Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ ĐỊNH TỘI DANH TỘI DANH TỘI BUÔN LẬU 1. Những vấn đề lý luận về định tội danh tội buôn lậu 1.1 Khái niệm định tội danh tội buôn lậu Định tội danh là một trong những hoạt động của việc áp dụng pháp luật hình sự. Pháp luật hình sự bao gồm một hệ thống các quy phạm pháp luật quy định về tội phạm và hình phạt. Quá trình áp dụng pháp luật hình sự là quá trình xem xét hành vi của một người, một pháp nhân có phải là tội phạm không, nếu có thì là tội phạm gì, được quy định tại điều, khoản nào của BLHS, có căn cứ để miễn trách nhiệm hình sự hay miễn hình phạt không, nếu không thì phải chịu hình phạt như thế nào.
Trong quá trình đó, việc xem xét để xác định hành vi của một người, một pháp nhân phạm tội gì, theo điều, khoản nào của BLHS là hoạt động định tội danh, hoạt động này diễn ra trong một khoảng thời gian nhất định được gọi là quá trình định tội danh. Có thể nói hiện nay, trong Khoa học hình sự Việt Nam có nhiều quan điểm về khái niệm định tội danh nói chung, điển hình như sau: Quan điểm thứ nhất cho rằng: “Định tội danh là việc xác định và ghi nhận về mặt pháp lý sự phù hợp chính xác giữa các dấu hiệu của hành vi phạm tội cụ thể đã được thực hiện với các dấu hiệu của cấu thành tội phạm đã được quy định trong quy phạm pháp luật hình sự” [39, tr 9,10]. Quan điểm thứ hai cho rằng: “Định tội danh là một quá trình logic nhất định, là hoạt động của cán bộ có thẩm quyền trong việc xác nhận sự phù hợp giữa trường hợp phạm tội cụ thể đang xem xét với các dấu hiệu của một cấu thành tội phạm được quy định trong quy phạm pháp luật thuộc Phần các tội phạm Bộ luật hình sự” [9, tr 90-91] Quan điểm thứ ba cho rằng: “định tội danh là thuật ngữ dùng để chỉ hoạt động đối chiếu sự phù hợp giữa các dấu hiệu thực tế của cấu thành tội phạm với các dấu hiệu pháp lý của cấu thành tội phạm được mô tả quy định trong Bộ Luật Hình sự để xác định tội phạm đã xảy ra và người phạm tội, cũng như xác định không có 7 tội phạm xảy ra hoặc không có người phạm tội hoặc người bị tình nghi không phải là người thực hiện tội phạm (tức họ không phạm tội) bằng việc ra kết luận bằng văn bản áp dụng pháp luật trong tố tụng hình sự của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng có thẩm quyền trong tố tụng hình sự”. [15, tr 8] Và nhiều quan điểm khác, tuy nhiên về cơ bản được hiểu định tội danh là một quá trình logic, là quá trình so sánh, đối chiếu, tìm sự phù hợp giữa hành vi nguy hiểm cho xã hội đã thực hiện với các dấu hiệu pháp lý của một tội phạm cụ thể được quy định trong BLHS.
BLHS quy định các yếu tố cấu thành của các tội phạm cụ thể mà dựa vào đó người áp dụng pháp luật, người bào chữa so sánh với hành vi nguy hiểm cho xã hội cụ thể đã thực hiện, tìm ra sự phù hợp giữa chúng để xác định hành vi đã thực hiện phạm tội gì, theo điều, khoản nào của BLHS. Vì định tội danh là quá trình tư duy logic, nên nó bao gồm các bước (các giai đoạn) có mối quan hệ chặt chẽ, được thực hiện đồng thời và xen kẽ nhau. Cụ thể là: - Xác định đầy đủ, chính xác các tình tiết thực tế của vụ án, phản ánh đúng thực tế khách quan. - Nhận thức chính xác nội dung các quy phạm pháp luật hình sự, các dấu hiệu pháp lý của từng cấu thành tội phạm cụ thể.
- So sánh, đối chiếu các tình tiết của hành vi nguy hiểm cho xã hội đã thực hiện với các dấu hiệu pháp lý của cấu thành tội phạm cụ thể, tìm ra sự phù hợp giữa chúng. - Rút ra kết luận về sự phù hợp giữa hành vi nguy hiểm cho xã hội đã thực hiện với các dấu hiệu của cấu thành tội phạm được quy định trong BLHS và ra văn bản áp dụng pháp luật. Quá trình định tội có thể do các chủ thể khác nhau tiến hành, trong đó việc định tội của các cơ quan tiến hành tố tụng (CQĐT, VKS, TA) có ý nghĩa quan trọng đặc biệt. Kết quả của việc định tội do các cơ quan này thực hiện được thể hiện ở các quyết định tố tụng, như: Quyết định khởi tố vụ án hình sự, Quyết định khởi tố bị can, đình chỉ điều tra miễn trách nhiệm hình sự đối với bị can, kết luận điều tra đề 8 nghị truy tố của CQĐT; quyết định đình chỉ vụ án miễn trách nhiệm hình sự, quyết định truy tố bằng bản cáo trạng của Viện Kiểm sát, bản án kết tội của Toà án.
Định tội của người bào chữa có ý nghĩa trong việc tranh tụng với đại điện Viện kiểm sát và là cơ sở để Tòa án xem xét, kết tội bị cáo. Với những phân tích nêu trên có thể đưa ra khái niệm về định tội danh như sau: Định tội danh là hoạt động nhận thức, hoạt động áp dụng pháp luật hình sự do các chủ thể tiến hành và tham gia tố tụng thực hiện, được thể hiện trên cơ sở xác định đầy đủ, chính xác, khách quan các tình tiết cụ thể của hành vi phạm tội được thực hiện, nhận thức đúng nội dung quy phạm pháp luật hình sự quy định cấu thành tội phạm tương ứng và xác định sự phù hợp giữa các dấu hiệu của một cấu thành tội phạm nhất định với các tình tiết cụ thể của hành vi phạm trong các giai đoạn tố tụng do pháp luật quy định góp phần giải quyết vụ án hình sự. Từ các phân tích khái niệm chung về định tội danh như trên thì có thể hiểu đối với hoạt động Định tội danh tội buôn lậu là hoạt động nhận thức, áp dụng pháp luật hình sự trên cơ sở xác định đầy đủ các hành vi khách quan, chủ thể, khách thể theo cấu thành chung của tội phạm cũng như cấu thành riêng biệt của tội buôn lậu để xác định hành vi nguy hiểm của các chủ thể đó có phải là tội buôn lậu hay không, hậu quả đến đâu, trách nhiệm hình sự tới đâu… Từ cơ sở khái niệm chung về định tội danh thì chúng ta có thể khái quát về định tội danh tội buôn lậu như sau: " Định tội danh tội buôn lậu là hoạt động của cơ quan, người có thẩm quyền hoặc do những người bào chữa, người bảo vệ quyền vì lợi ích của đương sự. đối chiếu hành vi mà bị can, bị cáo đã thực hiện trên thực tế với hành vi được mô tả trong cấu thành tội buôn lậu được quy định trong Bộ luật hình sự để khẳng định hành vi của bị can, bị cáo đã thực hiện có phạm tội buôn lậu hay không nhằm thực hiện các chức năng tố tụng hình sự của chủ thể định tội, thực hiện quyền và nghĩa vụ của họ" 1.
Đặc điểm của định tội danh tội buôn lậu Từ khái niệm chung về định tội danh và định tội danh tội buôn lậu nói riêng, chúng ta có thể thấy các đặc điểm như sau: Định tội danh là hoạt động áp dụng pháp 9 luật hình sự bao gồm việc tiến hành đồng thời 3 quá trình: Thứ nhất: Xác định đúng, khách quan các tình tiết thực tế đã xảy ra đối với vụ án buôn lậu; Thứ hai: Nhận thức đúng nội dung của các quy định trong BLHS về tội buôn lậu; Thứ ba: Lựa chọn đúng quy phạm pháp luật hình sự để đối chiếu chính xác, đầy đủ các dấu hiệu cấu thành tội phạm được quy định trong quy phạm đó với các tình tiết của hành vi được thực hiện trong thực tế. Như vậy quá trình định tội danh cũng như định tội danh tội buôn lậu bao gồm 3 giai đoạn cơ bản: - Làm sáng tỏ những dấu hiệu chung đặc trưng nhất của hành vi, cụ thể ở đây là buôn lậu - Làm sáng tỏ hành vi phạm tội đó thuộc loại tội phạm nào và được quy định ở chương nào, điều nào của Bộ luật hình sự - Chỉ rõ cấu thành tội phạm về tội cụ thể nào được áp dụng về mặt khách thể, chủ quan, mặt khách quan và chủ quan của tội phạm. 92,93,102-105] Như vậy, từ việc phân tích các đặc điểm chung về với định tội danh thì hoạt động định tội danh tội buôn lậu nói riêng thì có thể rút ra các đặc điểm như sau: đó là hoạt động áp dụng pháp luật hình sự để xác định hành vi khách quan đã xảy ra đó có là hành vi nguy hiểm cho xã hội và có đủ các yếu tố cấu thành tội buôn lậu hay không, bao gồm việc tiến hành đồng thời 3 quá trình: Thứ nhất: xác định đúng, khách quan các tình tiết thực tế vụ án buôn lậu; Thứ hai: nhận thức đúng nội dung của các quy định trong BLHS bao gồm phần chung và phần quy định về tội buôn lậu; Thứ ba: lựa chọn đúng quy phạm pháp luật hình sự để đối chiếu chính xác, đầy đủ các dấu hiệu cấu thành tội phạm được quy định trong quy phạm đó với các tình tiết của hành vi được thực hiện trong thực tế: Xem xét về thời điểm xảy ra hành vi buôn lậu: điều này quan trọng trong thời điểm chuyển giao giữa BLHS năm 1999, sửa đổi 2009 và BLHS năm 2015, sửa 10 đổi 2017. Áp dụng nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 về việc thi hành BLHS năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 với nhiều quy định có lợi cho người phạm tội; So sánh, đối chiếu với các quy phạm pháp luật cũ, mới để lựa chọn định tội danh đúng, nếu hành vi khách quan, khách thể… đó đã được hủy bỏ, thay đổi, có dấu hiệu của một tội phạm khác thì phải thực hiện việc đình chỉ hoặc đổi tội danh cho bị can bị cáo.
Ví dụ: tội buôn lậu trong BLHS 2015 quy định tại điều 188 đã bỏ hoàn toàn hàng cấm ra khỏi điều luật mà hành vi khách quan chỉ là buôn bán trái phép hàng hóa, tiền Việt Nam, ngoại tệ, kim khí quý, đá quý, di vật, cổ vật. Còn hàng cấm được quy định riêng ở điều 190 (tội sản xuất, buôn bán hàng cấm). Tại BLHS 1999 quy định tội buôn lậu tại điều 153, tại điểm c khoản 1 nêu là hàng cấm, quy định này trùng lặp với điều 155 (Tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm).