MỞ ĐẦU Doping là tên gọi chung của các chất kích thích bị cấm trong thi đấu thể thao. Các chất này nhìn chung đều có tác dụng đẩy nhanh tốc độ tuần hoàn máu, tăng cường khối lượng máu chảy về tim, làm tăng thể lực cùng sự tập trung cho các vận động viên. Do đó, làm mất tính công bằng trong thi đấu thể thao, mặt khác cũng ảnh hưởng đến sức khỏe của vận động viên do các tác dụng phụ. Năm 1999, tổ chức chống doping thế giới được thành lập (gọi tắt là WADA- World Anti-Doping Agency) và thực hiện nhiệm vụ này.
Việc kiểm tra doping trước và sau khi thi đấu đã trở thành một điều kiện bắt buộc đối với các giải thi đấu thể thao. Theo danh mục chất cấm 2016 của WADA, nhóm chẹn beta cũng nằm trong nhóm chất bị cấm trong khi thi đấu của một số môn. Trong khuôn khổ để chuẩn bị đăng cai ASIAD 2019 tại Việt Nam. Bộ Khoa học Công nghệ đã giao cho Viện Công Nghệ Môi Trường – Viện Hàn Lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam thực hiện đề tài độc lập cấp Nhà nước: “Nghiên cứu xây dựng một số phương pháp phát hiện doping nhóm beta blocker và steroid trong nước tiểu”.
Công việc trong luận văn này là một phần trong đề tài được giao nói trên. Đề tài: “Nghiên cứu xác định doping nhóm chẹn beta trong nước tiểu sử dụng kỹ thuật chiết pha rắn phân tán bằng LC/MS/MS” bước đầu đặt nền móng cho công tác nghiên cứu, phân tích doping tại Việt Nam. 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG I: TỔNG QUAN 1. Giới thiệu chung về doping 1.
Định nghĩa về doping Hội thảo châu Âu đầu tiên về doping (Uriage, 1963) đã đưa ra định nghĩa: "Doping - đó là việc sử dụng những chất và những biện pháp nhằm tăng một cách nhân tạo thành tích thể thao, làm tổn hại đến tinh thần thể thao chân chính và đến sự lành mạnh về thể chất, tâm lý đạo đức của vận động viên." Ủy ban Olympic Mỹ (USOC) cũng đưa ra định nghĩa về doping: “Việc một vận động viên thi đấu, uống, hoặc dùng bất cứ chất gì lạ đối với cơ thể, hoặc bất cứ chất sinh lý gì (physiological substance) với liều lượng không bình thường, hoặc dùng bằng con đường không bình thường để đưa vào cơ thể với ý định duy nhất là làm tăng một cách giả tạo và không ngay thẳng thành tích thi đấu của vận động viên. Theo Tổ chức chống doping thế giới (WADA- World Anti-Doping Agency) định nghĩa doping là thuật ngữ trong thể thao chỉ các vận động viên sử dụng các phương pháp để nâng cao thành tích một cách không trung thực, đó là đưa các chất hóa học vào cơ thể. Điều đó gây ra thành tích của các vận động viên có sự khác biệt giữa người có và không sử dụng doping. Sử dụng doping để nâng cao thành tích cá nhân, tập thể đã diễn ra từ rất lâu trên thế giới.
Tuy nhiên, những nghiên cứu về doping trên thế giới chỉ bắt đầu được tiến hành nhỏ lẻ từ những năm 1970. Chỉ tới khi tổ chức chống doping quốc tế (WADA) ra đời năm 1999 việc nghiên cứu chống sử dụng doping trong thể thao mới được đẩy mạnh. Các hình thức sử dụng doping Có nhiều hình thức, cách thức sử dụng doping, tuy nhiên, các hình thức sử dụng doping được biết đến hiện nay cơ bản như sau. 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Doping bằng sử dụng thuốc theo đƣờng uống Hầu hết các chất làm tăng cường thể lực được sử dụng bằng đường uống. Chúng nằm trong các dược phẩm từ các thuốc cảm cúm, giảm đau, trợ tim mạch, các loại nước uống có chứa cồn. Doping máu Doping máu là các kỹ thuật được sử dụng để tăng lượng tế bào hồng cầu vận chuyển ôxy của con người từ đó tăng cường khả năng của các vận động viên. Loại doping máu được sử dụng phổ biến nhất là liều tiêm erythroprotein (EPO) – mũi tiêm có chứa các chất hoá học tổng hợp mang ôxy, và hình thức truyền máu, EPO được cơ thể sản xuất tự nhiên.
Hocmon này do thận giải phóng đồng thời khiến tuỷ xương của cơ thể sản xuất tế bào hồng cầu. Tế bào hồng cầu chuyên chở ôxy trong máu của con người, nên khi số lượng hồng cầu tăng lên có thể tăng cường lượng ôxy mà máu vận chuyển đến cơ trong cơ thể. Kết quả cuối cùng là tăng sức bền. Theo Michael Joyner – chuyên gia gây tê thuộc Bệnh viên chuyên khoa Mayo tại bang Minnesota – cho biết: “Doping máu làm giảm mệt mỏi bằng cách tăng lượng cung cấp ôxy cho cơ bắp đang vận hành.
Nó không làm tăng lực tối đa mà cơ có thể sản sinh nhưng nó cho phép cơ bắp thực hiện được nhiều hoạt động hơn trong thời gian lâu hơn” [13]. Phương pháp khác về doping máu là truyền máu bao gồm việc rút máu của chính mình rồi lưu trữ trong vài tháng trong khi cơ thể tự sản xuất bổ sung tế bào hồng cầu. Sau đó, trước khi thi đấu, vận động viên sẽ tiêm lại lượng máu lấy ra vào cơ thể, kết quả cũng tương tự như EPO – tăng tế bào hồng cầu. WADA thông báo gần đây có sự gia tăng sử dụng hình thức truyền máu sau khi phương pháp phát hiện EPO mới xuất hiện vào sau những năm 2000, ví dụ được thế giới biết đến đối với hình thức sử dụng doping loại này đã được vận động viên đua xe đạp Amstrong từng nhiều lần vô địch giải đua xe đạp Tour de France thú nhận.
Doping gen Các vận động viên tầm cỡ thế giới ngày nay vốn là những người có bộ gen đặc biệt, tạo cho họ khả năng bẩm sinh giỏi hơn người khác. Những khả năng đó 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com được mài dũa bằng luyện tập vất vả. Tuy nhiên, ngành công nghệ chuyển đổi gen có thể cải thiện khả năng của vận động viên lên 100, 200, 500 và thậm chí 1. Thông qua kỹ thuật chuyển đổi gen, chẳng hạn vận động viên có thể yêu cầu bác sĩ tiêm ADN của động vật vào cơ thể để trở nên nhanh nhẹn và sung sức hơn so với bình thường.
"Không cần tập tạ và chạy 10km để xây dựng sức bền. Chuyển đổi gen sẽ thay thế và làm những chuyện ấy trở nên tầm thường và lỗi thời, nó có thể biến một người không có chút tố chất thể thao nào thành nhà vô địch" Peter Weyand, giáo viên môn nghiên cứu cơ và chuyển động của người tại Đại học Rice, giải thích. Giới thể thao bắt đầu quan tâm mạnh tới doping gen kể từ tháng 3/2004 khi H. Lee Sweeney thuộc Đại học Pennsylvania phát hiện cơ của chuột biến đổi gen đã tăng trưởng 50%.
Những con chuột này được bổ sung một gien kích thích tăng trưởng. Khi kỹ thuật được kết hợp với luyện tập, sức mạnh của chuột bị biến đổi gien theo cách tương tự tăng 35%. Nếu cơ chế này áp dụng cho người như thí nghiệm trên chuột “mượn cơ co nhanh của chuột có thể làm con người chạy siêu nhanh”. "Quả là đáng sợ khi khả năng này xảy ra.
Lee Sweeney phát biểu. Lo ngại khả năng này có thể xảy ra, WADA đã tuyên bố dùng gen để nâng cao thành tích hay doping gen là bất hợp pháp. WADA cho biết đã tới lúc kiểm soát vấn đề này và hối thúc các nhà khoa học tìm cách phát hiện doping gen. Kể từ khi công bố kết quả nghiên cứu, H.
Lee Sweeney đã nhận được rất nhiều yêu cầu xin thông tin từ các huấn luyện viên cũng như vận động viên. Mặc dù vài năm nữa, H. Lee Sweeney mới thử nghiệm ở người song nghiên cứu trên cho thấy những người khác có thể tiến hành công việc để hưởng lợi. Nhà đạo đức sinh học Andy Miah là người đã xuất bản cuốn sách vận động viên chuyển đổi gien: “Đạo đức y sinh, doping gien và thể thao” vào tháng 8/2004.
Andy Miah cho biết: "Hiện đã tồn tại công nghệ để vận động viên sử dụng. Họ có nguy cơ lớn khi làm điều đó song họ vẫn có thể thử" 1. Các chất cấm trong doping theo quy định của WADA 1. Các chất bị cấm mọi thời điểm - S1).
Nhóm chất đồng hóa (Anabolic agents): (S1)-1: Nhóm steroid đồng hóa loại hormone sinh dục nam (Anabolic 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Androgenic Steroids-AAS); (S1)-1-a: Nhóm steroid đồng hóa loại hormone sinh dục nam mà cơ thể không thể tự sinh ra được bao gồm 47 steroids; (S1)-1-b: Nhóm steroid đồng hóa loại hormone sinh dục nam mà cơ thể có thể tự sinh ra và có thể bổ sung vào cơ thể bao gồm 23 steroids và các chuyển hóa, đồng phân; (S1)-2: Các nhóm chất đồng hóa khác. Các peptide hormones, các chất tăng trưởng và các chất liên quan: (S2)-1: Các nhóm chất kích thích tăng trưởng hồng cầu (Erythropoiesis- Stimulating Agents); (S2)-2: Chorionic Gonadotrophin (Hormone hướng buồng trứng)-CG và Luteinizing Hormone-LH ở nam vận động viên; (S2)-3: Insulins; (S2)-4: Corticotrophins (Hormone hướng thượng thận); (S2)-5: Hormone tăng trưởng (Growth hormone), Insulin-like Growth Factor-1 (IGF-1), Mechano Growth Factors (MGFs), Platelet-Derived Growth Factor (PDGF), Fibroblast Growth Factors (FGFs), Vascular-Endothelial Growth Factor (VEGF), và Hepatocyte Growth Factor (HGF) cũng như các chất tăng trưởng ảnh hưởng tới cơ bắp, gân hoặc suy giảm cũng như sản xuất protein dây chằng, mạch máu, tăng cường năng lượng, tái tạo hoặc chuyển đổi thớ cơ; (S2)-6: Các thuốc tổng hợp Platelet (Platelet-derived preparations). Nhóm beta-2 agonists: gồm tất cả nhóm beta-2 agonist ngoại trừ Salbutamol (có qui định riêng). Hormone antagonists và modulators: (S4)-1: Các chất ức chế Aromatase (Aromatase inhibitors); (S4)-2: Selective estrogen receptor modulators (SERMs); (S4)-3: Các chất anti-estrogenic khác; (S4)-4: Các tác nhân thay đổi chức năng myostatin (Agents modifying myostatin functions).
5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Các chất lợi tiểu và các chất che khác. Các chất bị cấm trong thi đấu Các chất bị cấm trong thi đấu: bao gồm các loại ở phần (S1) đến (S5) và (M1) đến (M3). Ngoài ra còn các loại sau đây bị cấm khi thi đấu: (S6).
Các chất gây kích thích hưng phấn (stimulants): Tất cả các chất gây kích thích hưng phấn và đồng phân đối quang của chúng đều bị cấm (ngoại trừ một số chất đang trong quá trình theo dõi và giám sát của năm 2013, ví dụ như caffein): (S6)-1: Các chất gây kích thích hưng phấn không xác định; (S6)-2: Các chất gây kích thích hưng phấn xác định. Các loại thuốc mê (narcotics). Các chất bị cấm trong một số môn thể thao xác định P1). Rượu: rượu bị cấm khi thi đấu trong một số môn thể thao như karate, đua xe… (P2).
Thuốc trợ tim mạch (beta-blocker): nếu không có chỉ dẫn đặc biệt nào khác, thuốc trợ tim mạch bị cấm khi thi đấu của một số môn thể thao như đánh gôn, vật tự do, võ thuật… 1.