Tổng quan luận án

Công trình khoa học mang tên "Các tội phạm về tham nhũng theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng" do nghiên cứu sinh Trần Huy Đức thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Hồ Sỹ Sơn, bảo vệ năm 2019 tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam. Luận án thuộc ngành Luật hình sự và tố tụng hình sự, mang mã số đào tạo 9 38 01 04.

Thông tin cơ bản Chi tiết
Tên đề tài Các tội phạm về tham nhũng theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng
Tác giả NCS. Trần Huy Đức
Người hướng dẫn PGS. Hồ Sỹ Sơn
Cơ sở đào tạo Học viện Khoa học Xã hội – Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam
Chuyên ngành Luật hình sự và tố tụng hình sự (Mã số: 9 38 01 04)
Năm bảo vệ 2019
Địa bàn & Thời gian khảo sát Thành phố Đà Nẵng; Giai đoạn 10 năm (2007 – 2017)

Tính cấp thiết và bối cảnh nghiên cứu

Tham nhũng là một trong những trở ngại lớn đối với sự ổn định và phát triển của mỗi quốc gia, làm suy giảm nguồn lực phát triển kinh tế - xã hội. Ở bình diện quốc tế, hoạt động tội phạm tham nhũng và các phương thức che giấu, tẩu tán tài sản mang tính chất ngày càng tinh vi, phức tạp và xuyên quốc gia. Trên cơ sở Công ước của Liên Hợp Quốc về chống tham nhũng (Việt Nam phê chuẩn ngày 03/7/2009), công tác phòng, chống tham nhũng (PCTN) đã trở thành trọng tâm trong nỗ lực tăng cường tính liêm chính và trách nhiệm giải trình.

Tại Việt Nam, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định đẩy mạnh đấu tranh PCTN, lãng phí là nhiệm vụ thường xuyên, quan trọng, khó khăn, phức tạp và lâu dài. Cơ sở pháp lý cho công tác này từng bước được xây dựng qua các văn bản như:

  • Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009);
  • Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2007, 2012) và Luật PCTN năm 2018;
  • Chiến lược quốc gia PCTN đến năm 2020 (ban hành theo Nghị quyết số 21/NQ-CP ngày 12/5/2009);
  • Luật Thanh tra năm 2010, Luật Phòng, chống rửa tiền năm 2012, Luật Kiểm toán Nhà nước năm 2015;
  • Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, có hiệu lực từ ngày 01/01/2018).

Dữ liệu tổng kết thực tiễn cho thấy thách thức rất lớn trong công tác PCTN:

  • Báo cáo tổng kết 10 năm thực hiện Luật PCTN chỉ ra thiệt hại do các vụ án, vụ việc tham nhũng được phát hiện lên tới gần 60.000 tỉ đồng và trên 400 ha đất, nhưng chỉ thu hồi được gần 5.000 tỉ đồng và hơn 200 ha đất; có 918 người đứng đầu và cấp phó bị xử lý do thiếu trách nhiệm để xảy ra tham nhũng.
  • Từ ngày 01/10/2016 đến 31/7/2017, Tòa án nhân dân các cấp xét xử sơ thẩm 145 vụ với 328 bị cáo về các tội danh tham nhũng. Tỷ lệ tội phạm nghiêm trọng, rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng chiếm 50% (tăng 2,3% so với cùng kỳ năm 2016); số bị cáo hưởng án treo, cải tạo không giam giữ chiếm 14,6%; có 07 bị cáo bị tuyên phạt tử hình hoặc tù chung thân (tăng 40% so với cùng kỳ năm 2016).
  • Theo Tổ chức Minh bạch Quốc tế (Transparency International - TI), Chỉ số cảm nhận tham nhũng (CPI) năm 2017 của Việt Nam xếp hạng 107/180. Đến năm 2018, Việt Nam đạt 33/100 điểm, xếp hạng 117/180 toàn cầu (tính trên 8 nguồn dữ liệu khảo sát quốc tế độc lập).

Tại thành phố Đà Nẵng – đô thị loại 1 trực thuộc Trung ương, trung tâm kinh tế - chính trị của miền Trung - Tây Nguyên, hoạt động xét xử các vụ án tham nhũng đã đạt được kết quả bước đầu. Tuy nhiên, tình hình tội phạm tham nhũng tại địa phương này vẫn diễn biến phức tạp, đặc biệt là các sai phạm liên quan đến đất đai và nhà công sản. Một số phán quyết xét xử còn bất cập, bị Tòa án cấp trên sửa bản án hoặc bị Viện kiểm sát nhân dân kháng nghị do những vướng mắc trong việc áp dụng quy định pháp luật hình sự.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu: Làm sáng tỏ các vấn đề lý luận về các tội phạm về tham nhũng; đánh giá thực trạng quy định của pháp luật hình sự Việt Nam; phân tích thực tiễn định tội danh và quyết định hình phạt của TAND tại thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2007 – 2017; từ đó chỉ ra những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân, đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện pháp luật hình sự và các giải pháp bảo đảm áp dụng đúng trong thực tiễn.

Nhiệm vụ nghiên cứu (gồm 5 nhiệm vụ cụ thể):

  1. Phân tích khái niệm và các dấu hiệu pháp lý của các tội phạm về tham nhũng; phân biệt các tội phạm về tham nhũng với một số tội phạm khác.
  2. Phân tích, đánh giá thực trạng lập pháp hình sự Việt Nam về các tội phạm về tham nhũng đến trước khi ban hành Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
  3. Phân tích nội dung các quy định của BLHS Việt Nam hiện hành về các tội phạm về tham nhũng.
  4. Phân tích, đánh giá thực tiễn định tội danh và quyết định hình phạt đối với các tội phạm về tham nhũng tại thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2007 – 2017.
  5. Đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật hình sự và các giải pháp khác nhằm bảo đảm áp dụng đúng các quy định của pháp luật hình sự đối với các tội phạm về tham nhũng trong tình hình mới.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Quan điểm khoa học; chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách hình sự của Nhà nước; các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về tội phạm tham nhũng; các điều ước và công ước quốc tế về chống tham nhũng; thực tiễn định tội danh và quyết định hình phạt của Tòa án tại thành phố Đà Nẵng.
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Góc độ chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự.
    • Không gian (địa bàn): Thành phố Đà Nẵng.
    • Thời gian: Giai đoạn 10 năm, từ năm 2007 đến năm 2017.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã hệ thống hóa các tài liệu khoa học trong và ngoài nước thành các nhóm nghiên cứu chuyên biệt.

Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài

  • Fijnaut (2001): Bài viết "Corruption, integrity and law enforcement" tại Diễn đàn toàn cầu lần thứ 2 về chống tham nhũng (La Hay, Hà Lan), tổng hợp ý kiến của 35 nhà khoa học từ 13 quốc gia, nghiên cứu sự liêm chính trong thực thi pháp luật, vai trò của Ủy ban độc lập chống tham nhũng (ICAC) bang New South Wales và Chương trình chống tham nhũng của Cảnh sát London.
  • Brian Whittaker và Jordan Hicks (2008): Bài viết "Public Corruption" (45 Am. 825, đăng trên American Law Review và HeinOnline), phân tích tội phạm tham nhũng theo pháp luật Hoa Kỳ (đưa/nhận hối lộ, nhận thù lao trái phép, xung đột lợi ích sau nhiệm sở) và các án lệ minh họa.
  • Colin Nicholls QC, Timothy Daniel, Alan Bacarese, John Hatchard (2011): Sách chuyên khảo "Corruption and misuse of public office" (NXB Oxford University Press), phân tích quy định về hành vi lạm dụng quyền lực công, Luật Chống tham nhũng năm 2010 của Vương quốc Anh, Đạo luật Chống hành vi tham nhũng ở nước ngoài của Hoa Kỳ (FCPA) và Công ước UNCAC.
  • Lenny Roth (2013): Báo cáo "Corruption offences" (NSW Parliamentary Research Service, Úc), phân tích các dấu hiệu pháp lý của tội phạm tham nhũng qua án lệ của Tòa phúc thẩm New South Wales và Tòa phúc thẩm Victoria.
  • Borlini & Leonardo S (2014): Sách "Corruption: economic analysis and international law" (NXB Edward Elgar Publishing), phân tích việc hình sự hóa hành vi tham nhũng, thẩm quyền tài phán quốc tế và mô hình trách nhiệm hình sự của pháp nhân đối với tham nhũng.
  • Nghiên cứu về Đạo luật công chức nước ngoài của Canada (29 Am.): "Canada's Corruption Of Foreign Public Officials Act And Secret Commissions Offense", phân tích thẩm quyền tài phán và xử lý hành vi hối lộ công chức nước ngoài.
  • Jean-Bernard Auby, Emmanuel Breen, Thomas Perroud (2014): Sách "Corruption and conflicts of interest: a comparative law approach", phân tích ranh giới giữa tham nhũng và xung đột lợi ích (conflicts of interest) trong thi hành công vụ cùng vấn đề vận động hành lang.
  • OECD (2015): Báo cáo "Liability of Legal Persons for Corruption in Eastern Europe and Central Asia", khảo sát 25 quốc gia về 4 phương thức quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân đối với tội phạm tham nhũng.

Các công trình nghiên cứu trong nước

  • Đề tài cấp Nhà nước: "Luận cứ khoa học cho việc xây dựng chiến lược phòng ngừa và nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam cho đến năm 2020" do Mai Quốc Bình và Thanh tra Chính phủ thực hiện (2009).
  • Đề tài cấp Bộ: "Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác chống tham nhũng của các cơ quan thanh tra nhà nước theo Luật phòng, chống tham nhũng" của TS. Trần Ngọc Liêm (2010); "Các biện pháp đảm bảo quyền được thông tin của công dân phục vụ công tác phòng, chống tham nhũng" của ThS. Đinh Văn Minh (2012).
  • Đề tài cấp Trường: "Các tội phạm về tham nhũng có tính chiếm đoạt tài sản và đấu tranh phòng, chống các tội phạm này ở Việt Nam trong xu thế hội nhập quốc tế" của Trường Đại học Luật Hà Nội (2008).
  • Sách và Giáo trình: "Nhận diện tham nhũng và các giải pháp phòng chống tham nhũng ở Việt Nam hiện nay" của Phan Xuân Sơn và Phạm Thế Lực (2012, NXB Chính trị quốc gia); "Lý luận chung về định tội danh" của GS.TS Võ Khánh Vinh (2013, NXB Khoa học xã hội); "Bình luận BLHS Việt Nam" của Đinh Văn Quế (2002); "Bình luận khoa học BLHS năm 1999" của PGS. Phùng Thế Vắc (2001); "Giáo trình Luật hình sự Việt Nam" (Đại học Huế, 2008).
  • Luận án Tiến sĩ: "Phòng, chống tham nhũng trong khu vực tư ở Việt Nam hiện nay" của TS. Phạm Thị Huệ (2016, Học viện Khoa học Xã hội).
  • Bài báo khoa học: Các công trình của PGS. Trần Văn Độ (1993, 1997), GS.TS Võ Khánh Vinh (1996), GS. Hồ Trọng Ngũ (2001), TS. Lê Vương Long (2005), Đào Lệ Thu (2018), Lê Thị Hoà, Nguyễn Anh Tuấn & Nguyễn Văn Chinh (2011).

Khoảng trống nghiên cứu luận án giải quyết

Mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu về PCTN, các công trình trước đây chủ yếu dừng lại ở góc độ lý luận chung, nghiên cứu đơn ngành hoặc phân tích quy định pháp luật thực định trên phạm vi cả nước. Chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu, có hệ thống về nhóm các tội phạm về tham nhũng dưới góc độ luật hình sự và tố tụng hình sự gắn liền với việc phân tích dữ liệu thực tiễn định tội danh và quyết định hình phạt tại một địa bàn cụ thể là thành phố Đà Nẵng trong giai đoạn 10 năm (2007 – 2017). Luận án giải quyết khoảng trống này bằng cách kết hợp cách tiếp cận xã hội học luật hình sự, tiếp cận chính sách và luật học so sánh để làm rõ mối quan hệ giữa quy định pháp luật với bối cảnh kinh tế - xã hội đặc thù của địa phương.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Phương pháp luận nghiên cứu

Luận án được xây dựng dựa trên nền tảng:

  • Phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Mác - Lênin.
  • Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng bộ máy nhà nước trong sạch, phòng ngừa "bất liêm", quan liêu, tham ô, lãng phí.
  • Đường lối, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam và chính sách pháp luật hình sự của Nhà nước về cải cách tư pháp và PCTN.
  • Cách tiếp cận đa ngành và liên ngành: Khoa học luật hình sự, tội phạm học, xã hội học luật hình sự và luật học so sánh.

Phương pháp nghiên cứu cụ thể theo các chương

  • Chương 2: Sử dụng phương pháp lịch sử cụ thể, phương pháp phân tích, tổng hợp, quy nạp, hệ thống hóa và so sánh pháp luật để làm sáng tỏ khái niệm, bản chất pháp lý, các yếu tố cấu thành tội phạm tham nhũng và tiến trình lập pháp hình sự qua các thời kỳ.
  • Chương 3: Áp dụng phương pháp phân tích quy phạm, phương pháp thống kê xã hội học, tổng hợp hồ sơ án, điều tra xã hội học và so sánh thực tiễn nhằm đánh giá quy định của BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và thực tiễn xét xử sơ thẩm của TAND tại thành phố Đà Nẵng.
  • Chương 4: Sử dụng phương pháp phân tích, hệ thống hóa và dự báo pháp lý để xây dựng hệ thống giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật hình sự.

Nguồn tư liệu và dữ liệu

  • Văn bản pháp luật quốc gia: BLHS 1985, BLHS 1999 (sửa đổi 2009), BLHS 2015 (sửa đổi 2017); Luật PCTN 2005 (sửa đổi 2007, 2012), Luật PCTN 2018; các Sắc lệnh hình sự năm 1946, 1976; Pháp lệnh năm 1981; Luật Thanh tra, Kiểm toán Nhà nước.
  • Điều ước quốc tế: Công ước của Liên Hợp Quốc về chống tham nhũng (UNCAC 2003).
  • Báo cáo chính thức: Báo cáo tổng kết 10 năm thi hành Luật PCTN của Thanh tra Chính phủ; Báo cáo công tác xét xử của TAND tối cao và TAND thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2007 – 2017; Bảng dữ liệu thống kê số 3.1 về các vụ án xét xử tội phạm tham nhũng tại Đà Nẵng.
  • Chỉ số quốc tế: Báo cáo Chỉ số cảm nhận tham nhũng (CPI) các năm 2017 và 2018 của Tổ chức Minh bạch Quốc tế.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu

Chương này điểm luận toàn diện các công trình nghiên cứu về tội phạm tham nhũng ở trong và ngoài nước, đánh giá kết quả đạt được và xác định 5 vấn đề cốt lõi cần giải quyết:

  1. Xác định nội hàm khái niệm và dấu hiệu pháp lý đặc trưng của các tội phạm về tham nhũng trên cơ sở lý luận và chính sách hình sự.
  2. Phân biệt tội phạm tham nhũng với các tội phạm khác có dấu hiệu tương đồng.
  3. Khái quát lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam từ năm 1945 đến trước BLHS năm 2015 để thấy rõ tính kế thừa và tính quy định xã hội của pháp luật.
  4. Đánh giá toàn diện thực tiễn định tội danh và quyết định hình phạt của Tòa án tại thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2007 – 2017, chỉ rõ các hạn chế và nguyên nhân bắt nguồn từ các yếu tố kinh tế - xã hội địa phương.
  5. Đề xuất hệ thống giải pháp lập pháp và thực tiễn nhằm bảo đảm áp dụng thống nhất quy định pháp luật hình sự.

Chương 2: Những vấn đề lý luận và lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam về các tội phạm về tham nhũng đến trước khi ban hành BLHS năm 2015

Bản chất và khái niệm

Luận án tiếp cận bản chất tham nhũng từ nhiều góc độ (chính trị, đạo đức, kinh tế, xã hội, pháp lý). Nguồn gốc của tham nhũng gắn liền với sự ra đời của chế độ tư hữu, sự phân chia giai cấp, sự xuất hiện của Nhà nước, quyền lực công và lòng tham của con người. Tham nhũng xuất hiện khi người được giao quyền lực công hoặc tư lạm dụng quyền lực đó nhằm mục đích vụ lợi.

Trên cơ sở Điều 8 và Điều 352 BLHS năm 2015, luận án đưa ra định nghĩa:

"Các tội phạm về tham nhũng là những hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự do người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó thực hiện trong khi thi hành công vụ, nhiệm vụ xâm phạm hoạt động đúng đắn của các cơ quan nhà nước, các tổ chức trong xã hội; xâm phạm uy tín của cơ quan, tổ chức; xâm phạm tài sản, lợi ích của Nhà nước, của tổ chức; xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, của công dân vì động cơ vụ lợi."

Bốn yếu tố cấu thành tội phạm tham nhũng

  1. Khách thể:
    • Khách thể chung: Toàn bộ các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ.
    • Khách thể loại: Hoạt động đúng đắn và uy tín của cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức kinh tế; quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.
    • Khách thể trực tiếp: Quan hệ xã hội cụ thể trong một lĩnh vực hoạt động công vụ/nhiệm vụ bị tội phạm xâm hại.
  2. Mặt khách quan:
    • Hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn (trực tiếp thực hiện quyền hạn trái quy định hoặc lợi dụng uy tín, vị trí công tác để tác động người khác).
    • Hậu quả nguy hiểm cho xã hội gồm thiệt hại vật chất (thất thoát tài sản theo các định mức tiền luật định) và thiệt hại phi vật chất (suy giảm uy tín cơ quan, mất niềm tin của nhân dân). Hầu hết các tội danh tham nhũng có cấu thành vật chất, ngoại trừ tội Giả mạo trong công tác (Điều 359).
    • Mối quan hệ nhân quả tất yếu giữa hành vi lạm dụng chức vụ và hậu quả thiệt hại xảy ra.
  3. Chủ thể: Người có chức vụ, quyền hạn (do bổ nhiệm, bầu cử, hợp đồng, tuyển dụng, có hoặc không hưởng lương, được giao thực hiện công vụ hoặc nhiệm vụ nhất định theo quy định tại Điều 352 BLHS).
  4. Mặt chủ quan: Lỗi cố ý trực tiếp; mục đích phạm tội là động cơ vụ lợi (lợi ích vật chất hoặc lợi ích tinh thần).

7 tội danh tham nhũng quy định tại Mục 1 Chương XXIII BLHS

  • Điều 353: Tội tham ô tài sản
  • Điều 354: Tội nhận hối lộ
  • Điều 355: Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản
  • Điều 356: Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ
  • Điều 357: Tội lạm quyền trong khi thi hành công vụ
  • Điều 358: Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đối với người khác để trục lợi
  • Điều 359: Tội giả mạo trong công tác

Lịch sử lập pháp hình sự đến trước năm 2015

Luận án phân tích sự phát triển lập pháp qua các giai đoạn:

  • Giai đoạn 1945 – 1985: Sắc lệnh số 223/SL ngày 17/11/1946 (quy định tội hối lộ); Sắc lệnh số 03/SL ngày 15/3/1976; Pháp lệnh trừng trị các tội phạm về hối lộ ngày 20/5/1981.
  • Giai đoạn BLHS năm 1985: Lần đầu tiên hệ thống hóa các tội phạm chức vụ trong một chương riêng.
  • Giai đoạn BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009): Tách riêng Mục các tội phạm về tham nhũng, hoàn thiện cấu thành định lượng tài sản tham nhũng và khung hình phạt.

Chương 3: Quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về các tội phạm về tham nhũng và thực tiễn áp dụng tại thành phố Đà Nẵng

  • Quy định của BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017): Phân tích điểm mới về việc mở rộng phạm vi xử lý tội phạm tham ô tài sản (Điều 353) và tội nhận hối lộ (Điều 354) sang khu vực ngoài nhà nước (khu vực tư); quy định cụ thể mức định lượng giá trị tài sản chiếm đoạt và thiệt hại (từ 2.000.000 đồng trở lên hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc trường hợp tái phạm, đã bị xử lý kỷ luật).
  • Thực tiễn áp dụng tại thành phố Đà Nẵng (2007 – 2017):
    • Khảo sát các vụ án xét xử sơ thẩm tại TAND thành phố Đà Nẵng (chi tiết tại Bảng 3.1 của luận án).
    • Phân tích thực trạng định tội danh: Các sai sót trong phân định giữa tội tham ô tài sản với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản; giữa tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ với tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng.
    • Thực tiễn quyết định hình phạt: Tỷ lệ áp dụng hình phạt tù có thời hạn, tù chung thân, tử hình và việc áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (khắc phục hậu quả, nộp lại tài sản tham nhũng).
    • Những vướng mắc trong các vụ án liên quan đến quản lý đất đai, chuyển nhượng nhà công sản tại Đà Nẵng dẫn đến việc Tòa án cấp phúc thẩm, giám đốc thẩm phải sửa bản án hoặc bị VKSND kháng nghị.

Chương 4: Các giải pháp bảo đảm áp dụng đúng quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về các tội phạm về tham nhũng

  • Yêu cầu áp dụng pháp luật: Đáp ứng chiến lược cải cách tư pháp, phù hợp với tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN và yêu cầu hội nhập quốc tế theo Công ước UNCAC đến năm 2030.
  • Nhóm giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật hình sự:
    • Hướng dẫn cụ thể dấu hiệu định tội, định khung hình phạt đối với hành vi tham nhũng trong khu vực ngoài nhà nước.
    • Làm rõ ranh giới giữa hành vi phạm tội tham nhũng với vi phạm hành chính, kỷ luật công vụ.
    • Hoàn thiện chế định tịch thu tài sản, thu hồi tài sản tham nhũng và cơ chế xử lý tài sản không giải trình được nguồn gốc hợp pháp.
  • Nhóm giải pháp tổ chức thực hiện và tố tụng:
    • Nâng cao năng lực chuyên môn, tính độc lập và phẩm chất liêm chính của đội ngũ Thẩm phán, Kiểm sát viên, Điều tra viên tại địa phương.
    • Tăng cường phối hợp giữa cơ quan Thanh tra, Kiểm toán với Cơ quan Cảnh sát điều tra và Viện kiểm sát trong chuyển giao hồ sơ vụ việc có dấu hiệu tham nhũng.
    • Đảm bảo cơ sở vật chất, kỹ thuật giám định tư pháp tài chính, định giá nhà đất công sản để phục vụ kịp thời công tác định tội danh và quyết định hình phạt.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án xác định 4 đóng góp mới về mặt khoa học lý luận và thực tiễn:

  1. Làm rõ mối quan hệ giữa pháp luật hình sự và chính sách hình sự: Luận án luận giải quy định của pháp luật hình sự là phương tiện chuyển tải chính sách hình sự của Nhà nước và đường lối của Đảng đối với tội phạm tham nhũng; qua đó làm sáng tỏ tính quy định xã hội của các chuẩn mực pháp lý hình sự.
  2. Xây dựng hoàn chỉnh hệ thống lý luận về cấu thành tội phạm tham nhũng: Làm rõ nội hàm khái niệm, phân tích sâu 4 yếu tố cấu thành tội phạm của 7 tội danh tham nhũng, xác định tiêu chí phân biệt tội phạm tham nhũng với các tội phạm chức vụ khác và tội phạm xâm phạm sở hữu; khẳng định tính kế thừa lịch sử qua các văn bản lập pháp từ năm 1946 đến BLHS năm 2015.
  3. Đánh giá toàn diện thực tiễn áp dụng pháp luật tại thành phố Đà Nẵng: Tổng kết bức tranh xét xử 10 năm (2007 – 2017) trên địa bàn Đà Nẵng, chỉ ra những hạn chế trong định tội danh, lượng hình đối với các vụ án quản lý tài sản công, đất đai và xác định nguyên nhân khách quan, chủ quan của thực trạng này.
  4. Đề xuất hệ thống giải pháp khả thi: Xây dựng các đề xuất lập pháp nhằm tháo gỡ vướng mắc trong BLHS năm 2015 (sửa đổi 2017) kết hợp với các giải pháp nâng cao hiệu lực hoạt động tư pháp, giám định thiệt hại tài sản và kiểm soát tài sản công chức tại địa phương.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Dữ liệu thực tiễn của luận án được giới hạn trong phạm vi địa bàn thành phố Đà Nẵng và khung thời gian từ năm 2007 đến năm 2017. Do đó, các phát hiện thực nghiệm mang tính chất điển hình cho mô hình đô thị loại 1 trực thuộc Trung ương tại miền Trung nhưng chưa bao quát toàn bộ đặc thù của các địa bàn vùng sâu, vùng xa hoặc các trung tâm kinh tế khác trên toàn quốc.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng phạm vi khảo sát thực tiễn áp dụng BLHS năm 2015 và Luật PCTN năm 2018 trên phạm vi toàn quốc trong các giai đoạn tiếp theo.
    • Nghiên cứu chuyên sâu về cơ chế kiểm soát và xử lý hình sự đối với hành vi tham nhũng trong khu vực tư nhân và tội phạm tham nhũng có yếu tố nước ngoài.

Giá trị tham khảo

  • Đối với nghiên cứu và đào tạo: Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo cho nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên và giảng viên tại các cơ sở đào tạo luật học (đặc biệt trong các học phần Luật hình sự Việt Nam, Tố tụng hình sự, Tội phạm học).
  • Đối với cơ quan tiến hành tố tụng: Cung cấp cơ sở lý luận và kỹ năng thực tiễn cho Thẩm phán, Kiểm sát viên, Điều tra viên trong việc định tội danh chính xác, phân hóa trách nhiệm hình sự và quyết định hình phạt đúng pháp luật trong các vụ án tham nhũng phức tạp.
  • Đối với cơ quan lập pháp và cơ quan quản lý: Hỗ trợ các cơ quan xây dựng chính sách, Thanh tra Chính phủ, Kiểm toán Nhà nước trong việc hoàn thiện khung pháp lý về PCTN và thu hồi tài sản tham nhũng.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án định nghĩa các tội phạm về tham nhũng như thế nào?

Luận án xác định các tội phạm về tham nhũng là những hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự do người có chức vụ, quyền hạn lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó thực hiện trong khi thi hành công vụ, nhiệm vụ; xâm phạm hoạt động đúng đắn, uy tín của cơ quan, tổ chức, tài sản và lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân vì động cơ vụ lợi.

2. Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định bao nhiêu tội danh thuộc nhóm tội phạm về tham nhũng?

Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định 7 tội danh tham nhũng tại Mục 1 Chương XXIII, bao gồm:

  • Tội tham ô tài sản (Điều 353);
  • Tội nhận hối lộ (Điều 354);
  • Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản (Điều 355);
  • Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ (Điều 356);
  • Tội lạm quyền trong khi thi hành công vụ (Điều 357);
  • Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đối với người khác để trục lợi (Điều 358);
  • Tội giả mạo trong công tác (Điều 359).

3. Tỷ lệ thiệt hại và kết quả thu hồi tài sản tham nhũng qua tổng kết 10 năm thi hành Luật PCTN được nêu trong luận án là bao nhiêu?

Theo báo cáo tổng kết 10 năm thi hành Luật PCTN được trích dẫn trong luận án, thiệt hại do các vụ việc, vụ án tham nhũng được phát hiện là gần 60.000 tỉ đồng và trên 400 ha đất, nhưng cơ quan chức năng chỉ thu hồi được gần 5.000 tỉ đồng và hơn 200 ha đất.

4. Phạm vi khảo sát thực tiễn của luận án được giới hạn ở không gian và thời gian nào?

Luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu thực tiễn định tội danh và quyết định hình phạt tại Tòa án nhân dân thuộc địa bàn thành phố Đà Nẵng trong khoảng thời gian 10 năm, từ năm 2007 đến năm 2017.

5. Dấu hiệu hậu quả nguy hiểm cho xã hội có phải là bắt buộc đối với tất cả các tội danh tham nhũng không?

Hậu quả nguy hiểm cho xã hội là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành cơ bản của hầu hết các tội phạm về tham nhũng (như tội tham ô tài sản, lạm dụng chức vụ chiếm đoạt tài sản). Tuy nhiên, riêng đối với tội Giả mạo trong công tác (Điều 359 BLHS năm 2015), dấu hiệu hậu quả nguy hiểm cho xã hội không phải là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm cơ bản.


Kết luận

Luận án tiến sĩ luật học của tác giả Trần Huy Đức là công trình nghiên cứu chuyên khảo có hệ thống về nhóm các tội phạm về tham nhũng theo pháp luật hình sự Việt Nam gắn với thực tiễn xét xử tại thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2007 – 2017. Tác giả đã làm sáng tỏ các vấn đề lý luận về 4 yếu tố cấu thành tội phạm của 7 tội danh tham nhũng, đồng thời chỉ ra những điểm bất cập trong việc phân định tội danh và quyết định hình phạt tại thực tế địa phương. Hệ thống giải pháp được đề xuất trong luận án đóng góp cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc hoàn thiện các quy định pháp luật hình sự và nâng cao hiệu lực đấu tranh phòng, chống tham nhũng ở nước ta trong giai đoạn mới.