Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TÁI PHẠM, TÁI PHẠM NGUY HIỂM TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. Khái niệm, các đặc điểm của tái phạm 1. Khái niệm tái phạm Trong pháp luật Việt Nam, khái niệm tái phạm được sử dụng trong nhiều ngành luật nhưng nội dung của khái niệm này lại được giải thích hoặc được hiểu khác nhau. Trong pháp luật hành chính, “tái phạm” được quy định với ý nghĩa là một tình tiết tăng nặng trách nhiệm pháp lý.
Điều 2 Luật xử lý vi phạm hành chính đưa ra khái niệm: Tái phạm là việc cá nhân, tổ chức đã bị xử lý vi phạm hành chính nhưng chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính, kể từ ngày chấp hành xong quyết định xử phạt, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính hoặc kể từ ngày hết thời hiệu thi hành quyết định này mà lại thực hiện hành vi vi phạm hành chính đã bị xử lý [36]. Theo đó một hành vi bị coi là tái phạm hành chính phải thỏa mãn hai điều kiện: 1) Trước đây chủ thể vi phạm đã từng “bị xử lý vi phạm hành chính”. Việc bị xử lý vi phạm hành chính được thể hiện dưới hình thức pháp lý là quyết định xử phạt vi phạm hành chính, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính; 2) Chủ thể tiếp tục thực hiện hành vi vi phạm đã bị xử lý trước đây trong thời gian chưa hết thời hạn coi là chưa xử lý vi phạm hành chính, kể từ ngày chấp hành xong quyết định xử phạt, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính hoặc kể từ ngày hết thời hiệu thi hành. Luật xử lý vi phạm hành chính quy định về thời hạn được coi là chưa bị xử phạt hành chính: cá nhân, tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính, nếu qua 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com một năm, kể từ ngày chấp hành xong quyết định xử phạt hoặc kể từ ngày hết thời hiệu thi hành quyết định xử phạt mà không tái phạm thì được coi như chưa bị xử phạt vi phạm hành chính.
Như vậy, do tính chất, mức độ nguy hiểm “không đáng kể” cho xã hội của vi phạm hành chính nên pháp luật chỉ coi là tái phạm đối với những hành vi vi phạm mà trước đây đã bị xử lý. Điều đó có nghĩa là hành vi vi phạm hành chính với hành vi vi phạm đã bị xử lý trước đây là cùng loại. Trong lĩnh vực luật lao động thì khái niệm tái phạm được định nghĩa: “Là trường hợp người lao động lặp lại hành vi vi phạm đã bị kỷ luật mà chưa được xóa kỷ luật” [35]. Theo khái niệm này, thì một hành vi bị coi là tái phạm khi thỏa mãn các điều kiện: 1) Trước đây chủ thể vi phạm đã từng bị kỷ luật; 2) Lần vi phạm này xảy ra khi chủ thể chưa được xóa kỷ luật.
Theo khái niệm này, thì một hành vi bị coi là tái phạm khi chủ thể vi phạm lại tiếp tục vi phạm hành vi đã vi phạm trước đây và hành vi trước đây đã bị kỷ luật nhưng chưa được xóa. Trong lĩnh vực Luật hình sự, khái niệm tái phạm lần đầu tiên được ghi nhận về mặt lập pháp trong BLHS năm 1985 và tiếp tục được sửa đổi, bổ sung, kế thừa trong BLHS năm 1999. Tuy nhiên, về mặt lý luận, khái niệm tái phạm chưa được các nhà khoa học quan tâm xây dựng. Trong khoa học pháp lý hình sự trước đây và hiện này cũng có nhiều quan điểm khác nhau về tái phạm.
Quan điểm thứ nhất: cho rằng tái phạm là sự phạm tội trở lại của kẻ phạm tội đã mãn hạn tù hoặc thi hành xong hình phạt [59, tr. Theo đó, điều kiện của tái phạm bao gồm: 1) Người thực hiện hành vi phạm tội đã bị kết án đối với hành vi phạm tội đã thực hiện trước đó; 2) Người phạm tội đã chấp hành xong hình phạt tù hoặc thi hành xong hình phạt; 3) Người phạm tội lại phạm tội mới. Theo quan điểm này thì người bị kết án nhưng chưa thi hành 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hoặc thi hành chưa xong hình phạt mà phạm tội trở lại thì không là tái phạm. Theo chúng tôi, điều kiện để xác định tái phạm trong trường hợp này là chưa đầy đủ.
Vì khi một người đã bị Toà án kết tội bằng một bản án có hiệu lực pháp luật và người đó bị áp dụng hình phạt sẽ làm nảy sinh án tích đối với người đó và án tích đó sẽ tồn tại trong một khoảng thời gian nhất định kể từ khi có bản án kết tội cho đến khi được xoá bỏ (có thể đương nhiên hoặc theo quyết định của Tòa án) mà không phụ thuộc vào việc người đó đã chấp hành hay chưa chấp hành hình phạt. Do đó, tái phạm sẽ bao gồm cả trường hợp chưa chấp hành hoặc chưa chấp hành xong hình phạt mà lại phạm tội trở lại. Quan điểm thứ hai: cho rằng tái phạm là tình trạng một người trước đã bị kết án về một tội, về sau lại phạm và bị truy tố nữa [29, tr. Theo đó, các điều kiện của tái phạm gồm: 1) Người thực hiện hành vi phạm tội đã bị kết án đối với hành vi phạm tội đã thực hiện trước đó; 2) Người phạm tội lại phạm tội mới.
Quan điểm này cũng có những điểm hạn chế nhất định. Đó là chưa việc dùng thuật ngữ “lại phạm” là chưa chính xác. Mặt khác, tác giả cũng chưa đề cập đến điều kiện người phạm tội chưa được xoá án tích của lần phạm tội trước đó. Quan điểm thứ ba: của một nhà tội phạm học người Mỹ lại cho rằng, tái phạm chỉ là trường hợp sau khi chấp hành xong hình phạt tù do đã thực hiện hành vi phạm tội trước đây không hoàn lương lại tiếp tục phạm tội [60, tr.
Theo đó, điều kiện của tái phạm bao gồm: 1) Người thực hiện hành vi phạm tội đã bị kết án đối với hành vi phạm tội đã thực hiện trước đó; 2) Người phạm tội đã chấp hành xong hình phạt tù của bản án trước; 3) Người phạm tội lại phạm tội mới. Theo quan điểm này, điều kiện của tái phạm thậm chí còn bị thu hẹp lại đó là “Người phạm tội phải chấp hành xong hình phạt và hình phạt đó phải là hình phạt tù”, như vậy những trường hợp đã bị kết án nhưng bị xử phạt không phải là hình phạt tù hoặc người bị kết án chưa thi hành xong mà 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com lại phạm tội mới thì không phải là tái phạm. Quan điểm này gần giống quan điểm thứ nhất ở chỗ tác giả lấy dấu hiệu thi hành xong hình phạt để làm căn cứ xác định tái phạm là chưa hợp lý. Quan điểm thứ tư: cho rằng tái phạm là trường hợp của người đã từng bị kết tội bởi một bản án có hiệu lực pháp luật, chưa được xoá án tích mà lại phạm tội lần nữa [30, tr.
Quan điểm này chứa đựng tương đối đầy đủ những điều kiện của tái phạm. Tuy nhiên, trong khái niệm này tác giả chưa đề cập đến điều kiện người phạm tội phải bị xử phạt vì nếu người phạm tội bị Toà án kết tội bằng một bản án có hiệu lực pháp luật nhưng người đó được miễn hình phạt thì họ sẽ được xoá án tích ngay và do đó, án tích không xuất hiện trong trường hợp này nên sẽ không có tái phạm. Quan điểm thứ năm: cho rằng tái phạm là trường hợp phạm tội sau khi đã bị xử phạt và chưa được xoá án tích về tội đã phạm trước đó [55, tr. Quan điểm này là đúng hơn cả, bởi lẽ quan điểm này đã đáp ứng đầy đủ các dấu hiệu đặc trưng của tái phạm.
Như vậy, xung quanh việc định nghĩa tái phạm, trong giới nghiên cứu khoa học luật nói chung đã tồn tại nhiều quan điểm khác nhau. Nghiên cứu các dấu hiệu pháp lý của tái phạm trong pháp luật hình sự, chúng tôi nhận thấy trong khái niệm tái phạm có các dấu hiệu chung đó là: 1) Người phạm tội trước đây đã từng phạm tội và bị kết án; 2) Người phạm tội thực hiện hai hành vi phạm tội trở lên; 3) Người phạm tội đang chấp hành hình phạt đối với hành vi phạm tội trước đây; 4) Người phạm tội đã chấp hành xong một phần hoặc toàn bộ hình phạt của bản án đã tuyên đối với hành vi phạm tội trước đó; 5) Người phạm tội có thể được xoá án tích hoặc chưa được xóa án tích đối với tội phạm đã thực hiện trước đây. Tuy nhiên, theo chúng tôi để đưa ra một định nghĩa chính xác nhất về tái phạm thì trong định nghĩa được đưa ra phải chứa đựng được bản chất pháp lý và những điều kiện đặc trưng của tái phạm. 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Thuật ngữ “tái phạm” trong tiếng Anh “recidivism” có nguồn gốc từ “recidivus” trong tiếng Latinh, có nghĩa là “sự lặp lại” [61, tr.
Còn theo từ điển tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học xuất bản năm 2010 thì Tái phạm được định nghĩa là “Mắc lại tội cũ, sai lầm cũ” [45]. Do đó tái phạm hiểu theo nghĩa rộng chính là sự lặp lại hành vi của chính mình. Hành vi đó có thể là hành vi vi phạm đạo đức, vi phạm pháp luật hay hành vi phạm tội và thường là những hành vi mà xã hội không mong muốn. Xét dưới góc độ luật hình sự, thì tái phạm được hiểu là hành vi lặp lại hành vi phạm tội của chính mình.
Do đó, một trong những dấu hiệu bắt buộc đầu tiên của tái phạm chính là “sự lặp lại hành vi phạm tội”. Hành vi phạm tội lặp lại có thể trùng lặp, cũng có thể không trùng lặp về hình thức lỗi đối với hành vi phạm tội trước đó, có thể cùng loại tội cũng có thể khác loại tội. Đặc điểm của hành vi phạm tội đã thực hiện và tính chất nghiêm trọng của nó chỉ quy định mức độ nguy hiểm của tái phạm tội đối với xã hội, là cơ sở để phân chia tái phạm thành các dạng khác nhau. “Án tích” – là một trong những dấu hiệu bắt buộc thứ hai của tái phạm đó, đây là trạng thái pháp lý của một người được quy định bằng sự kiện tuyên án của tòa án theo một mức hình phạt nhất định đối với hành vi phạm tội đã thực hiện trước đây.
Trạng thái này được kéo dài từ ngày bản án kết tội có hiệu lực pháp luật cho đến khi hết thời hạn mà pháp luật giới hạn cho họ.