chương 1 sẽ tìm hiểu một số vấn dé lý luận cơ bản về tương trợ tư pháp, ủy thác tư pháp trong lĩnh vực dân sự nhằm nghiên cứu các vấn đề cơ sở lý luận tạo tiền để cho việc xây dựng và thực thi các quy định của pháp luật về vấn dé này. Khái niệm tương trợ tư pháp, ủy thác tư pháp trong lĩnh vực dân sự Đề hiểu rõ về khái niệm ủy thác tư pháp, trước hết cần nắm được tổng quan các hoạt động hợp tác tư pháp, tương trợ tư pháp giữa các quốc gia trong quan hệ quốc tế. Hoạt động hợp tác quốc tế về tư pháp là một quan hệ quan trọng giữa các quốc gia, bên cạnh các quan hệ hợp tác về chính trị, an ninh quốc phòng, nhằm dam bảo tao thuận lợi cho sự phát triển, hợp tác quốc tế về tư pháp đóng vai trò một mặt tạo khung pháp lý dé thực thi các quan hệ pháp luật phát sinh giữa công dân pháp nhân của các quốc gia, mặt khác khuyến khích, thúc đây các giao dịch dân sự, kinh doanh thương mại, đảm bảo an ninh chính trị trong quan hệ quốc tế. Đối với việc giải quyết các vụ việc đân sự có YTNN tại các cơ quan tư pháp, hoạt động TTTP giữ một vai trò không thể xem nhẹ.
Đề đạt được sự phối hợp hiệu quả, các cơ quan tư pháp câần tiến hành hoạt động ủy thác tư pháp. Ủy thác tư pháp là hình thức chủ yếu của hoạt động tương trợ tư pháp. Bên cạnh đó, nội dung của 10 hoạt động này còn bao gồm các hoạt động nghiên cứu, đào tạo chuyên gia, trao đổi thông tin, hỗ trợ xây dựng pháp luật. Như vậy UTTP là “.
yêu cầu bằng văn bản của cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam hoặc cơ quan có thầm quyền của nước ngoài về việc thực hiện một hoặc một số hoạt động TTTP theo quy định của pháp luật nước có liên quan hoặc DUOT mà Việt Nam là thành viên ”. Theo quy định của pháp luật hiện hành, tương trợ tư pháp bao gồm hai lĩnh vực chính là TTTP về hình sự va dân sự. Đối với dân sự, hoạt động UTTP gồm: tống đạt; triệu tập những người liên quan như người làm chứng, người giám định và cung cấp tài liệu liên quan, .giữa các cơ quan tư pháp tại các quốc gia với nhau. Khái niệm TTTP là sự hỗ trợ lẫn nhau giữa các cơ quan có thâm quyển của các quốc gia nhằm thực hiện các hành vi tố tụng tư pháp riêng biệt theo những trình tự, thủ tục, thể thức nhất định nhằm thi hành pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ich hợp pháp của những đối tượng liên quan trên lãnh thé của nhau, thúc day phát triển quan hệ hợp tác quốc tế).
Tại Điều 6, Luật TTTP 2007 thì TTTP được quy định như sau “777P được thực hiện trên cơ sở yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam hoặc cơ quan có thẩm quyên của nước ngoài thông qua UTTP”. Do đó, việc nghiên cứu các vấn dé về ủy thác tư pháp cần đặt trong bối cảnh tông thé các van dé tương trợ tư pháp và hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tư pháp. Theo các Hiệp định tương trợ tư pháp giữa Việt Nam và các nước lĩnh vực “dan sự” được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm tất cả các van dé dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại va lao động (Điều 1 HD Việt Nam-Cam-pu- chia 2014; Điều 1 HD Việt Nam - Hungari 2018). Tuy nhiên, trong các Công ước của Hội nghị La Hay về Tư pháp quốc tế lại không đưa ra định nghĩa thế nào là “dân sự hoặc thương mại ” cũng như có nhiều giải thích về khái niệm “đân sự hoặc thương mai” giữa các thành viên.
Cụ thể, các nước thuộc hệ thống thông luật thì có xu hướng giải thích khái niệm này khá rộng, bao gồm tất cả các vấn dé không liên quan đến hình sự, tố tụng hình sự. Trong khi đó, các nước thuộc hệ thống dân 3 “Pháp luật tương trợ tư pháp quốc tế” - Tài liệu tham khảo xây dựng dự án Luật Tương trợ tư pháp - Vụ Pháp luật Quôc tê - Bộ Tư pháp, Nxb. 11 luật lại thiên về giải thích theo hướng hẹp hơn và phân biệt theo hướng luật công và luật tr’. Ủy ban đặc biệt của Hội nghị La Hay về Tư pháp quốc tế cũng đã có hướng dẫn giải thích khái niệm “ddan sự hoặc thương mai” tại phiên họp năm 2014 theo đó: “Khái niệm dan sự hoặc thương mại nên được giải thích theo hướng độc lập, không dựa trên pháp luật nước yêu cầu hoặc pháp luật nước được yêu cầu.
Khái niệm này cũng cần được giải thích theo phạm vi rộng. ” bởi lẽ Công ước không có quy định nào làm rõ những trường hợp cụ thê được coi là không thuộc phạm vi dân sự hoặc thương mại. Ví dụ khi xác định phạm vi “ddan sự hoặc thương mai” của yêu cầu thu thập chứng cứ thì cần căn cứ vào ban chất quan hệ pháp luật phát sinh vụ kiện hơn là căn cứ vào chủ thể đưa ra yêu cầu thu thập chứng cứ (cơ quan tư pháp/tòa án cụ thể đưa ra yêu cầu). Từ những điểm không thống nhất nêu trên, có chăng yêu câu cấp thiết về việc đồng bộ cách giải thích về “đân sự hoặc thương mai” đang được đề cập tại các Công ước quy định về việc TTCC hay tống đạt giấy tờ cần được đặt ra? Hiện nay, theo quan điểm nhiều nước thành viên Công ước La Hay cho rằng quan hệ pháp luật được coi là có tính chất dân sự hoặc thương mại bao gồm các lĩnh vực sau: phá sản hoặc giải thể doanh nghiệp; bảo hiểm: hợp đồng lao động: bảo vệ người tiêu dùng: hôn nhân và gia đình, hộ tịch; cạnh tranh; sở hữu trí tuệ.
Tuy nhiên, có một số trường hợp liên quan đến cạnh tranh: hạn chế cạnh tranh và cạnh tranh không lành mạnh đang được phân loại khác nhau, theo đó có nước cho rằng các vụ việc hạn chế cạnh tranh không thuộc phạm vi dân sự hoặc thương mại. Đối với các quan hệ pháp luật về thuế, hải quan, an sinh xã hội, chứng khoán, thì tồn tại hai quan điểm khác nhau giữa các nước thành viên Công ước; theo đó, một loại quan điểm thì cho rằng các quan hệ pháp luật nêu trên thuộc phạm vi lĩnh vực dân sự thương mại, được diéu chỉnh bởi các Công ước, ngược lại, loại quan điểm còn lại thì cho rằng không phải là quan hệ pháp luật “dan sự hoặc thương mại”. Về vẫn đề này, Ban Thư ký Hội nghị quốc tế La Hay cho rằng các nước thành viên của Công ước nên “cô găng áp đụng Công ước đên mức cao 486 tay hướng dẫn thực thi Công ước thu thập chứng cử, Hội nghị La Hay về Tư pháp quốc tế, năm 2016, trang 49 12 nhất có thé dé giải quyết”. Trong trường hợp nước thành viên được yêu câu thu thập chứng cứ cho rằng các quan hệ pháp luật này không thuộc phạm vi điều chỉnh của Công ước, thì nên thông báo cho nước yêu cầu thu thập chứng cứ về các phương thức thu thập chứng cứ khác đang được áp dụng.
Về phạm vi của “lĩnh vực dân sự hoặc thương mai’, Ủy ban Đặc biệt ghi nhận đã có những bước thay đổi, phát triển trong quan hệ hợp tác giữa các nước thành viên trong bối cảnh quan hệ hợp tác tư pháp ngày càng mở rộng. Phạm vi “lĩnh vực dân sự hoặc thương mai” trong hợp tác tương trợ tư pháp thu thập chứng cứ ngày càng được các nước tiếp cận linh hoạt và cởi mở hơn, các vấn dé gia đình, nhân thân, quyền sở hữu trí tuệ, phá sản, bảo hiểm, lao động, bảo vệ người tiêu dùng, cạnh tranh. đều được coi là có tính chất dân sự hoặc thương mại. Lĩnh vực hình sự không thuộc phạm vi điều chỉnh của Công ước.
Tuy nhiên, nhiều Quốc gia thành viên Công ước chấp nhận yêu cầu thu thập chứng cứ dé giải quyết vụ kiện dân sự của cá nhân đòi bồi thường thiệt hại xuất phát từ trách nhiệm hình sự. Bên cạnh đó, đa số các nước không chấp nhận yêu cầu thu thập chứng cứ liên quan đến tài sản phạm tội mà có trong vụ án hình sự là yêu cầu trong lĩnh vực “đân sự hoặc thương mại "Š. Đặc trưng hoạt động tương trợ tư pháp, ủy thác tư pháp Có thể thấy các hoạt động tương trợ tư pháp là các hoạt động đặc thù vừa mang tính chính trị (tính chất công) trong quan hệ quốc tế giữa các quốc gia, đồng thời cũng có sự tham gia của công dân pháp nhân các nước với nhau (quan hệ dân sự, thương mại) có tính chất tư trong các vụ việc can ủy thác tư pháp, cho nên các hoạt động tương trợ tư pháp ủy thác tư pháp có một số đặc trưng cơ bản sau: Thứ nhất, bản chất của các hoạt động TTTP là tổng thé các hoạt động hợp tác tương trợ giữa các cơ quan có thâm quyền (như cơ quan tư pháp và ngoại giao) của các quốc gia, nhằm giải quyết các vụ việc về hình sự, dan sự, kinh doanh thương mại có yếu té nước ngoài phát sinh giữa công dân, pháp nhân các nước hữu quan với nhau. Việc hợp tác tương trợ tư pháp giữa các quốc gia là cực kỳ quan 5 Số tay hướng dẫn thực thi Công ước thu thập chứng cứ, Hội nghị La Hay về Tư pháp quốc tế, năm 2016, trang 25 7 l a Š Số tay hưởng dan thực thi Công ước thu thập chứng cứ, Hội nghị La Hay về Tu pháp quốc tê, năm 2016, trang 26 13 trọng dé bảo vệ quyén lợi của các bên trong các mối quan hệ quốc tế.
Khi thực hiện các hoạt động này, rất cần thực hiện nghiêm ngặt các nguyên tắc cơ bản của quan hệ quốc tế, có thể kế tới các nguyên tắc tiêu biểu như: nguyên tắc có đi có lại: nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau và nguyên tắc đối xử quốc gia đôi bên cùng có loi. Thứ hai, dé thực hiện hoạt động TTTP thi can dat pháp luật liên quan về TTTP và DUQT làm cơ sở. Điều ước quốc tế giữa các nước về TTTP là các cam kết thỏa thuận về nghĩa vụ trách nhiệm của quốc gia thành viên trong hoạt động tương trợ tư pháp. Các DUQT đóng vai trò là nền tang trong quan hệ tương trợ tư pháp giữa các quốc gia, xây đựng các nguyên tắc cơ bản trong quan hệ tương trợ tư pháp giữa các quốc gia, tạo khung pháp lý chung thống nhất cho các hoạt động tương trợ tư pháp.