Tổng quan nghiên cứu

Viêm tai giữa mạn tính là một trong những bệnh lý tai mũi họng phổ biến hàng đầu, chiếm khoảng 2% đến 5% dân số thế giới và dao động từ 2% đến 4% tại Việt Nam, chiếm từ 6% đến 10% tổng số lượt khám bệnh lý chuyên khoa tai mũi họng. Bệnh lý có thể tiến triển thành các thể nguy hiểm có tổn thương ăn mòn xương hoặc đi vào thể viêm tai giữa mạn tính ổn định. Mặc dù thể ổn định không trực tiếp đe dọa tính mạng nhưng tình trạng xơ hóa, cốt hóa kéo dài liên tục làm tổn thương chuỗi xương con, trong đó xương đe là thành phần chịu thương tổn nhiều nhất do đặc điểm cấp máu hạn chế và cấu trúc giải phẫu mảnh mai. Tổn thương xương đe làm gián đoạn chuỗi truyền âm thanh từ màng nhĩ vào cửa sổ bầu dục, dẫn đến tình trạng giảm thính lực tiến triển, gây cản trở nghiêm trọng đến khả năng giao tiếp và chất lượng cuộc sống của người bệnh.

Luận văn chuyên khoa cấp II của tác giả Trần Trung Kiên được thực hiện nhằm mục tiêu mô tả chi tiết đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng ở bệnh nhân viêm tai giữa mạn tính ổn định có tổn thương xương đe, đồng thời đánh giá hiệu quả phục hồi giải phẫu và chức năng sức nghe của phương pháp phẫu thuật nội soi tạo hình tai giữa bằng trụ gốm sinh học. Đề tài được triển khai trên 44 bệnh nhân tại Bệnh viện Tai Mũi Họng Cần Thơ và Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Cần Thơ trong giai đoạn từ tháng 02/2019 đến tháng 06/2020. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc chuẩn hóa quy trình phẫu thuật xâm lấn tối thiểu, tận dụng vật liệu gốm y sinh học sản xuất trong nước với độ tương thích sinh học cao, giúp tối ưu hóa chi phí điều trị và cải thiện rõ rệt chỉ số thính lực sau 3 tháng hậu phẫu.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nguyên lý sinh lý học truyền âm của tai giữa và cơ chế biến đổi năng lượng sóng âm. Màng nhĩ và hệ thống xương con hoạt động như một hệ cơ học chuyển đổi sóng âm trong không khí thành dao động cơ học truyền tới dịch tai trong, với tỷ lệ khuếch đại áp suất âm thanh của màng nhĩ lên tới 17 lần so với diện tích cửa sổ bầu dục. Chuỗi xương con gồm xương búa, xương đe và xương bàn đạp kết nối với nhau qua các khớp động được bao bọc bởi hệ thống sợi xơ và sợi chun, giúp bảo vệ tai trong khi âm thanh vượt ngưỡng an toàn trên 120 dB.

Khung lý thuyết phẫu thuật chỉnh hình chuỗi xương con trong nghiên cứu áp dụng phân loại cải biên từ mô hình của McGee và Hough, chia thành ba phân nhóm giải phẫu phù hợp với bệnh nhân Việt Nam:

  • Type 1A: Tổn thương ngành xuống xương đe đơn thuần, sử dụng trụ gốm thay xương đe nối từ cán búa đến chỏm xương bàn đạp.
  • Type 1B: Tổn thương ngành xuống xương đe kèm mất chỏm xương bàn đạp nhưng còn 2 gọng, sử dụng trụ gốm hình yên ngựa nối cán búa với gọng bàn đạp.
  • Type 1C: Tổn thương ngành xuống xương đe kết hợp ăn mòn cán búa, sử dụng trụ gốm hình lòng máng để nâng đỡ màng nhĩ và nối vào chỏm bàn đạp.

Vật liệu can thiệp là gốm y sinh học canxi phosphat và thủy tinh sinh học với công thức hóa học chứa hệ oxit và muối khoáng, có độ xốp dưới 5%, tính trơ hóa học, không bị tiêu ngót sinh học và có độ tương hợp mô rất cao, hạn chế tối đa nguy cơ đào thải.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng thiết kế mô tả can thiệp lâm sàng theo dõi dọc không đối chứng trên từng trường hợp bệnh. Cỡ mẫu tối thiểu được xác định dựa trên công thức ước tính một tỷ lệ quần thể với mức ý nghĩa thống kê 0,05 (hệ số Z bằng 1,96), tỷ lệ điều trị thành công tham chiếu từ y văn là 89,5% (p bằng 0,895) và sai số tuyệt đối cho phép d bằng 0,09, xác định cỡ mẫu chuẩn xác là 44 bệnh nhân. Phương pháp chọn mẫu thuận tiện được áp dụng cho toàn bộ bệnh nhân thỏa mãn các tiêu chuẩn: chẩn đoán viêm tai giữa mạn tính ổn định, tai khô ít nhất 3 tháng, hiệu số dẫn truyền khí cốt ABG trước mổ từ 30 dB trở lên và có chỉ định phẫu thuật nội soi tạo hình xương đe bằng trụ gốm.

Quy trình thu thập dữ liệu và can thiệp thực hiện qua ba bước nghiêm ngặt:

  • Bước 1: Khám lâm sàng toàn diện, nội soi chẩn đoán bằng ống soi cứng Karl Storz 0 độ đường kính 4 mm, đo thính lực đơn âm tại 4 tần số tiêu chuẩn gồm 500 Hz, 1000 Hz, 2000 Hz, 4000 Hz để xác định chỉ số ngưỡng nghe trung bình PTA và ABG, kết hợp chụp cắt lớp vi tính xương thái dương các lát cắt mỏng dưới 1 mm.
  • Bước 2: Tiến hành phẫu thuật nội soi qua ống tai, bóc tách vạt da màng nhĩ, mở rộng khung nhĩ bằng curret vi phẫu, gỡ dính xơ sẹo và đặt trụ gốm sinh học phù hợp kích thước thương tổn.
  • Bước 3: Đánh giá hậu phẫu tại thời điểm 3 tháng về độ liền của màng nhĩ, vị trí trụ dẫn và mức độ cải thiện thính lực. Toàn bộ số liệu được xử lý bằng phần mềm SPSS 18.0 với các thuật toán kiểm định Chi bình phương, T-test ghép cặp và phân tích phương sai One-Way ANOVA ở ngưỡng ý nghĩa p nhỏ hơn 0,05.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Về đặc điểm nhân khẩu học và lâm sàng, nghiên cứu ghi nhận độ tuổi trung bình của bệnh nhân là 43 tuổi, trong đó nhóm tuổi lao động từ 30 đến 50 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất với 61,4% (27 trên 44 bệnh nhân), nhóm từ 15 đến 50 tuổi chiếm tới 75,1%. Phân bố giới tính cho thấy nữ giới chiếm đa số với 68,2% (30 trên 44 bệnh nhân), cao hơn gấp 2,14 lần so với nam giới chiếm 31,8% (14 trên 44 bệnh nhân) với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p bằng 0,023). Bệnh nhân sinh sống tại khu vực nông thôn chiếm 61,4%, trong khi thành thị chiếm 38,6%. Tổn thương xảy ra ở tai phải chiếm ưu thế với 63,6% so với tai trái 36,4%.

Triệu chứng cơ năng ghi nhận 100% bệnh nhân có biểu hiện ù tai, trong đó ù tai tiếng trầm chiếm 77,3%, ù tai tiếng cao chiếm 9,1% và 13,6% bệnh nhân có biểu hiện chuyển từ tiếng trầm sang tiếng cao. Tỷ lệ bệnh nhân than phiền nghe kém chiếm 93,2% (41 trên 44 ca, p nhỏ hơn 0,001). Triệu chứng đau tai và chóng mặt ít gặp hơn, lần lượt ghi nhận ở mức 15,9% và 9,1%.

Về thương tổn thực thể và chẩn đoán hình ảnh, 100% bệnh nhân có thủng màng nhĩ, trong đó thủng rộng sát rìa chiếm tỷ lệ cao nhất với 45,5% (20 ca), thủng trung tâm chiếm 40,9% (18 ca) và thủng mất rìa chiếm 13,6% (6 ca). Niêm mạc hòm nhĩ dạng mô hạt chiếm 50,0% và dạng xơ hóa chiếm 47,4%. Nội soi chẩn đoán ban đầu phát hiện được tổn thương xương con ở 63,6% bệnh nhân. Trên phim chụp cắt lớp vi tính xương thái dương, bệnh tích mờ khu trú tại thượng nhĩ chiếm 75,0% (33 ca) và bệnh tích lan đến sào bào chiếm 25,0% (11 ca).

Về kết quả thính lực học, trước phẫu thuật, ngưỡng nghe đường xương trung bình là 30,9 ± 15,6 dB, đường khí trung bình là 66,5 ± 21,3 dB, khoảng cách khí cốt ABG trung bình đạt mức 35,6 ± 12,7 dB và chỉ số PTA trung bình là 66,5 ± 21,3 dB. Sau 3 tháng phẫu thuật, tỷ lệ phục hồi màng nhĩ kín đạt mức rất cao, vị trí trụ gốm được duy trì ổn định, khoảng cách ABG thu hẹp rõ rệt về dưới mức 20 dB ở đa số các trường hợp, ghi nhận hiệu quả cải thiện sức nghe và hiệu quả Rinne vượt trội trên cả ba nhóm tạo hình xương đe.

Thảo luận kết quả

Cơ chế tổn thương xương đe trong viêm tai giữa mạn tính ổn định bắt nguồn từ mạng lưới tưới máu tận cùng nghèo nàn, kết hợp với các đợt viêm bán cấp âm thầm gây lắng đọng canxi, hoại tử vô mạch ngành xuống và cố định khớp đe đạp. Tỷ lệ mắc bệnh tập trung cao ở nhóm 30 đến 50 tuổi phản ánh quá trình viêm mạn tính tích tụ qua nhiều năm, khi người bệnh bước vào độ tuổi lao động có nhu cầu giao tiếp cao mới đi khám vì sức nghe giảm sút nghiêm trọng.

Phân tích số liệu cho thấy phương pháp phẫu thuật nội soi mang lại nhiều ưu điểm vượt trội so với phẫu thuật kính hiển vi truyền thống. Với ống soi Karl Storz 0 độ đường kính 4 mm, phẫu thuật viên có thể tiếp cận trực tiếp hòm nhĩ và thượng nhĩ qua đường ống tai tự nhiên, cho phép quan sát bao quát hệ thống xương con mà không cần khoét rộng vỏ xương chũm, từ đó giảm thiểu sang chấn mô lành, bảo tồn dây thần kinh mặt số VII và rút ngắn thời gian hồi phục của bệnh nhân.

Việc ứng dụng các trụ gốm sinh học đa hình thái (trụ thẳng, yên ngựa, lòng máng) mang lại độ ổn định cơ học rất cao. So với xương tự thân dễ bị tái hấp thu hay vật liệu nhân tạo dạng kim loại titanium có chi phí đắt đỏ và dễ gây thủng màng nhĩ thứ phát do ma sát, trụ gốm sinh học canxi phosphat có kích thước thiết kế tương thích với nhân trắc học người Việt, bám dính mô mềm tốt và không gây phản ứng viêm dị vật, giúp phục hồi sinh lý dẫn truyền âm thanh một cách tự nhiên và bền vững.

Đề xuất và khuyến nghị

  1. Chuẩn hóa quy trình chẩn đoán hình ảnh trước mổ: Các bệnh viện chuyên khoa Tai Mũi Họng cần áp dụng thường quy kỹ thuật chụp cắt lớp vi tính xương thái dương với các lát cắt mỏng dưới 1 mm và đo thính lực đơn âm 4 tần số cho 100% bệnh nhân viêm tai giữa mạn tính có khoảng cách khí cốt ABG từ 30 dB trở lên, nhằm phát hiện chính xác mức độ tiêu hủy xương đe trước khi can thiệp.
  2. Đẩy mạnh triển khai kỹ thuật phẫu thuật nội soi tái tạo tai giữa: Khuyến khích các phẫu thuật viên chuyên khoa tai áp dụng kỹ thuật mở khung nhĩ sau qua nội soi xâm lấn tối thiểu, giúp nâng cao tỷ lệ liền màng nhĩ thành công lên trên 90% và rút ngắn thời gian nằm viện xuống dưới 5 ngày so với mổ mở kinh điển.
  3. Ứng dụng và chuyển giao bộ trụ gốm sinh học sản xuất trong nước: Các cơ sở y tế nên ưu tiên sử dụng các mẫu trụ gốm sinh học nội địa với 3 dạng thiết kế chuẩn hóa (Type 1A, 1B, 1C), giúp giảm giá thành vật liệu phẫu thuật từ 30% đến 50% so với vật liệu nhập ngoại nhưng vẫn đảm bảo tính tương hợp mô và tỷ lệ thành công thính lực tương đương.
  4. Thiết lập phác đồ theo dõi hậu phẫu định kỳ: Bệnh viện và các phòng khám chuyên khoa cần xây dựng lịch tái khám chặt chẽ tại các mốc 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng và 12 tháng sau mổ để đánh giá độ thông khí hòm nhĩ, kiểm tra chỉ số PTA và phát hiện sớm các nguy cơ trật trụ gốm hoặc xơ dính tái phát.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Bác sĩ chuyên khoa Tai Mũi Họng và phẫu thuật viên vi phẫu tai: Tiếp cận quy trình kỹ thuật phẫu thuật nội soi tạo hình tai giữa chi tiết, nắm vững kỹ thuật bóc tách vạt da ống tai, gỡ dính xơ sẹo và phương pháp lựa chọn kích thước trụ gốm sinh học tối ưu cho từng dạng thương tổn.
  • Học viên sau đại học, bác sĩ nội trú và chuyên khoa cấp 1, cấp 2: Nắm bắt phương pháp luận nghiên cứu can thiệp lâm sàng chuẩn mực, công thức tính toán cỡ mẫu với độ tin cậy 95% và phương pháp ứng dụng các phần mềm thống kê y học trong xử lý dữ liệu thính học.
  • Các nhà khoa học và kỹ sư vật liệu y sinh: Tham khảo số liệu lâm sàng thực tế về mức độ tương thích sinh học, tỷ lệ đào thải và độ bền cơ học của vật liệu gốm canxi phosphat trong môi trường tai giữa người Việt Nam.
  • Lãnh đạo bệnh viện và các nhà quản lý y tế: Có cơ sở khoa học để phê duyệt danh mục kỹ thuật nội soi tai giữa ít xâm lấn và xây dựng gói chi phí điều trị kinh tế, hiệu quả cho các cơ sở y tế tuyến tỉnh.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao xương đe lại là cấu trúc xương con dễ bị tổn thương nhất trong viêm tai giữa mạn tính? Xương đe có đặc điểm giải phẫu với ngành xuống dài, đường kính nhỏ và hệ thống mạch máu nuôi dưỡng dạng tận cùng nghèo nàn. Khi xảy ra các đợt viêm mạn tính kéo dài, tình trạng phù nề niêm mạc gây thiếu máu cục bộ, dẫn đến tiêu xương và xơ dính, làm gián đoạn chuỗi truyền âm chiếm tỷ lệ phát hiện trên 63% trường hợp.

Chỉ số khoảng cách khí cốt ABG trước mổ từ 30 dB trở lên có ý nghĩa lâm sàng gì? Chỉ số ABG từ 30 dB trở lên phản ánh tình trạng tổn thương gián đoạn dẫn truyền cơ học nặng nề của chuỗi xương con chứ không đơn thuần chỉ do thủng màng nhĩ. Trong nghiên cứu, mức ABG trung bình trước mổ là 35,6 ± 12,7 dB, là chỉ định bắt buộc để tiến hành phẫu thuật tạo hình thay thế xương con nhằm khôi phục thính lực.

Phẫu thuật nội soi tạo hình tai giữa có ưu thế gì so với mổ hở bằng kính hiển vi? Kỹ thuật nội soi sử dụng ống soi 0 độ góc nhìn rộng giúp quan sát trực diện các cấu trúc sâu trong hòm nhĩ qua đường ống tai tự nhiên, không cần rạch da sau tai hay đục rộng xương chũm. Phương pháp này giảm thiểu mất máu, tránh tổn thương dây thần kinh số VII và giúp bệnh nhân hồi phục nhanh, rút bấc tai sau 7 ngày.

Trụ gốm sinh học sản xuất trong nước có ưu điểm gì so với vật liệu tự thân và kim loại? Gốm sinh học canxi phosphat có độ xốp dưới 5%, cấu trúc tương đồng với xương người nên không bị tiêu ngót như sụn tự thân và không gây phản ứng thải ghép. Các mẫu trụ đúc sẵn dạng đơn thuần, lòng máng và yên ngựa tương thích chính xác với kích thước giải phẫu người Việt, giúp giảm chi phí điều trị đáng kể.

Quy trình chăm sóc và theo dõi người bệnh sau mổ tạo hình xương đe cần lưu ý những gì? Bệnh nhân được điều trị kháng sinh kháng viêm trong 2 tuần, giữ ẩm bấc merocel bằng thuốc nhỏ tai và rút bấc sau 1 tuần, làm sạch gelfoam sau 2 đến 3 tuần. Bệnh nhân cần tái khám định kỳ sau 3 tháng để đo thính lực đơn âm 4 tần số, đánh giá mức độ liền màng nhĩ và độ ổn định của trụ dẫn.

Kết luận

  • Nghiên cứu đã hoàn thành xuất sắc việc đánh giá toàn diện đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng trên 44 bệnh nhân viêm tai giữa mạn tính ổn định có tổn thương xương đe với độ tuổi trung bình 43 tuổi tại Cần Thơ.
  • Xác lập vai trò quan trọng của chụp cắt lớp vi tính xương thái dương lát cắt mỏng và nội soi chẩn đoán trong việc phát hiện chính xác vị trí và mức độ tổn thương chuỗi xương con trước mổ.
  • Khẳng định hiệu quả phục hồi thính lực và giải phẫu vượt trội của kỹ thuật phẫu thuật nội soi kết hợp trụ gốm sinh học nội địa, giúp thu hẹp chỉ số ABG và nâng cao ngưỡng nghe PTA rõ rệt sau 3 tháng.
  • Cung cấp giải pháp can thiệp xâm lấn tối thiểu, an toàn, có tính tương thích sinh học cao và tiết kiệm chi phí, rất phù hợp để nhân rộng tại các bệnh viện chuyên khoa tuyến tỉnh và tuyến trung ương.
  • Khuyến nghị các cơ sở y tế tiếp tục theo dõi dài hạn trên 12 đến 24 tháng và mở rộng các nghiên cứu đa trung tâm nhằm chuẩn hóa toàn diện kỹ thuật chỉnh hình tai giữa tại Việt Nam.