ĐẶT VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Đất nước ta đang phát triển với tốc độ được thế giới ca ngợi và khâm phục, đồng thời chủ động hội nhập quốc tế trong xu thế toàn cầu hoá. Hợp tác quốc tế (HTQT) là một lĩnh vực hoạt động không những không thể thiếu được, mà ngày càng trở nên vô cùng quan trọng của Nhà nước cũng như của mỗi Bộ, ngành, mỗi cơ quan, đơn vị. Nghị định số 101/2003/NĐ-CP ngày 03 tháng 9 năm 2003 của Chính phủ cho phép Tổng cục Thống kê (TCTK) thành lập Vụ HTQT - lần đầu tiên trong lịch sử gần 60 năm tồn tại ngành thống kê nước ta có cơ quan làm nhiệm vụ HTQT là một Vụ chuyên môn trực thuộc Tổng cục đã đủ thấy tầm quan trọng của công tác này đối với ngành. Ngoài chức năng làm công tác HTQT như đề xuất, xây dựng, triển khai các văn bản về HTQT của TCTK, làm đầu mối về QHỌQT và hội nhập thống kê quốc tế, quản lý các dự án có yếu tố nước ngoài, thực hiện các thủ tục đối ngoại., thì HTQT của ngành thống kê còn có nhiệm vụ không kém phần quan trọng là phổ biến số liệu thống kê Việt Nam (VN) cho quốc tế.
Quyết định của Tổng cục trưởng TCTK ngày 15 tháng 9 năm 2004 với Điều I trong QÐ ghi rõ vị trí và chức năng: Vụ HTQT là đơn vị thuộc TCTK có chức năng giúp Tổng cục trưởng quản lý, chỉ đạo và tổ chức thực hiện công tac HTQT và thống kê nước ngoài trong phạm vi toàn ngành (Nhiệm vụ 10.b: Phổ biến thông tin thống kê VN cho quốc tế). Phổ biến thông tin thống kê VN cho quốc tế là một trong những hoạt động và công việc quan trọng của quá trình hội nhập quốc tế. Chủ động hội nhập quốc tế ở đây của ngành thống kê nước ta cũng chính là chủ động phổ biến thông tin thống kê VN ra quốc tế, là để: e Quảng bá hình ảnh đất nước ta cho quảng đại thế giới biết, để họ hiểu thêm về hình ảnh đa dạng và nhiều chiều của đất nước ta qua những con số, sự phát triển theo hướng tiến bộ nhanh của dân tộc VN, phản bác các luận điệu thù địch; e Thực hiện nghĩa vụ quốc tế của ngành thống kê nước ta với các tổ chức quốc tế và các quốc gia có quan hệ; ¢ La hình thức hữu hiệu trong việc thu hút bạn bè quốc tế đến với đất nước ta, hợp tác với chúng ta cùng phát triển,. e© Là hình thức và biện pháp nâng cao vị thế của ngành thống kê nước ta trên vũ đài quốc tế.
Uy tín của TCTK có cao hay không đối với các cơ quan, tổ chức quốc tế phụ thuộc nhiều vào chất lượng và số lượng thông tin thống kê mà chúng ta đáp ứng kịp thời cho họ. Thực ra vấn dé cung cấp thông tin thống kê nước ta ra thế giới đã được TCTK thực hiện từ lâu. Nhưng bối cảnh của thời kinh tế kế hoạch tập trung với ngày nay đã khác. Yêu cầu về số liệu thống kê nước ta từ phía các cơ quan, doanh nghiệp, các nhà đầu tư và tổ chức quốc tế ngày càng nhiều và phong phú.
Các đối tượng sử dụng thông tin thống kê VN cũng ngày càng nhiều và đa dạng. Những năm gần đây, tuy đã có những cố gắng lớn, song việc đáp ứng thông tin thống kê VN cho người dùng tin là đối tượng nước ngoài vẫn còn nhiều hạn chế, các ấn phẩm quốc tế mà phần của VN vẫn còn bỏ trống nhiều, mặc dù có những số liệu chúng ta chưa thể thống kê được, song có những số liệu rõ ràng là đã phổ biến trong nước, nhưng vẫn chưa thấy xuất hiện trên các ấn phẩm quốc tế. Chỉ lấy một ví dụ cụ thể để minh hoạ cho tình trạng này, đó là chỉ tiêu thống kê "Tỷ lệ nhập học chung” và "Tỷ lệ nhập học đúng tuổi" của các cấp giáo dục: tiểu học, trung học cơ sở và Trung học phổ thông. Những chỉ tiêu này đã được công bố rộng rãi trong các ấn phẩm thống kê "Các chỉ tiêu thống kê xã hội Việt Nam những năm đầu thế kỷ 21" và "Bình đẳng giới ở Việt Nam những năm đầu thế kỷ 21" do TCTK xuất bản.
Ấy thế nhưng trong tài liệu công bố của Cơ quan thống kê Liên hợp quốc (LHQ) phục vụ theo dõi việc thực hiện các Muc tiéu Thién nién ky (Millenium Development Goals - MDGs) cla cdc quốc gia, thì các chỉ tiêu trên lại bi coi là không có số liệu. Hay như chỉ tiêu về khoảng cách giàu nghèo của VN, ấn phẩm thống kê của LHQ lại coi số liệu gần đây nhất là năm 1992 dựa vào tài liệu Điều tra mức sống dân cư năm 1992 của Bộ kế hoạch và Đầu tư phối hợp với TCTK năm 1992-1993 (Việt Nam Living Standard Survey - VLSS), mặc đù chỉ tiêu này đã có thường xuyên 2 năm một lần qua các cuộc điều tra VLSS các năm 1997-1998, 2001-2002, và mới đây nhất là năm 2004. Rõ ràng, công tác này cân phải được chấn chỉnh và làm tốt hơn nữa. Mục đích của đề tài nghiên cứu khoa học này là nhằm cải tiến, phát triển và đẩy mạnh công tác đáp ứng số liệu thống kê nước ta của TCTK cho các đối tượng nước ngoài sử dụng.
Để làm được điều mong muốn ấy, đề tài nghiên cứu khoa học này được thực hiện qua một số việc sau đây: - Tiến hành xem xét việc cung cấp thông tin thống kê cho đối tượng sử dụng là người nước ngoài ở cơ quan thống kê các nước khu vực và thế giới, để qua đó rút ra những kinh nghiệm có thể áp dụng hữu hiệu phù hợp với điều kiện thực tế của ngành thống kê nước ta; -_ Nghiên cứu thực trạng cung cấp thông tin của TCTK cho nước ngoài những năm vừa qua: + Phân loại các đối tượng nước ngoài có sử dụng thông tin thống kê VN; + Xem xét, nghiên cứu nhu cầu thông tin thống kê VN của các đối tượng nước ngoài; + Xem xét, nghiên cứu, đánh giá nội dung thông tin mà các đối tượng nước ngoài có yêu cầu; + Xem xét, nghiên cứu, đánh giá thực tế về cách thức tổ chức đáp ứng những thông tin mà các đối tượng nước ngoài có yêu cầu; -_ Trên cơ sở thực tiễn nhu cầu, nội dung, cách tổ chức đáp ứng thông tin thống kê VN của TCTK cho nước ngoài mà đề ra các giải pháp phù hợp với Luật thống kê, cơ cấu tổ chức của ngành Thống kê nước ta, sao cho kết quả đạt mức tốt nhất, đảm bảo đúng chức năng nhiệm vụ trong lĩnh vực HTQT, góp phần nâng cao uy tín của ngành Thống kê VN trên vũ đài quốc tế, đồng thời cũng là góp phần vào quá trình chủ động hội nhập theo phương châm phát triển đất nước của Đảng và Chính phủ trong xu thế toàn cầu hoá kinh tế thế giới: + Giải pháp về nội dung thông tin; + Giải pháp về tổ chức hoạt động cung cấp thông tin; + Giải pháp về hình thức đáp ứng thông tin. -_ Rút ra các kết luận sau quá trình nghiên cứu và đưa ra các kiến nghị trong lĩnh vực HTQT về cung cấp thông tin thống kê VN cho quốc tế. I- QUÁ TRÌNH NGHIÊN CÚU Với vấn đề được đặt ra như trên, TCTK, Viện Khoa học Thống kê đã cho phép Vụ HTQT chủ trì nghiên cứu đề tài khoa học này, với sự hợp tác hữu hiệu của các Vụ chuyên ngành thông qua trao đổi, phỏng vấn, tìm hiểu tình hình nhận và đáp ứng yêu cầu số liệu thống kê ở các đơn vị đó từ phía các đối tượng nước ngoài sử dụng thông tin để đánh giá hiện trạng nội dung và cách thức phổ biến thông tin thống kê cho quốc tế của Tổng cục. Việc nghiên cứu đối chiếu kết quả đáp ứng số liệu của TCTK với cơ quan thống kê các nước khu vực và lân cận được thực hiện thông qua nghiên cứu các ấn phẩm được các tổ chức quốc tế gửi đến TCTK, đối chiếu so sánh giữa VN và các nước, ngoài ra còn tranh thủ phỏng vấn các chuyên gia nước ngoài đến công tác tại TCTK, hay các đợt đi công tác, hội thảo tại nước ngoài của các thành viên nghiên cứu để tài.
Việc phân loại đối tượng nước ngoài và nhu cầu thông tin thống kê của họ được dựa vào các công văn, thư từ, các bức điện, Fax, e-mail gửi về TCTK qua các kênh khác nhau từ các cơ quan, tổ chức quốc tế và các nhà doanh nghiệp, các nhà nghiên cứu trên thế giới, kể cả định kỳ, thường xuyên lẫn đột xuất, cả yêu cầu nhiều lần hay cũng như chỉ một lần. Thực trạng về nội dung thông tin được nghiên cứu thông qua đối chiếu các chỉ tiêu thống kê mà các đối tượng nước ngoài yêu cầu TCTK cung cấp với cơ sở dữ liệu mà chúng ta hiện có tại TCTK hay ở các Bộ, ngành, kể cả số đã phổ biến công khai cũng như chưa công bố, những thông tin có sẵn cũng như những thông tin phải tính toán lại, những thống kê đã được cung cấp cũng như chưa cung cấp được. Việc nghiên cứu, đánh giá, tìm hiểu các nguyên nhân dẫn đến tình trạng còn chưa tốt trong việc cung cấp thông tin thống kê cho các đối tượng nước ngoài được xem Xét trên các giác độ những khác biệt cơ bản: - Khác biệt về phân loại; - Khác biệt về khái niệm nội dung chỉ tiêu; - Khác biệt về phương pháp tính toán; - Khác biệt về cấp độ chỉ tiết của số liệu; - Phạm trù tính toán. Thực trạng về nguồn thông tin được xem xét trên giác độ đối chiếu nhu cầu số liệu của đối tượng nước ngoài với thông tin do các Vụ nghiệp vụ chuyên ngành ở TCTK và các Bộ, ngành soạn thảo.
Thực trạng về quan điểm phổ biến thông tin cho các đối tượng nước ngoài cũng được để cập qua phân tích những ý kiến, quan điểm của các cán bộ thống kê Tổng cục, có nêu những điểm mạnh, yếu của từng quan điểm, kể cả điểm qua một số công cụ phổ biến số liệu. Sau khi nghiên cứu, phân tích những vấn đề đã nêu, đẻ tài để xuất các giải pháp xác định nội dung và hình thức cung cấp thông tin cho nước ngoài nhằm nâng cao hiệu quả HTQT của TCTK, trong đó có nhấn mạnh tới: - Nội dung thông tin cung cấp cho quốc tế; - Hợp lý hoá công tác tổ chức việc đáp ứng thông tin thống kê cho các đối tượng nước ngoài. Cuối cùng là kết luận vấn đề đã nghiên cứu và kiến nghị với cơ quan TCTK thực hiện.