Tổng quan nghiên cứu

Dịch cúm gia cầm bùng phát từ cuối năm 2003 tại Việt Nam đã ghi nhận 5.611 ổ dịch, buộc tiêu hủy hơn 60 triệu con gia cầm và làm 127 người mắc bệnh với 64 trường hợp tử vong tính đến năm 2015. Tháng 8 năm 2014, sự xuất hiện của chủng virus cúm A/H5N6 tại Lạng Sơn và Hà Tĩnh đã đặt ra thách thức nghiêm trọng mới cho ngành thú y. Chủng virus độc lực cao này có mức độ tương đồng di truyền lên tới 99% so với chủng gây tử vong trên người tại Trung Quốc. Thói quen buôn bán gia cầm sống và giết mổ thủ công không đảm bảo vệ sinh tại các chợ truyền thống khiến nguy cơ lây truyền mầm bệnh sang người tăng cao.

Nghiên cứu được thực hiện nhằm xác định mức độ lưu hành của chủng virus cúm A/H5N6 tại các chợ buôn bán gia cầm sống trên địa bàn 3 tỉnh Hải Phòng, Lạng Sơn và Quảng Ninh, đồng thời ứng dụng kỹ thuật Realtime RT-PCR để nâng cao năng lực chẩn đoán sớm. Phạm vi nghiên cứu bao quát dữ liệu dịch tễ từ năm 2010 đến tháng 6 năm 2016 và khảo sát thực địa tại 12 chợ trọng điểm. Ý nghĩa của nghiên cứu thể hiện qua việc cung cấp cơ sở dữ liệu thực nghiệm giúp nâng tỷ lệ bao phủ vaccine (vốn chỉ đạt 42,96% đến 46,64% ở các địa phương, thấp hơn nhiều so với tiêu chuẩn 80%), điều chỉnh kịp thời các biện pháp an toàn sinh học và giảm thiểu thiệt hại cho hơn 12 triệu con gia cầm trong khu vực.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết di truyền học virus và dịch tễ học phân tử đối với virus cúm type A thuộc họ Orthomyxoviridae. Hệ gen của virus cúm A là RNA sợi đơn âm gồm 8 phân đoạn riêng biệt mã hóa cho 11 protein chức năng. Hai kháng nguyên bề mặt capsid gồm Hemagglutinin (HA) với 16 phân type (từ H1 đến H16) và Neuraminidase (NA) với 9 phân type (từ N1 đến N9) quyết định tính kháng nguyên và khả năng gây bệnh. Kháng nguyên HA gắn đặc hiệu với thụ thể Gal α-2,3 sialic acid trên tế bào biểu mô đường hô hấp của gia cầm, trong khi NA là enzyme phá hủy liên kết màng để giải phóng hạt virus mới.

Cơ chế tiến hóa của virus được lý giải qua hai hiện tượng chính: lệch kháng nguyên (Antigenic Drift) do đột biến điểm với tần suất trung bình 1 sai khác trên 10.000 nucleotide, và trộn kháng nguyên (Antigenic Shift) xảy ra khi tái tổ hợp các phân đoạn gen giữa hai chủng virus khác nhau trong cùng một tế bào cảm nhiễm. Phân loại dịch bệnh căn cứ trên độc lực gồm hai nhóm: cúm gia cầm độc lực thấp (LPAI) và cúm gia cầm độc lực cao (HPAI), trong đó các biến chủng mang kháng nguyên H5 và H7 thuộc nhóm HPAI thường gây tỷ lệ tử vong lên tới 100% trong vòng 48 đến 72 giờ sau khi nhiễm.

Phương pháp nghiên cứu

Dữ liệu điều tra dịch tễ học mô tả và dịch tễ học phân tích được thu thập trên tổng đàn gia cầm tại 3 tỉnh giai đoạn từ năm 2010 đến tháng 6 năm 2016. Phương pháp chọn mẫu tập trung vào các điểm nguy cơ cao gồm 12 chợ buôn bán gia cầm sống đại diện cho 3 địa bàn: Lương Văn Can, Quán Toan, Đầm Triều, Thị trấn Tiên Lãng (Hải Phòng); Đồng Đăng, Thất Khê, Hội Hoan, Na Dương (Lạng Sơn); Minh Thành, Rừng, Địa Chất, Cái Răm (Quảng Ninh). Tại mỗi chợ trong mỗi vòng giám sát, nghiên cứu thu thập 30 mẫu dịch ngoáy hầu họng gà, 30 mẫu dịch ngoáy hầu họng vịt (gộp 5 mẫu đơn thành 1 mẫu xét nghiệm) cùng các mẫu môi trường gồm phân tươi, nước thải, nước uống và chất thải lồng nhốt.

Nghiên cứu lựa chọn phương pháp sinh học phân tử Realtime RT-PCR theo quy trình chuẩn TCCS 16:2016/TYV2-CĐ của Cơ quan Thú y vùng II. Phương pháp này sử dụng các bộ mồi và mẫu dò huỳnh quang Taqman probe đặc hiệu (M-4, H5-9S, N6-1) nhằm khuếch đại trực tiếp RNA đích. Lý do lựa chọn kỹ thuật này là khả năng phát hiện nhanh, độ nhạy cao và định lượng chính xác qua giá trị ngưỡng chu kỳ Ct (mẫu có giá trị Ct nhỏ hơn hoặc bằng 35 được xác định dương tính), loại bỏ hoàn toàn bước điện di gel agarose tốn thời gian của phương pháp PCR truyền thống.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Kết quả xét nghiệm mẫu bệnh phẩm từ 12 chợ buôn bán gia cầm sống mang lại những số liệu dịch tễ rõ ràng:

  1. Tỷ lệ nhiễm virus cúm type A: Ghi nhận tỷ lệ dương tính chung là 34,89% (khoảng tin cậy 95% dao động từ 32,21% đến 37,63%). Tỷ lệ này có sự khác biệt lớn giữa các địa phương, cao nhất tại Quảng Ninh với 50,23% (khoảng tin cậy 95%: 45,41% - 55,05%), tiếp theo là Lạng Sơn với 31,67% (khoảng tin cậy 95%: 26,89% - 36,75%) và thấp nhất tại Hải Phòng với 22,22% (khoảng tin cậy 95%: 18,39% - 26,44%).

  2. Tỷ lệ nhiễm phân type H5 và N6: Tỷ lệ dương tính với subtype H5 trung bình đạt 6,45% (khoảng tin cậy 95%: 6,43% - 6,51%), trong đó Hải Phòng chiếm tỷ lệ cao nhất với 8,10%, Lạng Sơn đạt 6,39% và Quảng Ninh là 4,86%. Đối với subtype N6, tỷ lệ dương tính trung bình đạt 5,15% (khoảng tin cậy 95%: 5,12% - 5,20%), dẫn đầu là Hải Phòng với 7,87%, Lạng Sơn là 4,44% và Quảng Ninh đạt 3,01%.

  3. Phạm vi lưu hành tại các chợ: Toàn bộ 12/12 chợ (tỷ lệ 100%) đều phát hiện sự lưu hành của virus cúm type A. Đồng thời, có 10/12 chợ (tỷ lệ 83,33%) phát hiện sự hiện diện đồng thời của cả hai phân type H5 và N6.

  4. Tính quy luật theo mùa và lịch sử ổ dịch: Sự lưu hành của virus cúm A/H5N6 tập trung cao điểm vào các tháng 12, tháng 1 và tháng 2 hàng năm. Trong giai đoạn 2010 - 2016, 3 tỉnh đã xảy ra 70 ổ dịch HPAI khiến 166.348 con gia cầm bị tiêu hủy (Quảng Ninh 34 ổ dịch với 52.039 con, Hải Phòng 25 ổ dịch với 106.881 con và Lạng Sơn 11 ổ dịch với 7.428 con).

Thảo luận kết quả

Tỷ lệ phát hiện virus cúm type A tại Quảng Ninh lên tới 50,23% bắt nguồn từ đặc thù mạng lưới chợ đầu mối tiếp nhận gia cầm từ nhiều nguồn, kết hợp với hoạt động vận chuyển gia cầm qua biên giới. Chỉ trong 6 tháng đầu năm 2016, lực lượng chức năng Quảng Ninh đã tiêu hủy 31.200 con gà nhập lậu và Lạng Sơn tiêu hủy 30.020 con. Ngược lại, Hải Phòng ghi nhận tỷ lệ nhiễm subtype H5 (8,10%) và N6 (7,87%) cao nhất phản ánh mật độ chăn nuôi dày đặc với tổng đàn từ 6,4 đến 7,6 triệu con, nhưng có tới 259 chợ và 338 điểm giết mổ nhỏ lẻ hoạt động tự phát, thiếu các điều kiện kiểm dịch nghiêm ngặt.

Về phương diện trực quan hóa, toàn bộ dữ liệu lưu hành theo không gian và thời gian có thể được mô tả hiệu quả thông qua bản đồ dịch tễ GIS phân tầng mật độ ổ dịch và biểu đồ cột so sánh tỷ lệ hiện mắc giữa các nhóm chợ. Sự xuất hiện phổ biến của virus tại 83,33% điểm chợ được giám sát chứng minh các chợ gia cầm sống chính là ổ chứa duy trì mầm bệnh. Khi điều kiện thời tiết chuyển lạnh vào mùa đông - xuân kết hợp mật độ lưu thông tăng cao dịp Tết, virus nhanh chóng bùng phát thành các ổ dịch diện rộng.

Đề xuất và khuyến nghị

  1. Nâng cao tỷ lệ tiêm phòng vaccine phòng bệnh: Chi cục Thú y các tỉnh cần xây dựng kế hoạch tiêm phòng bắt buộc 2 đợt chính trong năm (tháng 3 - 4 và tháng 9 - 10), nâng tỷ lệ tiêm phòng đạt tối thiểu 80% tổng đàn trong diện tiêm theo Thông tư 07/2016/TT-BNNPTNT, sử dụng các dòng vaccine tương thích như Navet-Vifluvac hoặc Re-6.

  2. Kiểm soát chặt chẽ vận chuyển và ngăn chặn gia cầm lậu: Lực lượng quản lý thị trường và bộ đội biên phòng tại Lạng Sơn, Quảng Ninh cần phối hợp kiểm tra 100% các phương tiện vận chuyển gia cầm qua cửa khẩu và đường mòn biên giới, đặt mục tiêu ngăn chặn và tiêu hủy triệt để nguồn gia cầm nhập lậu trong vòng 12 tháng.

  3. Chuẩn hóa vệ sinh tiêu độc khử trùng tại chợ gia cầm sống: Ban quản lý chợ cùng chính quyền địa phương cần ban hành quy chế tiêu độc khử trùng bắt buộc cuối mỗi ngày tại 259 chợ ở Hải Phòng, 138 chợ ở Quảng Ninh và 54 chợ ở Lạng Sơn, tách biệt hoàn toàn khu nhốt gia cầm sống với khu vực giết mổ trước quý 4 năm 2017.

  4. Ứng dụng thường quy kỹ thuật Realtime RT-PCR trong giám sát: Trạm chẩn đoán xét nghiệm bệnh động vật thuộc Cơ quan Thú y vùng II cần duy trì quy trình xét nghiệm TCCS 16:2016/TYV2-CĐ, rút ngắn thời gian trả kết quả xuống dưới 4 giờ để đưa ra thông báo dịch tễ khẩn cấp trong vòng 24 giờ kể từ khi thu mẫu.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  1. Cán bộ quản lý và chuyên viên dịch tễ thú y: Cục Thú y, Cơ quan Thú y vùng và Chi cục Thú y các tỉnh có thể sử dụng dữ liệu để xây dựng bản đồ cảnh báo sớm, lập phương án khoanh vùng dập dịch và bố trí kinh phí tiêm phòng.

  2. Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Thú y: Tiếp cận tài liệu tham khảo giá trị về sinh học phân tử virus Orthomyxoviridae, thiết kế mồi probe Taqman và phương pháp dịch tễ học thực địa.

  3. Chủ trang trại và doanh nghiệp chăn nuôi gia cầm quy mô lớn: Nắm bắt chu kỳ dịch tễ mùa vụ để chủ động lịch tiêm phòng, kiểm soát nguồn giống và xây dựng quy trình cách ly an toàn sinh học nhằm giảm thiểu tổn thất kinh tế.

  4. Chuyên gia y tế công cộng và nghiên cứu bệnh truyền lây Một Sức Khỏe (One Health): Sử dụng các bằng chứng về sự lưu hành virus tại chợ dân sinh để phân tích nguy cơ lây truyền mầm bệnh nguy hiểm từ gia cầm sang người.

Câu hỏi thường gặp

Tỷ lệ lưu hành của virus cúm gia cầm type A tại các chợ được khảo sát là bao nhiêu? Tỷ lệ dương tính trung bình với virus cúm type A là 34,89% trên tổng số mẫu bệnh phẩm thu thập. Virus xuất hiện tại 100% số chợ được khảo sát ở cả 3 tỉnh, trong đó tỉnh Quảng Ninh ghi nhận tỷ lệ cao nhất lên đến 50,23%, tiếp theo là Lạng Sơn với 31,67% và Hải Phòng là 22,22%.

Kỹ thuật Realtime RT-PCR có ưu điểm gì nổi bật trong chẩn đoán cúm A/H5N6? Phương pháp này khuếch đại và nhận diện trực tiếp đoạn gen mục tiêu thông qua mẫu dò Taqman probe gắn huỳnh quang đặc hiệu. Kỹ thuật cho phép rút ngắn thời gian chẩn đoán, xác định chính xác subtype H5 và N6 với ngưỡng chu kỳ Ct nhỏ hơn hoặc bằng 35 mà không cần qua công đoạn điện di gel agarose.

Virus cúm A/H5N6 phát hiện tại Việt Nam có nguy hiểm với con người không? Chủng cúm A/H5N6 là virus có độc lực cao, có khả năng vượt rào cản loài để gây bệnh nặng trên người. Kết quả giải trình tự gen cho thấy các chủng phát hiện tại Việt Nam tương đồng 99% với chủng gây tử vong trên người tại Trung Quốc, tạo mối đe dọa lớn tại các điểm giết mổ thủ công.

Sự lưu hành của virus cúm A/H5N6 tại các chợ tập trung vào thời điểm nào? Dữ liệu giám sát dịch tễ xác định virus lưu hành tập trung nhiều nhất vào các tháng 12, tháng 1 và tháng 2. Đây là giai đoạn thời tiết chuyển mùa đông - xuân lạnh ẩm, đồng thời hoạt động buôn bán, giết mổ gia cầm gia tăng đột biến phục vụ dịp Tết Nguyên đán khiến mầm bệnh dễ phát tán.

Tại sao tỷ lệ tiêm phòng vaccine cúm gia cầm tại các tỉnh nghiên cứu chưa đạt yêu cầu? Tỷ lệ tiêm phòng giai đoạn 2010 - 2016 chỉ đạt bình quân 46,64% tại Quảng Ninh và 42,96% tại Hải Phòng, thấp hơn mức chuẩn 80%. Nguyên nhân do hình thức chăn nuôi nhỏ lẻ nông hộ chiếm ưu thế, kinh phí tại địa phương còn hạn hẹp và công tác tổ chức tiêm phòng chưa đồng bộ.

Kết luận

  • Xác định tỷ lệ lưu hành virus cúm type A đạt 34,89%, phân type H5 đạt 6,45% và phân type N6 đạt 5,15% tại các chợ gia cầm sống thuộc Hải Phòng, Lạng Sơn và Quảng Ninh.
  • Ghi nhận 100% chợ có virus cúm type A và 83,33% chợ lưu hành đồng thời cả hai phân type H5 và N6, tập trung cao điểm vào các tháng 12, 1 và 2.
  • Làm rõ nguyên nhân dẫn đến 70 ổ dịch HPAI trong giai đoạn 2010 - 2016 do tỷ lệ tiêm phòng thấp (chỉ đạt 42,96% - 46,64%) và tình trạng buôn bán gia cầm nhập lậu.
  • Chuẩn hóa quy trình chẩn đoán Realtime RT-PCR với mẫu dò Taqman probe, tạo công cụ phát hiện nhanh mầm bệnh với ngưỡng chu kỳ Ct chuẩn xác.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp toàn diện kết hợp tiêm phòng đạt chuẩn trên 80%, kiểm dịch biên giới nghiêm ngặt và cải tạo an toàn sinh học tại hệ thống chợ.

Trong giai đoạn tiếp theo, các cơ quan thú y cần tiếp tục mở rộng quy mô giám sát định kỳ tại các vùng đệm biên giới. Các nhà quản lý và cơ sở chăn nuôi hãy ứng dụng ngay các kết quả nghiên cứu này để xây dựng phương án phòng dịch chủ động, bảo vệ an toàn đàn gia cầm và sức khỏe cộng đồng.