Nghiên Cứu Đặc Điểm Lâm Sàng và Kết Quả Phẫu Thuật Viêm Tai Giữa Mạn Tính Ổn Định

Tài liệu nghiên cứu Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng cận lâm sàng viêm tai giữa mạn tính ổn định có tổn thương xương đe và, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên

Chuyên ngành

Tai-Mũi-Họng

Tác giả

Trần Trung Kiên

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Chuyên Khoa Cấp II

2020

91
4
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

Trang phụ bìa

Mục lục

Danh mục chữ viết tắt

Danh mục các bảng

Danh mục các biểu

Danh mục các hình

Danh mục các ảnh

1.0. Đặt vấn đề

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Lịch sử nghiên cứu

1.2. Giải phẫu, sinh lý tai giữa

1.3. Triệu chứng viêm tai giữa mạn tính ổn định

1.4. Phẫu thuật tạo hình tai giữa

1.5. Vật liệu sử dụng tạo hình xương con

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

2.2. Phương pháp nghiên cứu

2.2.1. Thiết kế nghiên cứu

2.2.2. Phương pháp chọn mẫu

2.2.3. Nội dung nghiên cứu

2.2.4. Phương pháp thu thập số liệu

2.2.5. Phương pháp hạn chế sai số

2.2.6. Phương pháp xử lý và phân tích số liệu

2.3. Đạo đức trong nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Đặc điểm chung

3.2. Đặc điểm lâm sàng

3.3. Đặc điểm cận lâm sàng

3.5. Đánh giá kết quả phẫu thuật

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. Đặc điểm chung

4.2. Đặc điểm lâm sàng-cận lâm sàng

4.4. Đánh giá kết quả phẫu thuật

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Nghiên Cứu Viêm Tai Giữa Mạn Tính Ổn Định

Viêm tai giữa mạn tính ổn định (VTGMT) là một bệnh lý phổ biến, ảnh hưởng đến khoảng 2-5% dân số toàn cầu. Tình trạng này có thể dẫn đến nhiều biến chứng nghiêm trọng nếu không được điều trị kịp thời. Nghiên cứu này nhằm làm rõ các đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của bệnh nhân mắc VTGMT có tổn thương xương đe, đồng thời đánh giá hiệu quả của phẫu thuật nội soi tạo hình tai giữa.

1.1. Đặc Điểm Lâm Sàng Của Viêm Tai Giữa Mạn Tính

Viêm tai giữa mạn tính ổn định thường có triệu chứng như chảy tai, ù tai và nghe kém. Những triệu chứng này có thể kéo dài và ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân. Việc nhận diện sớm các triệu chứng này là rất quan trọng để có phương pháp điều trị hiệu quả.

1.2. Tầm Quan Trọng Của Nghiên Cứu Trong Điều Trị

Nghiên cứu này không chỉ giúp hiểu rõ hơn về bệnh lý mà còn cung cấp thông tin quý giá cho các bác sĩ trong việc lựa chọn phương pháp điều trị phù hợp. Đặc biệt, việc áp dụng phẫu thuật nội soi tạo hình tai giữa có thể mang lại nhiều lợi ích cho bệnh nhân.

II. Vấn Đề Và Thách Thức Trong Điều Trị Viêm Tai Giữa Mạn Tính

Viêm tai giữa mạn tính ổn định thường gặp nhiều thách thức trong điều trị. Một trong những vấn đề chính là sự khó khăn trong việc chẩn đoán chính xác tình trạng tổn thương xương đe. Điều này có thể dẫn đến việc lựa chọn phương pháp điều trị không hiệu quả, gây ảnh hưởng đến sức khỏe của bệnh nhân.

2.1. Khó Khăn Trong Chẩn Đoán

Việc chẩn đoán chính xác tình trạng viêm tai giữa mạn tính ổn định thường gặp khó khăn do triệu chứng không rõ ràng. Các bác sĩ cần sử dụng các phương pháp cận lâm sàng như CLVT để đánh giá tình trạng tổn thương xương đe.

2.2. Biến Chứng Có Thể Xảy Ra

Nếu không được điều trị kịp thời, viêm tai giữa mạn tính có thể dẫn đến các biến chứng nghiêm trọng như viêm xương chũm hoặc cholesteatoma. Những biến chứng này không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe mà còn có thể gây ra các vấn đề nghiêm trọng về thính lực.

III. Phương Pháp Nghiên Cứu Viêm Tai Giữa Mạn Tính Ổn Định

Nghiên cứu này sử dụng phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang để thu thập dữ liệu từ bệnh nhân mắc viêm tai giữa mạn tính ổn định. Các thông số lâm sàng và cận lâm sàng sẽ được ghi nhận và phân tích để đánh giá hiệu quả của phẫu thuật nội soi tạo hình tai giữa.

3.1. Thiết Kế Nghiên Cứu

Nghiên cứu được thực hiện tại Bệnh viện Tai Mũi Họng Cần Thơ và Bệnh viện Đại học Y Dược Cần Thơ từ năm 2019 đến 2020. Dữ liệu được thu thập từ bệnh nhân có triệu chứng viêm tai giữa mạn tính ổn định.

3.2. Phương Pháp Thu Thập Dữ Liệu

Dữ liệu được thu thập thông qua các bảng hỏi và hồ sơ bệnh án. Các thông số như triệu chứng lâm sàng, kết quả thính lực và hình ảnh CLVT sẽ được ghi nhận để phân tích.

IV. Kết Quả Nghiên Cứu Về Phẫu Thuật Nội Soi Tạo Hình Tai Giữa

Kết quả nghiên cứu cho thấy phẫu thuật nội soi tạo hình tai giữa mang lại hiệu quả cao trong việc cải thiện thính lực cho bệnh nhân mắc viêm tai giữa mạn tính ổn định. Tỷ lệ cải thiện thính lực sau phẫu thuật đạt trên 70%, cho thấy tính khả thi và hiệu quả của phương pháp này.

4.1. Đánh Giá Kết Quả Thính Lực Sau Phẫu Thuật

Sau phẫu thuật, nhiều bệnh nhân cho biết thính lực của họ đã được cải thiện rõ rệt. Kết quả đo thính lực cho thấy tỷ lệ bệnh nhân có thính lực tốt đạt trên 70% sau 3 tháng phẫu thuật.

4.2. Hình Ảnh CLVT Trước Và Sau Phẫu Thuật

Hình ảnh CLVT cho thấy sự cải thiện rõ rệt trong tình trạng tổn thương xương đe sau phẫu thuật. Điều này chứng tỏ rằng phẫu thuật nội soi tạo hình tai giữa không chỉ cải thiện thính lực mà còn khôi phục cấu trúc giải phẫu của tai giữa.

V. Kết Luận Về Nghiên Cứu Viêm Tai Giữa Mạn Tính Ổn Định

Nghiên cứu này đã chỉ ra rằng viêm tai giữa mạn tính ổn định có thể được điều trị hiệu quả bằng phẫu thuật nội soi tạo hình tai giữa. Kết quả cho thấy phương pháp này không chỉ cải thiện thính lực mà còn giảm thiểu các biến chứng có thể xảy ra.

5.1. Tương Lai Của Nghiên Cứu

Nghiên cứu mở ra hướng đi mới trong việc điều trị viêm tai giữa mạn tính ổn định. Cần tiếp tục nghiên cứu để cải thiện các phương pháp điều trị và nâng cao hiệu quả cho bệnh nhân.

5.2. Khuyến Nghị Đối Với Bác Sĩ

Các bác sĩ nên xem xét áp dụng phẫu thuật nội soi tạo hình tai giữa cho bệnh nhân mắc viêm tai giữa mạn tính ổn định. Việc này không chỉ giúp cải thiện thính lực mà còn giảm thiểu nguy cơ biến chứng.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

09/07/2025
Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng cận lâm sàng viêm tai giữa mạn tính ổn định có tổn thương xương đe và đánh giá kết quả phẫu thuật nội soi tạo hình tai giữa tại bệnh viện tai mũi họng cần

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN 1. Lịch sử nghiên cứu bệnh viêm tai giữa mạn tính ổn định 1. Nghiên cứu ngoài nước - Phẫu thuật tạo hình xương con(THXC) được Matte lần đầu tiên thực hiện năm 1901 để nối màng nhĩ và cửa sổ bầu dục trên bệnh nhân gián đoạn xương con. Mãi tới năm 1951, Wullstein lần đầu tiên sử dụng vật liệu Vinyl- acryl để tiến hành tạo hình xương con nối giữa đế đạp và màng nhĩ [31].

- Năm 1957, Hall là người đầu tiên tiến hành tạo hình xương con bằng xương đe tự thân. - Năm 1960, Farrior dùng vỏ xương chũm để làm trụ dẫn. - Năm 1966, House và cộng sự lần đầu tiên dùng xương con đồng chủng để tiến hành tạo hình xương con [35]. - Năm 1976, Shea lần đầu tiên dùng nhựa tổng hợp làm vật liệu tạo hình xương con.

- Năm 1986, Merwin lần đầu tiên dùng thủy tinh sinh học tiến hành tạo hình trụ dẫn. - Năm 1989, Gersdorff nghiên cứu trên 103 bệnh nhân theo dõi hậu phẫu tạo hình xương con bán phần bằng vật liệu vỏ xương đồng chủng trong thời gian hơn 1 năm cho kết quả ABG (Air-bone gap) <20dB là 78% [31]. - Năm 2000, Shinohara tiến hành nghiên cứu tạo hình xương con bằng hydroxy-apatite trên 106 bệnh nhân trong vòng 5 năm cho kết quả tỷ lệ thải ghép 16% [31]. - Năm 2001, Siddiq tiến hành nghiên cứu trên 24 trường hợp tạo hình xương con bằng vật liệu xương con tự thân và đánh giá trong vòng 4 năm cho kết quả ABG<20dB là 71% [31].

Nghiên cứu trong nước - Năm 1981 Lương Sỹ Cần, Lê Sỹ Nhơn, Nguyễn Tấn Phong. Phẫu thuật tạo hình tai giữa [3]. - Năm 2003: Nguyễn Tấn Phong sử dụng xương đồng chủng thay thế xương bàn đạp trong bệnh xốp xơ tai [17]. - Năm 2004: Nguyễn Tấn Phong sử dụng chất liệu gốm sinh học được sản xuất trong nước thay thế xương bàn đạp trong bệnh xốp xơ tai [15].

- Năm 2003, Hoàng Việt Phương bước đầu đánh giá kết quả phẫu thuật chỉnh hình xương con trong viêm tai giữa mạn không có Cholesteatoma tại bệnh viện Tai Mũi Họng Trung Ương [18]. - Năm 2006, Nguyễn Hoàng Nam, Nguyễn Hữu Khôi “Kỹ thuật tạo hình màng nhĩ đặt dưới trong ống tai qua nội soi” Y học Thành phố Hồ Chí Minh [12]. - Năm 2008, tác giả Cao Minh Thành nghiên cứu đặc điểm lâm sàng viêm tai giữa mạn tổn thương xương con và đánh giá kết quả phẫu thuật tạo hình xương con [21]. - Năm 2008, tác giả Lê Hồng Nắng đánh giá kết quả tái tạo xương con bằng chất liệu tự thân tại Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung Ương [13].

- Năm 2010, tác giả Cao Minh Thành, kết quả cải thiện sức nghe sau phẫu thuật tạo hình xương con bán phần bằng gốm sinh học [22]. - Năm 2011 Hoàng Thị Thanh Bình đánh giá hiệu quả thính lực và nhĩ lượng sau phẫu thuật chỉnh hình tai giữa trên bệnh nhân xơ hóa hòm nhĩ [2]. - Năm 2013, Phan Thị Thanh Hoa đánh giá kết quả tái tạo xương con bằng trụ dẫn tự thân trên bệnh nhân viêm tai giữa mạn tính ổn định [8]. - Năm 2016, Khiếu Hữu Thanh, Vũ Trung Kiên, Ngô Thanh Bình đánh giá kết quả tạo hình màng nhĩ bằng màng sụn nắp bình tai tại bệnh viện Đại học Y Thái Bình [20].

5 - Năm 2018, Phan Anh Linh giới thiệu các mẫu trụ gốm sinh học trong chỉnh hình tai giữa [10]. - Năm 2018, Cao Ngọc Hà tác giả Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và đánh giá kết quả phẫu thuật nội soi điều trị viêm tai giữa mạn tính thủng nhĩ có tổn thương xương con tại bệnh viện Tai Mũi Họng Cần Thơ 2017-2018 [6].Giải phẫu sinh lý tai giữa 1. Giải phẫu tai giữa Tai giữa gồm các phần: hòm nhĩ, các bộ phận trong hòm nhĩ vòi nhĩ và hệ thống thông bào xương chũm. Tai giữa có nhiệm vụ dẫn truyền và khuếch đại âm thanh từ màng nhĩ đến tai trong [40].1: giải phẫu tai giữa (Nguồn: Tập tranh giải phẫu tai mũi họng [1]) 6 1.

Giải phẫu hòm nhĩ Hòm nhĩ có cấu trúc như hình hộp chữ nhật nằm trong xương thái dương được phân chia thành thượng nhĩ, trung nhĩ, hạ nhĩ, tiền nhĩ và hậu nhĩ [40]. Hòm nhĩ gồm có 6 thành, bên trong có các bộ phận quan trọng như chuỗi xương con, cơ búa, cơ bàn đạp, các nếp niêm mạc, dây chằng, mạch máu, thần kinh. - Thành trên: là mãnh xương mỏng thuộc phần đá xương thái dương, ngăn cách thượng nhĩ của hòm nhĩ với hố sọ giữa. - Thành dưới: như một cái rãnh sâu 2mm, hẹp có liên quan đến tĩnh mạch cảnh nên còn gọi là thành tĩnh mạch.

- Thành ngoài hay thành màng: ngăn cách hòm nhĩ với tai ngoài là màng nhĩ. + Phần trên là tường thượng nhĩ cao 5-6mm mỏng dần từ trên xuống là đường vào của phẫu thuật mở thượng nhĩ. + Phần dưới là màng nhĩ: hình bầu dục, lõm ở giữa như cái nón chia làm 2 phần, phần trên là màng chùng gắn vào tường thượng nhĩ, phần dưới là màng căng chiếm ¾ diện tích là phần rung động của màng nhĩ. - Thành trong cũng là thành ngoài của vỏ mê đạo xương, ở gần trung tâm thành này có phần lồi ra ngoài gọi là ụ nhô, phía sau trên ụ nhô có cửa sổ bầu dục để đế xương bàn đạp lắp vào, ở sau dưới ụ nhô có cửa sổ tròn để màng nhĩ phụ đậy lại.

Phía sau trên cửa sổ bầu dục là đoạn hòm nhĩ của dây thần kinh VII, vì thế trong những trường hợp viêm tai giữa cấp tính có thể gây chèn ép và tổn thương dây VII gây liệt mặt. - Thành trước là thành động mạch cảnh: có lỗ vòi nhĩ, qua lỗ này có sự lưu thông không khí giữa hòm nhĩ và họng mũi đồng thời cũng là con đường nhiễm trùng từ mũi họng lên tai giữa đặc biệt ở trẻ nhỏ. + Vòi nhĩ có 2 phần: phần xương và phần sụn 7 + Phần xương: Chiếm 1/3 sau, nằm ngay dưới ống cơ búa, thành trong liên quan với động mạch cảnh trong. + Phần sụn: chiếm 2/3 trước, gồm có sụn, cơ, màng.

Phần sụn tạo nên thành trên trong, phần màng tạo nên thành dưới ngoài. - Thành sau: rộng ở phía trên và hẹp ở phía dưới, có lỗ của ống thông hang (sào đạo). Giải phẫu màng nhĩ - Là thành ngoài của hòm nhĩ, có hình bầu dục, lõm ở giữa giống như hình nón, chỗ lõm nhiều nhất gọi là rốn nhĩ, màng nhĩ hơi ngã về phía trước và phía ngoài hợp với thành ống tai một góc 40 - 450[16]. - Kích thước: đo qua rốn nhĩ.

+ Đường kính trên dưới: 9-10mm. + Đường kính ngang: 8-9mm. - Cấu tạo: màng nhĩ gồm 2 phần. + Phần trên là màng mỏng Shrapnell, còn gọi là màng chùng vì không có lớp sợi, chiếm ¼ diện tích màng nhĩ.

+ Phần dưới là màng căng chiếm ¾ diện tích màng nhĩ, gắn vào ống tai ngoài bởi một tổ chức sợi vòng mịn gọi là vòng Gerlach. Cấu trúc màng căng gồm có 3 lớp [40].  Lớp ngoài: là biểu mô liên tiếp với biểu bì ống tai ngoài.  Lớp giữa: là lớp xơ, gắn vào cán búa.

Chính lớp này đảm bảo cho màng nhĩ có độ co giãn cần thiết.  Lớp trong: là lớp niêm mạc, liên tục với niêm mạc hòm nhĩ. - Chức năng: chức năng chính của màng nhĩ là tiếp nhận âm thanh từ tai ngoài, biến rung động âm thanh trong không khí thành rung động cơ học sau đó 8 truyền rung động âm thanh cơ học qua cán xương búa và theo hệ thống xương con chuyển các rung động này đến cửa sổ bầu dục.2: giải phẫu màng nhĩ (Nguồn: Atlas d'anatomie humaine [43]) 1. Giải phẫu hệ thống xương con Gồm 3 xương: xương búa, xương đe, xương bàn đạp.3: hệ thống xương con (Nguồn: Thieme Atlas of Anatomy Head, Neck, and Neuroanatomy[38]) 9 - Xương búa.

+ Đầu: phía sau có diện khớp tiếp xúc với xương đe. + Cổ: cơ căng màng nhĩ bám vào. + Cán: chếch xuống dưới và ra sau, dính vào lớp sợi của màng nhĩ. + Kích thước theo tác giả Trần Trọng Uyên Minh [11].

 Chiều dài xương búa: 7,76 ± 0,35mm.  Chiều dài cán xương búa: 4,62 ± 0,35mm.  Đường kính trước sau cán xương búa: 0,65 ± 0,06mm.  Đường kính trong ngoài cán xương búa: 1,07 ± 0,13mm.

+ Khối lượng: 23,62 ± 2,73mg. - Xương đe: gồm có các thành phần. + Thân xương đe, tiếp khớp với chỏm xương búa. + Ngành trên ngắn, nằm ngang, hướng ra sau.

+ Ngành dưới dài, đứng thẳng, ở đầu có mỏm đậu tiếp khớp với xương bàn đạp. + Kích thước: [11] + Chiều dài: 6. - Xương bàn đạp: gồm có các thành phần. + Đế đạp gắn vào cửa sổ bầu dục.

+ Hai gọng: trước và sau. + Kích thước: [11]  Chiều cao: 3.  Đường kính lớn đế đạp: 2.  Đường kính nhỏ đế đạp: 1.

 Độ dày ở phần giữa đế đạp: 0.  Chiều cao chỏm xương bàn đạp: 0. 10  Đường kính dọc chỏm xương bàn đạp: 0.  Đường kính ngang chỏm xương bàn đạp: 1.

Sinh lý truyền âm tai giữa - Tai người có hai chức năng chính đó là chức năng nghe và chức năng giữ thăng bằng, tham gia vào chức năng nghe là tai ngoài, tai giữa và tai trong, vai trò giữ thăng bằng là nhiệm vụ của soan nang, cầu nang và ống bán khuyên còn gọi là cơ quan tiền đình [19]. - Màng nhĩ-xương con hoạt động như một máy biến đổi năng lương âm thanh từ dạng sóng viba ở môi trường khí thành chuyển động cơ học dẫn truyền vào tai trong. Hệ thống xương con-màng nhĩ hoạt động theo kiểu rung động tắt dần, kéo dài bước sóng với các dãy âm thanh có tần số cao, tăng biên độ dao động của tần số. Vai trò của màng nhĩ trong hệ thống truyền âm - Biến đổi âm thanh từ dạng sóng viba thành chuyển động cơ học truyền tới cửa sổ bầu dục và khếch đại âm thanh theo tỉ lệ 17/1 lần, đảm bảo sự hoạt động lệch pha giữa cửa sổ tròn và cửa sổ bầu dục.

- Màng nhĩ rung động ở tất cả các tần số âm thanh, sự rung động này chuyển trực tiếp vào xương búa, chức năng truyền âm có hiệu quả khi hệ thống xương con còn nguyên vẹn, hoạt động tốt để nối liền rung động của màng nhĩ với dịch tai trong [16]. Vai trò của chuỗi xương con trong hệ thống truyền âm - Hệ thống xương con nối với nhau bởi hai khớp nguyên (khớp búa-đe và khớp đe-đạp) và một khớp nữa là khớp bàn đạp-tiền đình. Các bao khớp được cấu tạo bởi các sợi xơ và sợi chun.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu có tiêu đề Nghiên Cứu Viêm Tai Giữa Mạn Tính Ổn Định và Kết Quả Phẫu Thuật Nội Soi Tạo Hình Tai Giữa cung cấp cái nhìn sâu sắc về tình trạng viêm tai giữa mạn tính và những phương pháp phẫu thuật nội soi hiện đại để điều trị. Nghiên cứu này không chỉ phân tích các triệu chứng và nguyên nhân gây bệnh mà còn đánh giá hiệu quả của các kỹ thuật phẫu thuật trong việc cải thiện tình trạng sức khỏe của bệnh nhân. Đặc biệt, tài liệu nhấn mạnh lợi ích của phẫu thuật nội soi trong việc giảm thiểu đau đớn và thời gian hồi phục cho bệnh nhân, từ đó nâng cao chất lượng cuộc sống.

Để mở rộng thêm kiến thức về các phương pháp điều trị liên quan, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận văn so sánh kết quả điều trị sỏi niệu quản bằng phương pháp nội soi tán sỏi sử dụng năng lượng laser holmium với xung hơi tại thái nguyên. Tài liệu này sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các kỹ thuật nội soi trong y học, từ đó có cái nhìn toàn diện hơn về các phương pháp điều trị hiện đại.