Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chơng: Chong 1: Ban sắc đô thị và phim: Những nét khái quát Chơng 2: Sài Gòn, "nỗi hoài nhớ" và góc nhìn của ngời phơng Tây Chơng 3: Thành phố Hồ Chí Minh, những góc đối lập và điểm nhìn của ngời bên trong Chơng 1: Bản sắc đô thị và phim: Những nét khái quát 1.1 Bản sắc đô thị và phim: khái niệm và mối liên hệ 1.1 Khái niệm bản sắc Bản sắc/ căn tính (identity) là sự mô tả hay nói cách khác là khái niệm nói đến sự tổn tại và sự sở hữu/ thuộc về. Bản sắc luôn gắn liền với tính chủ thể vì thế nó chứa trong mình phạm trò của cái khác biệt. Nhng nếu tính chủ thể gắn với câu hỏi“con ngời là gì” thì khi khám phá bản sắc/căn tính câu hỏi đặt ra sẽ phải là “chúng ta nhìn nhận bản thân nh thế nào và những ngời khác nhìn nhận bản thân chúng ta nh thế nào?” Điều đó có nghĩa là bản sắc là một bản chất, có thê đợc biểu đạt qua những kí hiệu về thị hiếu, niềm tin, thái độ và phong cách sống. Bản sắc vừa mang tính cá nhân vừa mang tính xã hội, vì thế nó có thể chứa cả điểm chung với những cá thê /đối tợng khác vừa có điểm khác biệt.
Bản sắc vừa mang tính cố định vừa có sự biến đổi vì thế bản sắc có thể đợc nhìn từ hai góc độ bản thể luận và kiến tạo luận. Từ góc độ bản thể luận, bản sắc “tồn tại nh một hạt nhân về cái tôi mang tính phố quát và mãi mãi” [1; tr. Khi đó bản sắc gắn với khái niệm bản chất. Vì thế, trong một số trờng hợp ngời ta nói đến bản chất cố định của các phạm trù nữ tính, nam tính, ngời Châu Á, hay trẻ em vị thành niên và mọi phạm trò xã hội khác.
Từ góc độ kiến tạo luận, những nhà nghiên cứu nh Giddens cho rằng bản sắc không phải là một tập hợp những tính trạng mà chúng ta sở hữu. Bản sắc không phải là một cái gì đó mà chúng ta có, cũng không phải là một thực thé hay một vật mà chúng ta có thé chỉ ra.[dan theo 1, 300] Thay vào đó bản sắc là một phơng thức t duy về bản thân chúng ta. Điều chúng ta t duy về bản thân mình có thể hoàn toàn thay đổi theo hoàn cảnh, thời gian và không gian. Do đó Giddens đã miêu tả bản sắc nh một “công cuộc”.
Hay nói cách khác bản sắc là một quá trình, quá trình đó đa chiều và biến đổi thờng xuyên do những tơng tác của cá nhân với cá nhân, giữa các nhóm, những va chạm xã hội và tơng tác giữa các cộng đồng. Vậy bản sắc đợc hình thành theo cơ chế nào? Bản sắc trớc hết liên quan đặc biệt tới tiến trình thời gian, phụ thuộc vào không gian và thời gian. Khái niệm bản sắc chứa đựng quan niệm về sự tiếp diễn và biến đổi mà không tạo nên sự xung đột bởi nó luôn đặt trong mối quan hệ giữa “cái tôi” và “kẻ khác”, sự tơng tác của các yếu tố chủ quan và khách quan. Các yếu tố khách quan đợc miêu tả nh là những đặc tính đợc tất cả mọi thành viên thuộc đơn vị bản sắc thuộc xã hội chia sẻ chẳng hạn nh biểu tợng, huyền thoại, ngôn ngữ, tôn giáo, tộc ngời, địa lý, lối sống, lịch sử chung, giá trị, truyền thống.
Yếu tố chủ quan của bản sắc xã hội đợc hiểu là những dấu hiệu có liên quan đến phạm vi mà quá trình chủ quan hóa của đối tợng khách quan thu đợc. Sự tri nhận của ý thức chủ thể đóng vai trò quan trọng đối với quá trình kiến tạo bán sắc đân tộc. Thứ hai, bản sắc xã hội và văn hóa có thể đợc nhóm thành hai phạm trò: những bản sắc “đợc thừa nhận” và những bản sắc “thu đợc”. Gia đình, nhóm tộc ngời, xã hội, cộng đồng, dân tộc và nền văn minh là những bản sắc đợc “thừa nhận” và đợc tạo ra bên trong quá trình xã hội hóa.
Bản sắc đợc lựa chọn bởi ý định tự do của cá nhân là những bản sắc “thu đợc”. Cái đợc “thừa nhận” và cái “thu đợc” luôn trong quá trình tơng tác phức tạp, có khi tròng khít nhau có khi có độ chênh nhất định. Vì thế khảo sát bản sắc/căn tính của một đối tong can dat trong bối cảnh rộng và bối cảnh hep, su chi phối và quy định của những yếu tố đợc coi là cố định, nền tảng và tính chủ quan, khác biệt và biến đối của chủ thể tiếp nhận, của ý thức cá nhân. Liên quan đến ý thức cá nhân, các nhà nghiên cứ nh Smith hay Ericson nhan mạnh đến các yếu tố: giới, phạm trò lãnh thô (vùng, dia phong), tang lớp xã hội và bản sắc tôn giáo-tộc ngời.
Sự tơng tác tổng hợp của các yếu tô đó trong một cái nhìn của bối cảnh văn hoá xã hội, lịch sử, địa văn hoá sẽ cần đợc đề cập đến khi nghiên cứu về bản sắc [dẫn theo 1, 298].2 Đô thị, bản sắc đô thị và phim Đô thị theo quan niệm của những nhà nghiên cứu về đô thị học nh Mumford hay Radkowski, Chabot trớc khi trở thành nơi c trú, đó là nơi gặp gỡ của con ngời bơi đó là không gian có chợ và điểm hành hơng. Đó là nơi thiêng mà các nhóm du mục trở về theo định kỳ để thực hiện nghỉ thức cúng tế. Nh vậy đô thị có chức năng cúng tế. Bên cạnh đó, đô thị còn có chức năng giao tiếp, chức năng phòng thủ (chứa các vòng thành).
Nếu nhìn từ ba yếu tố địa hình, địa thế và địa lợi, hình thái và chức năng của đô thị còn đợc đợc mở rộng hơn nữa. Địa hình liên quan đến phạm vi lãnh thổ và diện mạo kiến trúc, địa thế liên quan đến sự so sánh các hoạt động nông nghiệp và phi nông nghiệp, địa lợi liên quan đến chức năng thuần kinh tế của đô thị (thơng mại, thủ công). Nhìn một cách tổng thể, đô thi đợc khai sinh từ môi trờng thơng mại, đến thế ki XIX mới trở thành môi trong ky thuật và nhân văn. Do đó, đô thị, theo hình dung của P.
George đợc nhóm thành năm nhóm, tơng ứng với các thế hệ đô thị. Nhóm thứ nhất là đô thị có dạng chợ nhỏ, kèm theo là trung tâm phòng thủ, hành chính và tôn giáo. Đô thị xuất hiện chủ yếu ở các địa điểm thuận tiện đề trao đổi thực phẩm hiếm hoặc trong các vòng thành. Nhóm thứ hai là các đô thị thơng mại ở các thời kỳ khác nhau.
Việc buôn bán phát triển ở thời cô đại, trung đại trớc khi xuất hiện nền kinh tế công nghiệp và tiền T bản chủ nghĩa (chủ yếu ở Châu Âu và Địa Trung Hải trớc thế ki XIX) đã đa đến sự ra đời của nhóm - thế hệ đô thị thứ hai này. Nhóm thứ ba là các đô thị thơng mại và công nghiệp, ra đời từ cuộc cách mạng công nghiệp và t bản chủ nghĩa. Đó chính là các đô thị thủ phủ công nghiệp ở Châu Âu và Bắc Mĩ. Nhóm thứ t là các đô thị thuộc địa, gồm những đô thị hình thành còng với quá trình bành trớc của cá nớc Đề quốc T bản Chủ nghĩa Tây Âu trong thế kỉ XIX.
Nhóm cuối cùng là đô thị Xã hội chủ nghĩa, với hình thái ban đầu là nơi tổ chức sản xuất, phân phối và trang bị xã hội, trong đó các chức năng hành chính và công nghiệp vọt trộ hơn so với chức năng lu chuyên hàng hoá và phân phối sản phẩm. 11 Cách phân chia và định nghĩa này của George vẫn còn gây ra những tranh cãi bởi khi đa ra hệ thống phân loại đô thị thuộc địa và xã hội chủ nghĩa ông vẫn chịu ảnh hong cua t tởng phân cực của thời kỳ chủ nghĩa dé quốc và chiến tranh lạnh. Nhng nhìn chung, từ quan điểm của các nhà nghiên cứu về đô thị nh thé, cé thé thay, đô thị mang trong nó tính đa trung tâm và đa chức năng. Vậy hình dung bản sắc đô thị trong cả tính cố định lẫn sự biến đồi, từ cả góc nhìn bản chất luận và kiến tạo luận nh thế nào? Điều đó xuất phát từ việc soi chiếu những đặc điểm của đô thị từ góc nhìn văn hoá.
Thành phố/ đô thị trớc hết là một không gian thực, một địa điểm. Trong các nghiên cứu về xã hội học của các nhà nghiên cứu phơng Tây về thành phố, chăng hạn nh Durkheim, Marx và Weber thành phố gắn liền với những đặc điểm mang tính đối lập cố hữu. Durkheim hy vọng rằng đời sống thành thị sẽ là một không gian có tính sáng tạo, tiễn bộ và trật tự đạo đức mới. Tuy nhiên, ông cũng lo sợ rằng đó sẽ là đặc điểm của sự suy đổi đạo đức và tình trạng vô tô chức.
Với Weber, đời sống thành thị là cái nôi của chế độ dân chủ công nghiệp hiện đại trong khi nó cũng sinh ra lý trí công cụ và “chiếc lồng sắt” của sự tổ chức quan liêu. Marx nhìn nhận thành phố nh một dấu hiệu của sự tiến bộ và bớc nhảy vĩ đại về năng suất mà chủ nghĩa t bản mang lại. Tuy thế, ông cũng quan sát thấy rằng đời sống thành thị là một địa điểm của sự nghèo khổ, thờ ơ và những khu nhà ỗ chuột. Simmel cho rằng, thành phố là cái nôi của mỹ học chủ nghĩa hiện đại và sự trốn chạy của truyền thống.
Nh vay, dv nhìn từ góc độ nào, thành phố về cơ bản vẫn luôn là không gian hàm chứa trong nó sự đối lập và là mảng ghép của những trạng thái đối lập. Đây là đặc điểm sẽ đợc chúng tôi khai thác ở cả hai bộ phim đợc khảo sát trong luận văn này và lí giải nó gắn với bản sắc đô thị Sài Gòn/Thành phố Hồ Chí Minh ở từng thời kỳ lịch sử. Đặc điểm đối lập của đô thị sẽ đợc lí giải sâu hơn khi thành phố đợc nhìn nhận nh một văn bản với những kí hiệu văn hoá hay nói cách khác đó 12 là một văn bản văn hoá, một thực thể văn hoá. Nh Rob Shields đã từng nhận định “Khái niệm /hành phố, bản thân thành phố là một sự thê hiện.
Nó là nớc sơn bóng trên một môi trờng mà đợc định rõ bởi sự tán thành, chỉ dựa vào khẳng định của điều hiển nhiên rằng một môi trờng cụ thể là một thành phố” [1; tr. Khi thành phố là một “sự thể hiện”, chắc chắn nó sẽ có liên quan đến phạm trò “những cái có thật” hay sự thật.