mở đầu của đề tài chiến tranh của điện ảnh Việt Nam. Trong giai đoạn nay, nhân vật người phụ nữ cũng được khai thác nhưng không nhiều. Dầu vậy, vẫn có những nhân vật nữ đã đi vào lịch sử điện ảnh nước nhà như My trong Vo Chong A Phu (Sản xuat nim 1961 - Dao dién Mai Lộc); Bé Nga trong Con Chim Vanh Khuyén (San xuất năm 1962 - Dao diễn Nguyễn Văn Thông, Trần Vũ), Chị Tu Hậu trong phim Chi Tw Hậu (Sản xuất 1962 - Đạo diễn Phạm Ky Nam, Trần 16 Thiện Liêm) va Diu trong Vi Tuyến 17 Ngày Và Đêm (Sản xuất 1972 - Đạo dién NSND Hải Ninh) là những nhân vật nữ có những xuất thân, hoàn cảnh sống khác nhau nhưng họ đều có chung một tình yêu quê hương và sẵn sàng chiến đấu, hy sinh bản thân dé giành lại độc lập cho đất nước. Một số nhân vật nữ chính của các phim tiêu biểu trong giai đoạn này đã phần nào giúp người xem hình dung cuộc sống, con người và giai đoạn lịch sử qua từng thời kỳ.
Vai My của NSƯT Đức Hoàn là một cô gái dân tộc Mông bị bắt về làm vợ thống lí Pá Tra, chứng kiến A Phủ bị hành hạ tàn nhẫn, cô đã cắt dây trói thả A Phủ đi, không ngờ đây cũng chính là một cuộc giải thoát mà cô đang cần. Đây cũng chính là câu chuyện có thật mà nhà văn Tô Hoài đã đưa vào tác pham Vo Chồng A Phú của mình. Nhà văn cũng công nhận các tình tiết của phim gần như giữ nguyên toàn bộ câu chuyện trong phiên bản văn học. Sự bứt phá thoát ra khỏi sợi dây trói hữu hình và cả vô hình của My chính là một cuộc cách mạng không chỉ của bản thân cô mà còn của cả những người phụ nữ giai đoạn đó.
Việc bước ra khỏi ngôi nhà của một gia đình quyền lực, giàu có với đầy những kẻ canh gác sẵn sàng ra tay đánh đập, hành hạ thăng tay theo lệnh giai cấp thống trị cũng như bước ra khỏi những định kiến xã hội không phải chỉ cần sự can đảm đơn thuần, bước di của My lúc đó chính là dan thân vào một cuộc phiêu lưu đầy nguy hiểm mà cái giá phải trả đôi khi là cả tính mạng. Nhưng “ở lại thì trước sau gì cũng chết”, không chết cái xác thân thì cũng chết cái tâm hồn, nên My đã quyết định lao vào cái chết dé tìm đường sống. Đó cũng là phâm chat của những con người dan thân vào con đường cách mạng — quyết tử cho tổ quốc quyết sinh — như vậy câu chuyện của My đã được ké không khác gì câu chuyện của một cuộc chiến ý thức hệ. Bộ phim đã được trao giải thưởng Bông Sen Bạc trong Liên hoan phim Việt Nam lần thứ 2 năm 1973.
17 Con Chim Vành Khuyên là câu chuyện về hai cha con làm công việc đưa đò dé giúp bộ đội qua sông và che giấu cán bộ, chiến sĩ, chính vi vậy hai cho con bị kẻ thù rình rap và một ngày, bon chúng quyết định uy hiếp hai cha con dé lừa đánh úp các chiến sĩ cách mạng. Bé Nga trong phim tuy chỉ là một cô bé nhưng đã sớm ý thức được tình yêu quê hương, đất nước, có lẽ một phần vì lớn lên trong một gia đình đơn thân mà cha cô lại chọn công việc gắn bó với cách mạng nên kết cục bé Nga chọn việc hy sinh bản thân cũng gần như là tất yếu. Hình ảnh đẹp nhất phim, là trong cơn thoi thóp sau cùng, bé Nga đã cố gắng thả con chim vành khuyên về với bầu trời, nơi con chim có thé tự do sai cánh đến bat cứ đâu mình thích và thoải mái cất cao tiếng hót, như khao khát của chính một em bé 13 tuổi. NSUT Tố Uyên thời điểm vào vai bé Nga cũng chi là một bé gái 13 tuổi nhưng ngoài nét hồn nhiên, ngây thơ, cô cũng đã lột tả được những nét tính cách của một cô bé sớm trưởng thành trong suy nghĩ, trong ý thức, những phẩm chất mà chỉ những người tham gia trong công cuộc đấu tranh giành độc lập mới có được, đó là sự hy sinh bản thân dé bảo vệ người khác, bảo vệ cách mạng, bảo vệ niềm tin và lý tưởng của mình.
Tiếng thét gọi cha xé lòng của bé Nga trước khi chết cũng hoà vào tiếng hót của con chim vành khuyên trên bầu trời lúc cuối phim, vẫn mãi ở lại trong ký ức của khán giả, khiến người ta không thể quên những mat mát, đau thương mà chiến tranh đã gieo rắc cho con người, kế cả tước đi sinh mang của một đứa trẻ còn chưa kip lớn. Con Chim Vành Khuyên đã nhận được Giải Đặc biệt của Ban Giám khảo Phim ngắn của Liên hoan Phim quốc tế Carlovy Vary (Tiệp Khắc) vào tháng 7/1962. Ngoài ra, phim còn đạt giải Bông sen Vàng, đồng thời với Giải thưởng nhân kỉ niệm 20 năm Điện ảnh cách mạng Việt Nam (1953 - 1973) công bồ tại Liên hoan Phim Việt Nam lần thứ II (1973). Chị Tư Hậu là một nhân vật có thật mà nhà văn Bùi Đức Ái đã gặp và đưa vào tác phẩm văn học Mét Chuyện Chép Ở Bệnh Viện của mình vào năm 1958.
18 Câu chuyện kê về một người phụ nữ làm nghề bà đỡ, có chồng là Việt Minh, trong một trận càn, chị bị một tên sĩ quan cưỡng hiếp dẫn đến mang thai. Sau sự cô đó, chi lao ra biển tự tử nhưng tiếng khóc của đứa con đã thức tỉnh bản năng làm mẹ trong chị. Chồng chị trở về trừng trị tên sĩ quan, thông cảm cho chị, nhưng rồi sau đó anh lại ra chiến trường và hy sinh. Chị nén đau thương, tham gia vào du kích và quyết san phẳng đồn giặc trả thù cho chồng mình.
NSND Trà Giang được cả giới phê bình và đại đa số khán giả đánh giá là đã rất xuất sắc khi thể hiện nhân vật Chị Tư Hậu — người phụ nữ đũng cảm, kiên trung, can trường và vô cùng mạnh mẽ. Đôi mắt đen lay láy và sâu thăm thăm của NSND Trà Giang đã chuyên tải hết những nỗi niềm của chị Tư Hậu, người liên tục trải qua những biến cố lớn trong cuộc đời nhưng vẫn không đầu hàng số phận. Người ta cần rất nhiều dũng cảm dé chọn cái chết, nhưng để sống tiếp, người ta còn cần dũng cảm hơn gấp nhiều lần, huống hồ ở đây là một người phụ nữ mỏng manh, nên cái dũng cảm trong chị, có lẽ còn lớn hơn điều mà người ta có thé ké bằng văn chương hay hình ảnh. Đạo diễn Phạm Kỳ Nam cho biết ông đã chọn NSND Trà Giang, một nữ diễn viên chưa có tên tuổi gì ở thời điểm Ấy, vào vai Chị Tư Hậu vì “Đôi mắt ay to, sáng, dep, lai như có lửa cháy trong đó và ánh nhìn khiến người ta tin cậy.
Khuôn mặt hay hình thé có thé hóa trang cho già dặn hơn nhưng đôi mat thì không. Mà đôi mắt có than lại là yêu tố vô cùng quan trọng đối với nghề diễn.” Và sự lựa chọn của ông đã mang về giải Bông Sen Vàng trong nước, đã nhận được Huy chương Bạc tại LHP Quốc tế Matxcơva (1963). Giai đoạn nay còn một thành tựu lớn của điện ảnh Việt Nam nữa là Vĩ Tuyến 17 Ngày Và Đêm. Phim hấp dẫn không chỉ ở câu chuyện về những đối đầu và những lựa chọn khắc nghiệt của người dân hai bờ sông Bến Hải khi đất nước bị chia cắt, mà còn ở cách thức dàn dựng bộ phim với những cảnh được quay ngay tại vùng giới tuyến đầy nguy hiểm, nhưng đó lại chính là nơi các nghệ sĩ ở 19 gần nhất với các “nguyên mẫu” trong phim.
Dịu (Trà Giang) có chồng đi tập kết ra Bắc, ở nhà, chị vừa phải lo chăm sóc gia đình chuẩn bị cho ngày sinh con, vừa đảm nhiệm công tác bí mật lãnh đạo nhân dân trong vùng chống sự đàn áp khủng bố đã man của địch. Những bắt bớ, giam cầm, tra tan của địch cùng những dụ dỗ ngon ngọt của tên ác ôn Trần Sùng (Lâm Tới) không khiến Dịu và bà con lùi bước. Cuộc sống ngày và đêm ở vĩ tuyến 17 day bi trang và hào hùng. Hai nghệ sĩ nổi tiếng của điện ảnh Việt Nam - Trà Giang và Lâm Tới — đã có những vai diễn xuất sắc trong tác phẩm điện ảnh Việt Nam có quy mô lớn nhất cho tới khi đó.
Với vai Dịu, Trà Giang đã nhận được giải thưởng Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất tại LHP Quốc tế Moskva năm 1973. Gần 40 năm đã qua, Vĩ tuyến 17 ngày và đêm vẫn làm rung động trái tim người yêu điện ảnh không chỉ ở Việt Nam ma còn ở nhiêu nước trên thê giới. Thời gian này, trong miền Nam, hàng loạt phim điện ảnh cũng ra đời và cũng có nhiều phim có doanh thu rất cao, gấp 6 lần kinh phí sản xuất như phim Chân Trời Tím của Đạo diễn Lê Hoàng Hoa sản xuất năm 1969. Phim chủ yếu mang tính thương mại với các đề tài xoay quanh lĩnh vực giải trí là chủ yêu như hài, hành động, tình cam, tâm lý xã hội, kinh di,.
đã làm nên tên tuổi của không ít diễn viên nữ như Kim Cương, Tham Thuy Hang, Kiều Chinh, Thanh Nga. Sự kiện 30 tháng 04 năm 1975 đã đánh dau kết cho điện ảnh miền Nam giai đoạn nảy, mặc cho nhiêu phim đã sản xuât xong mà chưa kip công chiêu. Giai đoạn 1975 — 1985: Thống nhất đất nước — manh nha yếu tô déi mới: Sau 1975, đất nước thống nhất kéo theo hàng loạt những thay đổi trong tất cả lĩnh vực của đời sống và điện ảnh cũng không là ngoại lệ. Trong giai đoạn này có đến 149 bộ phim truyện ra đời với sự kết hợp của đội ngũ sản xuất và diễn viên cả hai miên Nam, Bắc.
Ngoài chiên tranh, đê tài đô thị miễn Nam cũng thu 20 hút thị hiếu khán giả không kém. Có rất nhiều bộ phim đạt được thành công rực rỡ cả về doanh thu và giải thưởng, không chỉ trong nước mà còn cả quốc tế như Cánh Đông Hoang, Bao Giờ Cho Đến Tháng Mười, Chị Dậu, Làng Vũ Đại Ngày Ay, Me Vang Nhà. Bộ phim 8 tập Ván Bai Lat Ngửa của dao diễn Lê Hoàng Hoa cũng lam mua làm gió thị trường điện ảnh những năm 1982 — 1983 và cho đến bây giờ người ta vẫn không quên bộ phim đã làm nên tên tuổi của tài tử Nguyễn Chánh Tín. Nhân vật nữ trong các phim kinh điển giai đoạn này cũng là những người mẹ, người vợ, nhưng vải người trong số họ còn là chiến sĩ, trên vai của tất cả họ còn áp lực của cuộc chiến chưa qua.