Chương 1 quan tâm. Những đặc tính trội bật của Vũ trung tuỳ bút trong tiến trình phát triển văn học, văn hoá cổ điển Việt Nam sẽ được tác giả luận văn lần lượt trình bày và phân tích. Đời sống văn hóa trung đại trong Vũ trung tùy bút của Phạm Đình Hổ Bức tranh văn hoá với những nét đặc sắc của thời kì phong kiến sẽ được chúng tôi tìm hiểu thông qua các vấn đề về phong tục tập quán, khoa cử, văn hoá đời sống. Với những nội dung văn hoá được tìm hiểu, chúng tôi sẽ xây dựng những cơ sở khẳng định tầm vóc văn hoá của tác phẩm và những đóng góp của nó đối với văn xuôi trung đại nói chung và thể kí trung đại Việt Nam nói riêng.
Một số phương diện nghệ thuật của Vũ trung tùy bút từ góc nhìn văn hóa Để tìm hiểu và xác quyết những nội dung văn hoá trong Vũ trung tuỳ bút, những phương thức, cách thức thể hiện là vấn đề chúng tôi quan tâm và giải quyết ở chương 3 này. Các vấn đề về nghệ thuật biên khảo, kết cấu tự sự và giọng điệu cơ bản góp phần kiến tạo nên những giá trị văn hoá của tác phẩm và tạo nên sự lan toả của các giá trị này đến truyện ngắn trung đại, ký trung đại sẽ được quan tâm làm rõ và khẳng nhận. PHẠM ĐÌNH HỔ VÀ VŨ TRUNG TÙY BÚT TRONG TIẾN TRÌNH VĂN HỌC, VĂN HÓA VIỆT NAM THỜI TRUNG ĐẠI 1. Phạm Đình Hổ - một trí thức tinh hoa của xứ Bắc 1.
Phạm Đình Hổ - nhà văn hoá tiêu biểu ở cuối thế kỉ XVIII – nửa đầu thế kỉ XIX Nhà văn hóa Phạm Đình Hổ sinh năm 1768, mất năm 1839. Ông có tên tự là Tùng Niên, Bỉnh Trực, bút hiệu Đông Dã Tiều và biệt hiệu Chiêu Hổ tiên sinh. Tiên sinh là người làng Đan Loan, huyện Đường An, nay thuộc Nhân Quyền, Bình Giang (Hải Dương). Ông là nhà nghiên cứu văn hóa - xã hội, nhà văn, nhà thơ Việt Nam nổi tiếng cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX.
Phạm Đình Hổ được xem là một dật sĩ có sức ảnh hưởng lớn của giai đoạn biến động nhất của lịch sử Việt Nam thời trung cận đại. Phạm Đình Hổ đã được sinh trưởng và giáo dưỡng trong một gia đình khoa bảng, có cha đỗ cử nhân, làm quan Hiến sát tỉnh Nam Định, thăng Tuần phủ Sơn Tây đời Lê Hiển Tông, niên hiệu Cảnh Hưng. Do đó, ngay từ những ngày ấu thơ, Phạm Tùng Niên đã ôm ấp trong mình một mộng văn chương và nỗi niềm kinh bang tế thế. Vào thời vua Lê Chiêu Thống, vì là con cháu nhà quan, ông được phép vào học tại Quốc Tử Giám và thi đỗ Sinh đồ.
Suốt thời Tây Sơn, vì ốm nặng mối cô trung với triều Lê, ông đã ẩn cư nơi quê nhà, dành nhiều thời gian đi du sơn ngoạn thủy, để mở mang kiến văn, tích lũy tư liệu văn hóa phục vụ cho công tác khảo cứu, nghiên cứu lịch sử và dạy học. Thế kỉ XVIII, XIX là thế kỉ của những biến động dữ dội trên chính trường và đời sống xã hội và văn hóa, văn học. Song, đó cũng là những cơ sở xã hội quan trọng, góp phần hình thành nên những phong cách đa tài, thị tài và tài tử của các nhà Nho – những con người làm nên lịch sử Việt Nam giai đoạn thời bấy giờ. Cũng như Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, Cao Chu Thần…, Phạm Đình Hổ cũng là một con người tài năng, ngạo nghễ, không 20 chịu thua kém và luồn cúi ai.
Sống ở thế kỉ XVIII, Phạm Đình Hổ ít nhiều gạt bỏ cái phong thái siêu quần bạt chúng do ý thức phong kiến viễn tượng về người anh hùng đã tự biểu hiện trước đó, tìm đến một chân dung hào phóng ngạc nhiên và khám phá. Ông không cực đoan đặc chất nghệ sĩ của mình mà ông cho rằng cái uyên bác của nhà văn phải ở phương diện làm chủ kiến thức sách vở nhưng phải có vốn sống trực tiếp. Có thể nhận thấy khi viết Vũ trung tuỳ bút, do bị chi phối bởi tính chất kí thuật, tác giả là người kể chuyện không giấu vai, có xu hướng tách rời, trong tính độc đáo riêng. Người đọc nhận thấy sự khác biệt kì dị có phần đối lập với những đòi hỏi của tập thể.
Tư cách lập thể dửng dưng của nhà văn đặt ra câu hỏi làm thế nào để chiếm đóng được thế giới rộng lớn và nhiều bất trắc của thế kỉ XVIII. Cái bản ngã trong tập tuỳ bút được bộc lộ ở dạng tự hồi ức, tự thuật đáp ứng. Hình tượng nhân vật tôi (Dư, Ngô, Ngã) băn khoăn về sự tự nhận thức của mình, luôn tìm cơ hội tự biện minh, trảibày tư tưởng của mình. Nhân vật bản ngã ấy có thú vui được trò chuyện về mình, thú vui này mang dấu hiệu tự ngưỡng mộ thái quá và biểu lộ những ý tưởng cao siêu về con người mình.
Chân dung một nhà nho nghiêm cẩn có thoáng phiêu dật hiện ra rõ nhất trong thiên “Tự thuật”, từ gốc gác, sở thích đến lí tưởng hành đạo. Nói về gốc gác cao quý của mình, nhà văn không giấu niềm kiêu hãnh với giọng điệu dửng dưng: Ta sinh năm Mậu Tý (1768) niên hiệu Cảnh Hưng. Lúc bấy giờ, đấng tiên đại phu ta làm Hiến sát tỉnh Nam mới về [21, tr. Từ năm 1802, sau khi vua Gia Long lên ngôi, chế độ khoa cử Nho học được phục hồi, ông tiếp tục đi thi nhưng không đỗ.
Đến năm 1821, vì mến tài và được tiến cử, vua Minh Mạng đã bổ nhiệm ông làm Hành tẩu Hàn lâm viện. Xuất sĩ được một thời gian, vì cảm thấy không hợp thời nên ông xin cáo quan về chuyên tâm nghiên cứu viết sách. Nhưng đến năm 1826, vua Minh Mạng lại một lần nữa triệu vời ông vào Huế, bổ nhiệm chức vụ Hàn lâm viện 21 Thừa chỉ, sau thăng lên chức Quốc tử giám Tế tửu, mặc dù khi ấy ông chỉ là một nho sĩ có bằng tú tài.Năm 1832, viện cớ tuổi cao sức yếu, Phạm tiên sinh một lần nữa xin từ quan, về quê. Đến năm 1839, sau bảy năm cáo lão, ông qua đời ở tuổi 72.
Có thể nói, trong quá trình làm quan, bản thân ông dành rất nhiều thời gian cho việc nghiên cứu, biên soạn sách chuyên khảo. Ông để lại cho đời sau nhiều công trình khảo cứu về lịch sử, địa lý, phong tục tập quán, văn hoá xã hội, văn thơ có giá trị lớn. Về sự nghiệp trứ tác của Phạm Đình Hổ, theo ghi nhận của Địa chí tỉnh Hải Dương (tập 3, về Văn học Nghệ thuật) (2001), “các công trình khảo cứu của Phạm Đình Hổ có những giá trị nhất định, đặc biệt là giá trị về mặt tư liệu đối với khoa học lịch sử, ngôn ngữ, triết học”[39, tr. Các nhà biên soạn địa chí đã thống kê như sau: Tác phẩm biên khảo về lịch sử - địa dư gồm có: An Nam chí, Ô Châu lục, Ai Lao sứ trình, Lễ triều hội điển, Tiền lệ Nam Việt bản đồ mô bản, Bang giao điển lễ, Nhật dụng thường đàm, Càn khôn nhất lãm, Cảnh Hưng tân ty sách phong sứ quán thư giản chư tập, An Nam chí, Đại Man quốc địa đồ… Những sáng tác về văn học, khảo cứu phong tục, tộc phảcó: Vũ trung tùy bút, Tang thương ngẫu lục (viết chung với Nguyễn Án), Khánh An Đan Loan Phạm gia thế phổ, Đan Loan Phạm thị chi hệ thế phổ.
Những tác phẩm nghiên cứu về triết học hoặc hiệu đính cổ thư bao gồm:Hy kinh trắc lãi, Dịch quỹ bi áo thượng tập, Đại Nam tổng hội đề lục. Ngoài ra, về sáng tác thơ chữ Hán, ông có các tập như Đông Dã học ngôn thi tập, Tùng cúc liên mai tứ hữu. Có thể nói, là kẻ sĩ xuất thân từ một dòng tộc thi lễ, sinh trưởng trên quê hương giàu truyền thống văn hoá và hành đạo trong một thời đại văn hóa đặc biệt, nhà văn hoá Phạm Đình Hổ đã có nhiều cống hiến cho lịch sử văn hóa Việt Nam trên nhiều phương diện. Trong giai đoạn lịch sử trung cận đại 22 của Việt Nam, hơn bất kì một tác gia nào khác, Phạm Tùng Niên luôn được giới học giả đánh giá cao về những công trình biên khảo, nghiên cứu về văn hóa, phong tục, tập quán và nhất là những so sánh khá cụ thể những tương đồng, dị biệt giữa văn hóa Việt Nam và văn hóa Trung Hoa.
Đặc biệt, qua từng thiên truyện củaVũ Trung tùy bút, Tang thương ngẫu lục(viết chung với Nguyễn Án), những biểu hiện văn hoá được thể hiện qua phong cách văn chương đặc sắc, tiêu biểu của ông. Qua những trang văn thấm đẫm dưỡng chất văn hoá đó, người đọc còn cảm nhận một bút lực đa tài, thể hiện những góc nhìn và phương pháp khảo tả văn hóa đặc sắc. Do vậy, so với bất kì một tác gia văn xuôi nào khác của văn chương cổ điển nửa cuối thế kỉ XVIII nửa đầu XIX, Phạm Đình Hổ vẫn được xếp là một trong những nhà văn hoá tiêu biểu và có những đóng góp nhất định cho lịch sử phát triển thể ký, thể biên khảo và văn xuôi trung đại Việt Nam. Phạm Đình Hổ - nhà Nho mang phong thái tài tử.
Nhìn lại cuộc đời và hành trang của tác giả Vũ trung tuỳ bút, Phạm Đình Hổ xuất thân trong gia tộc quyền quý nhưng không cốt ý để bụng quan tâm, chú ý. Theo Gia phả, lúc năm sáu tuổi, ông đã để chí ở việc lập thân giữ nghiệp nhà. Ông mượn cuộc đối đáp với bà bảo mẫu để đối thoại với người đọc như sau: Bà bảo mẫu họ Hoàng hỏi ta: Về sau có chí muốn làm gì không? Ta nói: Làm người con trai phải lập thân hành đạo, đó là phận sự rồi, không phải nói nữa. Sau này trưởng thành mà được lấy văn thơ nổi tiếng ở đời để cho người ta biết là con cháu nhà nọ, nhà kia, chí tôi chỉ muốn thế thôi.4] Với tâm niệm muốn làm bậc thức giả phải có đức hạnh ở đời, anh hoa phát tiết ra ngoài, ở trong có chứa nhiều hoà thuận.
Cho nên, người có đức tất biết cách ăn nói, người có hạnh, tất có học. Nhân vật tôi cũng vậy, muốn lưu danh muôn thuở thì phải biết phụng thờ cha mẹ, lúc nhỏ quen lối cử nghiệp, 23 lớn lên “thấm thoát hơn hai mươi năm trời mà lời dạy bảo của cha mẹ vẫn văng vẳng bên tai”. Phạm Đình Hổ hiện diện như một nhà nho chân chính cứng cỏi.