứu bao gồm nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng và triển khai thực nghiệm, đồng thời chia nguồn nhân lực R&D thành 3 nhóm chức năng: Cán bộ nghiên cứu chuyên nghiệp, Nhân viên kỹ thuật và Nhân viên phụ trợ.

Thứ hai, lý thuyết quản trị nguồn nhân lực hiện đại theo kết quả đầu ra kết hợp cùng mô hình đãi ngộ 3P (Position - Person - Performance). Khung lý thuyết này tiếp cận chất lượng phục vụ theo tiêu chuẩn ISO 8402 và quan điểm của Philip B. Crosby, xác định chất lượng phục vụ của nhân lực R&D chính là sự tự giác cống hiến, tính chủ động sáng tạo và mức độ hoàn thành các chỉ tiêu kỹ thuật được giao. Các khái niệm cốt lõi được chuẩn hóa gồm: Hoạt động R&D (theo định nghĩa của Giáo sư Tạ Quang Bửu), Nhân lực R&D, Chính sách sử dụng nhân lực và Chất lượng phục vụ.

Phương pháp nghiên cứu

Luận văn kết hợp chặt chẽ giữa phương pháp nghiên cứu tài liệu thứ cấp và phương pháp điều tra thực tế trong suốt dòng thời gian từ năm 2001 đến năm 2017:

Cỡ mẫu khảo sát thực nghiệm bao gồm 43 đối tượng, được lựa chọn theo phương pháp chọn mẫu định ngạch và chuyên gia nhằm đảm bảo tính đại diện cho toàn bộ hệ thống quản trị và vận hành của Nhà máy:

  • Ban Lãnh đạo Nhà máy: 03 cán bộ (01 Phó Tổng giám đốc phụ trách R&D, 01 Trưởng Trung tâm Nghiên cứu và Ứng dụng Công nghệ, 01 Trưởng phòng Nhân sự).
  • Cán bộ quản lý dây chuyền: 05 Trưởng/Phó các bộ phận xưởng sản xuất.
  • Đội ngũ R&D trực tiếp: 35 cán bộ khoa học kỹ thuật thuộc nhiều phân xưởng.

Lý do lựa chọn phương pháp điều tra xã hội học bằng bảng hỏi kết hợp phỏng vấn sâu chuyên gia là nhằm bóc tách các rào cản tâm lý, đánh giá khách quan hiện trạng phân công công việc và chính sách tiền lương trong môi trường sản xuất có tính chất bảo mật tuyệt đối. Dữ liệu thu thập được xử lý bằng phương pháp thống kê mô tả, so sánh tỷ lệ phần trăm trên cơ sở dữ liệu hồ sơ nhân sự của 51 nhân viên kỹ thuật nhóm 2 và 12 nhân sự chuyên trách.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thực trạng nguồn nhân lực và chính sách sử dụng tại Nhà máy In tiền Quốc gia Việt Nam ghi nhận 4 phát hiện quan trọng:

Thứ nhất, cơ cấu độ tuổi của đội ngũ R&D rất trẻ nhưng tiềm ẩn nguy cơ hẫng hụt thế hệ kế cận. Nhân sự dưới 40 tuổi chiếm tới 86,3% tổng số lao động R&D, tạo lợi thế lớn về khả năng tiếp cận công nghệ mới nhưng thiếu hụt chuyên gia đầu ngành có kinh nghiệm xử lý sự cố phức tạp. Tỷ lệ nhân lực nữ chỉ chiếm 21,2% (14 người trên tổng số 66 người) do đặc thù công việc kỹ thuật nặng nhọc.

Thứ hai, mặt bằng trình độ học vấn rất cao nhưng phân bổ nhân sự chuyên trách chưa tương xứng. Tỷ lệ cán bộ có trình độ đại học và sau đại học đạt 75,7% (50/66 người), gồm 01 Tiến sĩ Hóa học, 15 Thạc sĩ và 34 Kỹ sư/Cử nhân. Dẫu vậy, lực lượng cán bộ nghiên cứu chuyên trách thuộc Nhóm 1 tại Trung tâm Nghiên cứu và Ứng dụng Công nghệ chỉ có 06 người, tạo áp lực quá tải trong triển khai các đề tài công nghệ mới.

Thứ ba, tỷ lệ lao động R&D kiêm nhiệm chiếm ưu thế áp đảo. Có tới 51 nhân sự thuộc Nhóm 2 (chiếm 77,3% tổng lực lượng R&D) phải kiêm nhiệm giữa nhiệm vụ sản xuất thường nhật và công tác nghiên cứu, tập trung nhiều nhất tại Xưởng Cơ Điện Lạnh (14 người), Xưởng Chế bản (13 người) và Xưởng In (10 người).

Thứ tư, phương thức quản lý hành chính cứng nhắc làm thui chột động lực đổi mới. Việc kiểm soát giờ làm việc 8 giờ/ngày bằng thẻ từ điện tử và duy trì hợp đồng lao động vô thời hạn đã dẫn đến hiện tượng bình quân chủ nghĩa, làm giảm sút chất lượng phục vụ của cán bộ có năng lực cao.

Thảo luận kết quả

Thực trạng trên bắt nguồn từ cơ chế quản lý nhà nước đặc thù: chỉ tiêu biên chế tuyển dụng phụ thuộc hoàn toàn vào Ngân hàng Nhà nước và nhiệm vụ chính trị sản xuất luôn được ưu tiên hàng đầu. Tình trạng ký hợp đồng vô thời hạn đã dẫn đến hiện tượng "tù đọng nhân lực khoa học" như cảnh báo của Phó Giáo sư Tiến sĩ Vũ Cao Đàm, làm triệt tiêu dòng di động xã hội và khiến cơ quan quản lý khó sàng lọc nhân sự kém hiệu quả.

Khi đối chiếu với các nghiên cứu của Nguyễn Thị Anh Thu về cơ quan nghiên cứu và Ngô Huy Hoàng về cơ quan truyền hình, bất cập về việc đánh giá nhân lực sáng tạo theo giờ giấc hành chính là lực cản phổ biến trong các đơn vị công lập. Để trực quan hóa, toàn bộ dữ liệu phân bổ nhân lực R&D theo 6 phòng xưởng và tháp độ tuổi dưới 40 tuổi (86,3%) có thể được trình bày thông qua biểu đồ phân bố nhân sự và bảng ma trận kỹ năng, làm nổi bật rõ sự tương phản giữa tiềm năng chất xám (hơn 75% trình độ đại học trở lên) và mức độ đóng góp thực tế trong các dự án công nghệ chống giả.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả khảo sát, 4 nhóm giải pháp đổi mới chính sách sử dụng nhân lực R&D được đề xuất với lộ trình thực hiện cụ thể:

Thứ nhất, chuyển đổi phương thức quản lý từ kiểm soát thời gian sang quản trị theo kết quả đầu ra (KPIs). Ban Điều hành cần ban hành quy chế làm việc linh hoạt, cắt giảm ít nhất 30% mức độ giám sát giờ hành chính đối với 06 cán bộ nghiên cứu thuộc Trung tâm Nghiên cứu và Ứng dụng Công nghệ trước quý IV năm 2018, tạo không gian sáng tạo tối đa cho công tác thử nghiệm.

Thứ hai, tái cấu trúc hệ thống tiền lương và đãi ngộ theo mô hình 3P (Position - Person - Performance). Phòng Tổ chức - Lao động Tiền lương cần thiết lập thang bảng lương mới, nâng tỷ trọng thu nhập gắn liền với kết quả thương mại hóa và ứng dụng sáng kiến kỹ thuật lên mức tối thiểu 40% tổng thu nhập vào năm 2019, xóa bỏ cơ chế chia thưởng cào bằng.

Thứ ba, chuẩn hóa quy trình đào tạo và phát triển nguồn nhân lực qua 5 bước liên hoàn (Xác định nhu cầu - Thiết kế chương trình - Lựa chọn đối tác - Tổ chức thực hiện - Đánh giá hiệu quả sau đào tạo). Đảm bảo 100% nhân viên kỹ thuật kiêm nhiệm (51 người) được đào tạo nâng cao về công nghệ in polymer và mực bảo an chuyên dụng trong chu kỳ 2 năm một lần.

Thứ tư, đẩy mạnh mô hình hợp tác R&D mở và liên kết chuyên gia ngoài ngành. Trung tâm Nghiên cứu và Ứng dụng Công nghệ cần chủ trì liên kết với các viện nghiên cứu chuyên ngành Hóa học và Vật liệu để chế tạo thử nghiệm thành công 02 chủng loại vật liệu bảo an mới (như mực đổi màu OVI hoặc dải nhũ phát quang) trước năm 2020.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang lại giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn cao cho 4 nhóm đối tượng:

  1. Ban Lãnh đạo và Phòng Tổ chức - Cán bộ tại Nhà máy In tiền Quốc gia Việt Nam: Cung cấp bức tranh toàn cảnh về 66 cán bộ R&D và đề xuất bộ công cụ đánh giá 3P cùng quy trình đào tạo chuẩn hóa để áp dụng ngay vào thực tế quản trị.

  2. Các cơ quan quản lý nhà nước (Ngân hàng Nhà nước, Bộ Khoa học và Công nghệ): Sử dụng luận văn làm căn cứ lý luận để ban hành cơ chế tuyển dụng mở, giao quyền tự chủ nhân lực khoa học công nghệ cho các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm đặc biệt.

  3. Giám đốc nhân sự và Trưởng bộ phận R&D tại các doanh nghiệp công nghệ cao: Vận dụng mô hình tổ chức R&D kết hợp và giải pháp tháo gỡ điểm nghẽn kiêm nhiệm cho hơn 75% cán bộ kỹ thuật trình độ cao.

  4. Giảng viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh ngành Quản lý Khoa học và Công nghệ: Khai thác hệ thống khung lý thuyết Frascati, bộ câu hỏi điều tra 43 mẫu thực tế và nguồn dữ liệu lịch sử ngành in tiền từ năm 2001 đến nay phục vụ công tác giảng dạy, nghiên cứu.

Câu hỏi thường gặp

Nhân lực R&D tại Nhà máy In tiền Quốc gia Việt Nam được phân loại như thế nào? Theo chuẩn Frascati, nhân lực R&D của Nhà máy gồm 3 nhóm: Nhóm 1 có 06 cán bộ nghiên cứu chuyên trách; Nhóm 2 gồm 51 nhân viên kỹ thuật kiêm nhiệm tại 6 phòng/xưởng; Nhóm 3 có 02 nhân viên phụ trợ chuyên trách và khoảng 5-7 nhân sự kiêm nhiệm hành chính, tài chính.

Điểm nghẽn lớn nhất trong chính sách sử dụng nhân lực R&D tại đơn vị là gì? Điểm nghẽn lớn nhất là cơ chế biên chế trọn đời đi kèm việc quản lý giờ làm việc 8 giờ/ngày bằng thẻ từ. Cơ chế này tạo ra hiện tượng tù đọng nhân lực, làm triệt tiêu động lực nghiên cứu của hơn 75% cán bộ có trình độ đại học và trên đại học.

Hoạt động R&D đã mang lại thành tựu kỹ thuật cụ thể nào cho Nhà máy? Hoạt động R&D từ năm 2001 đến năm 2017 đã làm chủ công nghệ in Polymer, giúp giảm trên 60% tỷ lệ làm giả tiền tệ, gia tăng 1,5% độ bền cơ học và tối ưu hóa chi phí sản xuất phôi in theo tiêu chuẩn của Ngân hàng Nhà nước.

Tại sao luận văn đề xuất áp dụng mô hình trả lương 3P cho đội ngũ R&D? Mô hình 3P giúp gắn thu nhập với vị trí (Position), năng lực cá nhân (Person) và hiệu suất công việc (Performance). Giải pháp này đề xuất nâng tỷ trọng thưởng theo kết quả đề tài lên ít nhất 40% nhằm kích thích tính sáng tạo vượt bậc của cán bộ nghiên cứu.

Đặc điểm nhân khẩu học nổi bật của đội ngũ R&D tại Nhà máy là gì? Đội ngũ R&D tại Nhà máy có tính chất trẻ hóa mạnh mẽ với 86,3% nhân sự ở độ tuổi dưới 40. Tuy nhiên, tỷ lệ nhân sự nữ chỉ đạt 21,2% và đơn vị đang đối mặt với sự hẫng hụt đội ngũ chuyên gia đầu ngành kế cận.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về quản lý nhân lực R&D trong doanh nghiệp sản xuất đặc thù theo tiêu chuẩn của UNESCO và OECD.
  • Phân tích thực trạng 66 cán bộ R&D tại Nhà máy In tiền Quốc gia Việt Nam, chỉ rõ cơ cấu trẻ với 86,3% dưới 40 tuổi và 75,7% có trình độ đại học trở lên.
  • Phát hiện các bất cập căn bản trong quản lý giờ giấc hành chính và chế độ hợp đồng vô thời hạn gây suy giảm chất lượng phục vụ của nhân viên khoa học.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp đột phá gồm: quản lý theo kết quả đầu ra (KPIs), trả lương 3P với 40% thu nhập biến đổi, chuẩn hóa quy trình đào tạo 5 bước và mở rộng R&D liên kết.
  • Xác lập lộ trình chuyển đổi chính sách nhân sự rõ ràng giai đoạn 2018-2020 nhằm đảm bảo mục tiêu làm chủ công nghệ chống giả hiện đại.

Các nhà quản lý doanh nghiệp và các nhà hoạch định chính sách cần nhanh chóng tham khảo, ứng dụng các đề xuất của luận văn để tối ưu hóa nguồn lực chất xám khoa học công nghệ, đưa năng lực R&D trở thành động lực phát triển bền vững trong kỷ nguyên số.