Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. SƠ LƯỢC GIẢI PHẪU ỨNG DỤNG VÀ SINH LÝ BỆNH VIÊM MŨI XOANG 1. Giải phẫu ứng dụng 1. Thành mũi trong hay vách ngăn mũi Phía sau là xương gồm mảnh thẳng xương sàng và xương lá mía, phía trước là sụn gồm sụn vách ngăn mũi và sụn cánh mũi lớn, phía trước dưới là da và phần màng.
Thiết đồ đứng dọc thành trong hốc mũi (Nguồn: Clinical anatomy by regions, 2012 [63]) 4 ❖ Phân loại dị hình vách ngăn ▪ Theo hình dạng của vách ngăn mũi - VVN hình chữ C : vách ngăn bị vẹo đều dạng lồi nghiêng về một bên. - VVN hình chữ S : là sự xuất hiện một chỗ lồi ở phần cao và một chỗ lồi ở phần thấp của phía đối bên. - Gai VNM : là dị hình khu trú tại một điểm và nhô lên giống như gai hoa hồng gọi là gai VNM. - Mào VNM : là mào xương khi có phì đại khớp nối của các phần VNM.
Mào VNM thường ở dọc bờ trên xương lá mía và đi chếch từ dưới lên trên. - VVN phức tạp : kết hợp của các loại trên [2]. Vẹo vách ngăn mũi qua nội soi (Nguồn: Huỳnh Khắc Cường, Cập nhật chẩn đoán và điều trị bệnh lý mũi xoang, 2006 [2]) 5 Hình 1. Vẹo vách ngăn mũi qua CT-Scan (Nguồn: Huỳnh Khắc Cường, Cập nhật chẩn đoán và điều trị bệnh lý mũi xoang, 2006 [2]) ▪ Theo Mladina - Loại 1 : VVN một bên, trong vùng van mũi, không chạm đến van mũi, nó không làm thay đổi góc van sinh lý (15°) và vì vậy có vai trò không đáng kể trong sinh lý bệnh của mũi.
- Loại 2 : VVN một bên, trong vùng van mũi mà chạm đến van mũi, vì vậy đã làm giảm bớt góc van sinh lý (<15°). - Loại 3 : VVN một bên ở sâu hơn trong hốc mũi, ngang với đầu cuốn mũi giữa. - Loại 4 : dị dạng vách ngăn cả hai bên, bao gồm loại 2 ở một bên và loại 3 ở một bên khác. Loại này cũng được biết như VVN hình chữ S.
- Loại 5 : mào vách ngăn nằm trong hốc mũi. Vách ngăn bên kia thì luôn luôn thẳng. - Loại 6 : một bên vách ngăn có một cái rãnh giữa xương khẩu cái và mảnh đứng xương sàng, bên kia vách ngăn có mào. - Loại 7 : kết hợp của những loại trên [58].
Thành mũi ngoài Gồm các cuốn mũi và khe mũi. Cuốn mũi dưới là xương riêng biệt, phủ bởi niêm mạc dày chứa đám rối tĩnh mạch (đám rối hang). Khe mũi dưới được giới hạn bởi cuốn mũi dưới và thành ngoài ổ mũi. Phần trước của khe mũi dưới có lỗ của ống lệ mũi.
Cuốn mũi giữa là một mảnh của xương sàng, có niêm mạc phủ. Giữa cực trước của cuốn mũi giữa và mặt trong mũi là đê mũi (Agger nasi). Phía trong chân bám cuốn mũi giữa là biểu mô khứu giác, phía trên là mảnh ngoài của mảnh sàng và trần các tế bào sàng, nơi động mạch sàng trước vượt qua mảnh ngoài mảnh sàng để vào hố sọ trước cũng là điểm yếu nhất của sàn sọ trước và có nguy cơ thấu vào hố sọ trước, tổn thương động mạch sàng trước tại chỗ yếu này [46], [47]. Thiết đồ đứng dọc thành ngoài hốc mũi (Nguồn: Clinical anatomy by regions, 2012 [63]) Cuốn mũi trên là mảnh xương nhỏ của khối bên xương sàng.
Khe mũi trên là khe hẹp có xoang sàng sau và xoang bướm đổ vào. Cuốn mũi trên cùng khi có khi không, là xương cuốn nhỏ nhất. 75% trường hợp có lỗ đổ của xoang sàng sau. Phía trên sau của cuốn mũi trên cùng 7 có ngách bướm sàng nằm trong góc xương sàng và mặt trước thân xương bướm, tại đây có lỗ đổ xoang bướm [28].
Giải phẫu ứng dụng phẫu thuật nội soi chức năng xoang Mỏm móc Mỏm móc hay mỏm hình liềm (Uncinate process) là một xương nhỏ hình liềm, nằm ở thành ngoài hốc mũi với chiều cong ngược ra sau, cấu tạo gồm phần xương chính và mảnh nền. Mảnh nền mỏm móc tạo nên ranh giới phân chia các tế bào mỏm móc và các tế bào ngách mũi. Mỏm móc che khuất lỗ thông xoang hàm ở phía sau, đây là mốc giải phẫu cơ bản để tìm lỗ thông và đi vào xoang hàm trong phẫu thuật mở ngách giữa. Mỏm móc được chia làm hai phần: phần đứng và phần ngang, bắt đầu từ vùng chân bám của đầu cuốn giữa, đi theo chiều thẳng đứng xuống dưới độ 10- 15 mm rồi đột ngột quặt ngang ra phía sau, bờ trước mỏm móc nằm cách gai mũi trước khoảng 37-38 mm.
Ngay phía sau góc cong (giữa phần đứng và phần ngang) của mỏm móc là lỗ thông xoang hàm, cách gai mũi trước 38-40 mm, không quan sát được bằng ống nội soi mà chí có thể thăm dò bằng một que thăm 90° đầu tù. Hình dạng và kích thước của mỏm móc thay đổi rất nhiều theo từng cá thể và là một yếu tố cần quan tâm. Thông thường, chiều dày của xương mỏm móc nhỏ hơn 1 mm. Do vậy, khi rạch để lấy mỏm móc không nên rạch sâu quá 1mm.
Hơn nữa do xương mỏng, khi dùng que thăm dò ấn vào mỏm móc sẽ thấy cảm giác mềm (khác hẳn với cảm giác chạm vào vùng xương cứng của đường lệ. Mỏm móc có thể có các dạng giải phẫu đặc biệt (quá phát to, quá thông khí hoặc đảo chiều), gây chèn ép làm hẹp đường dẫn lưu của các xoang ở vùng khe bán nguyệt [18], [19]. Phần đứng mỏm móc bám lên phía trên theo ba cách (Type): 8 - Type A (chiếm 70 % các trường hợp): mỏm móc bám trực tiếp vào tế bào Ager Nasi hay xương giấy khiến cho đầu trên rãnh bán nguyệt tạo thành một túi cùng (sulcus terminalis). Trong trường hợp này ngách trán đổ trực tiếp vào khe giữa.
- Type B1: mỏm móc bám vào nền sọ. - Type B2: mỏm móc bám vào cuốn giữa. Các loại hình bám lên phía trên của mỏm móc (Nguồn: Sinus surgery - Endoscopic and microscopic approaches, 2005 [55]) Trường hợp type B1 và B2, ngách trán đổ thẳng vào khe bán nguyệt. Các trường hợp viêm nhiễm hay bất thường giải phẫu của các cấu trúc mỏm móc, bóng sàng, cuốn giữa gây hẹp khe bán nguyệt trong trường hợp này thường tạo điều kiện thuận lợi cho các viêm nhiễm của xoang trán phát triển.
Giải phóng phức hợp lỗ ngách (ostium meatal) trong trường hợp này có thể giải quyết phần lớn các trường hợp viêm nhiễm xoang trán có chỉ định phẫu thuật mà không cần phải mở rộng ngách trán [18], [19]. Bóng sàng Bóng sàng là một mốc định vị trừ khi bệnh nhân đã phẫu thuật trước đó. Lỗ thông tự nhiên của bóng sàng mở vào hốc mũi ở phía sau dưới của bóng sàng, thường bóng sàng liên tục với sàn sọ ở phía trên, trong trường hợp bóng 9 sàng không liên tục với sàn sọ sẽ có một khoảng trống giữa bóng sàng và sàn sọ được gọi là ngách trên bóng. Nếu thành sau của bóng sàng không liên tục với mảnh nền cuốn giữa hình thành một khoảng trông giữa bóng sàng và sàn sọ được gọi là ngách sau bóng với thành sau của ngách này chính là mảnh nền cuốn giữa.
Các tế bào sàng sau được phân chia khỏi các tế bào sàng trước bởi một vách xương nằm trên mặt phẳng đứng ngang nằm ngay sau bóng sàng được gọi là mảnh nền. về phía sau, chân bám cuốn giữa liên tục với mảnh nền này. Số lượng và kích thước của các tế bào sàng trước thay đổi tùy độ thông khí của các tế bào. 8% các trường hợp tế bào sàng trước phát triển về phía trước đến vùng trong bờ sau túi lệ được gọi là các tế bào lệ, khi các tế bào này có kích thước lớn chúng có thể đẩy lồi thành bên mũi ở chỗ đầu cuốn giữa bám vào thành ngoài vách mũi xoang.
Các tế bào đê mũi hiện diện ở phần lớn bệnh nhân nhưng kích thước và vị trí thay đổi. nếu lớn chúng sẽ đẩy ngách trán vào trong và ra sau tới gần cuốn giữa [18], [19]. Rãnh bán nguyệt (còn gọi là rãnh bán nguyệt dưới của Grunwald) Thuật ngữ rãnh bán nguyệt do Zuckercandl đặt ra năm 1880 để chỉ một khe nằm giữa bóng sàng và mỏm móc. Rãnh bán nguyệt có hình trăng khuyết, từ khe giữa đi qua rãnh bán nguyệt sẽ vào một rãnh hình máng chạy dọc từ trên xuống.
Phần trên rãnh này nằm phía trước dưới rãnh bán nguyệt. Phần dưới nằm ở phía sau bên của rãnh bán nguyệt. Rãnh này có hình phễu nên gọi là phễu sàng. Rãnh bán nguyệt có thể coi như cửa vào phễu sàng.
Grunwald còn miêu tả rãnh bán nguyệt thứ hai và đặt tên là rãnh bán nguyệt trên. Rãnh này nằm giữa bóng sàng và chân bám của cuốn giữa khi có các xoang bên nằm ở phía sau và trên bóng sàng. Rãnh này cũng có hình trăng khuyết và nằm hơi lệch về phía sau và trong của bóng sàng. Đi qua rãnh này, có thể vào được xoang sàng sau.
Rãnh này nằm trong bình diện đứng dọc giữa 10 bóng sàng và phần nằm ngang của chân cuốn giữa, tức là đoạn 1/3 sau của chân cuốn - mà đoạn này ôm lấy bóng sàng. Giống như rãnh bán nguyệt dưới, rãnh bán nguyệt trên cũng liên quan rất mật thiết đến bóng sàng [19]. Phễu sàng Là một khe có 3 mặt liên quan nằm ở trên vách mũi xoang và liên quan rất mật thiết đếm nhóm sàng trước. Phễu sàng có 3 thành: + Thành trong là mỏm móc (toàn bộ chiều dài của mỏm móc) và niêm mạc bao phủ.
+ Thành ngoài được cấu tạo chủ yếu bởi xương giấy, ngoài ra còn có sự tham gia của xương trán, xương hàm và đôi khi cả xương lệ. Về phía dưới và phía sau thành ngoài của phễu sàng chỉ được bao phủ bởi niêm mạc và màng xương, nên vùng này được gọi là vùng Fontanell sau. + Thành sau của phễu sàng là mặt trước của bóng sàng. Ngay phía trước của bóng sàng là đường thông từ phễu sàng vào rãnh bán nguyệt.
Trên lát cắt ngang phễu sàng có hình giống một mũi can mà phần rộng ở phía sau, góc nhọn ở phía trước. Rãnh bán nguyệt thông với phễu sàng ở phía sâu trong [19]. Phức hợp lỗ ngách Phức hợp lỗ thông khe là một vùng quan trọng mấu chốt trong bệnh sinh của viêm mũi xoang và biểu hiện đường dẫn lưu và thông khí chung cuối cùng của xoang trán, xoang hàm và các tế bào sàng trước. Các thành phần phức hợp lỗ thông xoang (Nguồn: Sinus surgery - Endoscopic and microscopic approaches, 2005 [55]) Theo David W.
Kennedy và Donal C.