Tổng quan nghiên cứu

Theo thống kê của Cục An toàn thực phẩm thuộc Bộ Y tế trong giai đoạn 2011 - 2016, cả nước đã ghi nhận 976 vụ ngộ độc thực phẩm với 30.032 người mắc và 167 ca tử vong, trong đó ngộ độc do vi sinh vật chiếm tới 33,3% tổng số vụ tập thể. Tại các đô thị miền núi như thành phố Sơn La, hoạt động giết mổ lợn đóng vai trò thiết yếu trong việc cung cấp nguồn thực phẩm tươi sống hàng ngày cho hơn 100.000 dân cư đô thị. Tuy nhiên, tính đến năm 2017, toàn thành phố có 117 điểm giết mổ nhưng đa phần là các cơ sở tự phát, hoạt động thủ công và phân tán trong khu dân cư, tạo ra nguy cơ ô nhiễm vi sinh vật nghiêm trọng vào chuỗi cung ứng thực phẩm.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm là đánh giá thực trạng cơ sở vật chất, điều kiện vệ sinh thú y và mức độ nhiễm khuẩn tại các khâu giết mổ lợn. Mục tiêu cụ thể của luận văn gồm: khảo sát hiện trạng 117 cơ sở giết mổ trên địa bàn 7 phường và 1 xã thuộc thành phố Sơn La; định lượng mức độ ô nhiễm của các chỉ tiêu vi sinh vật chỉ điểm gồm tổng số vi khuẩn hiếu khí, Coliforms, Escherichia coli và Salmonella trên mẫu nước, bề mặt sàn mổ và thân thịt; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao an toàn vệ sinh thực phẩm.

Nghiên cứu được triển khai từ tháng 10/2016 đến tháng 6/2017 tại thành phố Sơn La, kết hợp phân tích phòng thí nghiệm tại Viện Kiểm nghiệm An toàn Vệ sinh Thực phẩm Quốc gia. Về mặt ý nghĩa thực tiễn, công trình cung cấp bộ dữ liệu thực chứng với 117 mẫu nước và hàng trăm mẫu bề mặt, giúp chính quyền địa phương kiểm soát 100% nguy cơ lây nhiễm chéo và định hướng quy hoạch giết mổ tập trung.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nguyên lý kiểm soát chuỗi giá trị thực phẩm từ trang trại đến bàn ăn và lý thuyết phân tích mối nguy trong giết mổ động vật theo khuyến cáo của Tổ chức Tiêu chuẩn hóa Quốc tế ISO cùng Hội Vệ sinh Thực phẩm Thú y Thế giới WAFVH. Khung lý thuyết tích hợp quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 01-04:2009/BNNPTNT về vệ sinh thú y và QCVN 7046:2009 về tiêu chuẩn vi sinh vật đối với thịt tươi.

Hệ thống khái niệm chính bao gồm:

  • Vi sinh vật chỉ điểm vệ sinh phản ánh mức độ sạch của quy trình sản xuất qua tổng số vi khuẩn hiếu khí với ngưỡng giới hạn 10 mũ 5 CFU/g và Coliforms với giới hạn 10 mũ 2 CFU/g.
  • Vi khuẩn chỉ điểm nhiễm phân thể hiện qua mật độ Escherichia coli nhằm đánh giá mức độ tạp nhiễm từ đường tiêu hóa gia súc.
  • Vi khuẩn gây bệnh đường ruột nguy hiểm điển hình là Salmonella với quy chuẩn tuyệt đối không được phép xuất hiện trong 25g mẫu phân tích.
  • Nguyên tắc một chiều trong giết mổ phân định rõ khu sạch và khu bẩn nhằm ngăn chặn lây nhiễm chéo vi sinh vật từ chất chứa đường ruột vào thân thịt thương phẩm.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu áp dụng phương pháp dịch tễ học mô tả cắt ngang kết hợp thực nghiệm vi sinh vật học với quy mô toàn bộ 117 cơ sở giết mổ tại 8 đơn vị hành chính gồm phường Chiềng Sinh, Quyết Tâm, Quyết Thắng, Chiềng Lề, Chiềng Cơi, Tô Hiệu, Chiềng An và xã Chiềng Ngần. Phương pháp chọn mẫu toàn bộ được áp dụng nhằm bao quát 100% các điểm giết mổ thực tế đang vận hành, loại bỏ sai số chọn mẫu trong không gian đô thị. Dữ liệu thực trạng được thu thập qua bộ câu hỏi điều tra và quan sát trực tiếp theo tiêu chí của Thông tư 60/2010/TT-BNNPTNT.

Quy trình lấy mẫu thực nghiệm bao gồm 117 mẫu nước sử dụng, 117 mẫu lau bề mặt sàn và phản pha lóc diện tích 20 cm vuông, cùng 117 mẫu bề mặt thân thịt lấy tại 4 vị trí má, ngực, lưng, mông với diện tích cắt 20 đến 25 cm vuông. Toàn bộ mẫu được bảo quản lạnh trong thùng xốp cách nhiệt ở nhiệt độ dưới 4 độ C và chuyển ngay về Viện Kiểm nghiệm An toàn Vệ sinh Thực phẩm Quốc gia. Phương pháp phân tích được lựa chọn nhờ độ nhạy cao và tính chuẩn hóa quốc tế: TCVN 7928:2008 xác định tổng số vi khuẩn hiếu khí bằng gel pectin; TCVN 6848:2007 định lượng Coliforms trên môi trường VRBL; TCVN 7924-1:2008 định lượng E. coli trên thạch TBX; TCVN 4829:2005 phân lập Salmonella qua tăng sinh chọn lọc Muller-Kauffmann và môi trường XLT4, BGA. Dữ liệu được xử lý thống kê sinh học trên phần mềm Minitab 16 và Excel.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Kết quả điều tra thực trạng cho thấy 100% cơ sở giết mổ lợn tại thành phố Sơn La thuộc loại hình kinh tế hộ cá thể. Về quy mô, 116 trên 117 cơ sở chiếm 99,1% có công suất nhỏ từ 1 đến 10 con/ngày, duy nhất 1 cơ sở chiếm 0,9% đạt quy mô vừa từ 10 đến 300 con/ngày. Đáng chú ý, 98,29% cơ sở hoạt động không theo quy hoạch; 70,94% nằm xen kẽ trong khu dân cư; 100% cơ sở không có hố sát trùng ra vào và không phân định ranh giới giữa khu sạch và khu bẩn; 95,73% cơ sở xả thẳng nước thải chưa qua xử lý ra môi trường.

Về chất lượng nước giết mổ với cỡ mẫu 117, tỷ lệ mẫu không đạt tiêu chuẩn vệ sinh rất cao: 46,15% mẫu vượt ngưỡng tổng số vi khuẩn hiếu khí; 37,61% nhiễm Coliforms; 12,82% nhiễm E. coli và 5,98% dương tính với Salmonella. Trong đó, phường Tô Hiệu có tỷ lệ nhiễm Salmonella trong nước cao nhất đạt 18,18%.

Về mức độ ô nhiễm bề mặt sàn mổ, tỷ lệ mẫu không đạt chuẩn lần lượt là: tổng vi khuẩn hiếu khí 32,48%, Coliforms 31,62%, E. coli 11,11% và Salmonella 3,42%. Trên bề mặt thân thịt lợn thành phẩm, mức độ vấy nhiễm vi sinh vật ghi nhận tỷ lệ không đạt chuẩn đáng báo động: tổng vi khuẩn hiếu khí chiếm 38,46%, Coliforms chiếm 30,77%, E. coli chiếm 14,53% và Salmonella chiếm 5,98%.

Thảo luận kết quả

Sự hiện diện của vi khuẩn gây bệnh trên thân thịt và nước mổ bắt nguồn từ quy trình mổ thủ công trải sàn. Kết quả phân tích cho thấy sự tương quan thuận rõ nét giữa tỷ lệ ô nhiễm nguồn nước với 46,15% nhiễm khuẩn hiếu khí và mức độ nhiễm khuẩn trên bề mặt thân thịt với 38,46%. Dữ liệu nghiên cứu khi được tổng hợp qua bảng so sánh vi sinh vật và biểu đồ cột trực quan đã làm nổi bật các chỉ số nhiễm Coliforms 30,77% và E. coli 14,53% trên thân thịt, phản ánh tình trạng nhiễm phân trực tiếp từ đường ruột lợn trong quá trình mổ phanh và lấy phủ tạng trên nền xi măng ẩm thấp.

So sánh với nghiên cứu dịch tễ của Le Bas năm 2006 tại các lò mổ quy mô nhỏ ở miền Bắc Việt Nam từng ghi nhận tỷ lệ nước mổ nhiễm Salmonella lên đến 95%, tỷ lệ nhiễm Salmonella 5,98% trong nghiên cứu này ở mức thấp hơn nhưng vẫn tiềm ẩn nguy cơ ngộ độc cấp tính rất lớn vì chỉ cần lượng nhỏ dưới 10 tế bào vi khuẩn đã có thể gây bệnh đường ruột. Việc 100% cơ sở dùng chung dụng cụ dao thớt cho mọi công đoạn và 100% cơ sở thiếu bệ mổ nâng cao cách sàn tối thiểu 0,4m giải thích lý do vi khuẩn từ chất thải trên sàn ngấm ngược trực tiếp vào thân thịt trong suốt quá trình thao tác.

Đề xuất và khuyến nghị

  • Quy hoạch và xây dựng hệ thống cơ sở giết mổ tập trung: Ủy ban nhân dân thành phố Sơn La cần hoàn thành quy hoạch 1 đến 2 khu giết mổ tập trung đạt chuẩn QCVN 01-150:2017/BNNPTNT trước năm 2020, đặt mục tiêu dịch chuyển ít nhất 80% trong tổng số 116 cơ sở nhỏ lẻ vào hoạt động khép kín.
  • Nâng cấp hệ thống xử lý nước thải và nguồn nước cấp: Yêu cầu 100% cơ sở lắp đặt bể lắng lọc, hố ủ biogas và hệ thống khử trùng nước bằng Cloramin B trong vòng 6 tháng nhằm hạ tỷ lệ mẫu nước không đạt chuẩn vi sinh từ 46,15% xuống dưới mức 5%.
  • Chuẩn hóa quy trình vệ sinh thú y và trang thiết bị treo mổ: Chi cục Chăn nuôi và Thú y tỉnh Sơn La cần bắt buộc các hộ chuyển đổi từ phương thức mổ sàn sang bàn mổ inox cao tối thiểu 0,4m hoặc dàn treo nâng cao 1,2m, đồng thời trang bị bảo hộ lao động đạt tỷ lệ 100% cho người trực tiếp giết mổ trong giai đoạn 2018 - 2019.
  • Siết chặt công tác kiểm soát giết mổ và vận chuyển chuyên dụng: Tăng cường lực lượng thú y kiểm soát thường trực để đóng dấu kiểm dịch 100% thân thịt tại gốc trước khi đưa ra thị trường, đồng thời xóa bỏ hoàn toàn việc chở thịt trần bằng xe máy thông qua việc áp dụng 100% thùng kín chuyên dụng có bảo ôn.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Cơ quan quản lý nhà nước và cán bộ Thú y địa phương: Sử dụng số liệu khảo sát thực chứng tại 117 cơ sở để xây dựng đề án quy hoạch cơ sở giết mổ tập trung và ban hành quy chế thanh tra vệ sinh an toàn thực phẩm trên địa bàn toàn tỉnh.
  • Chủ hộ kinh doanh và chủ lò giết mổ gia súc: Nắm bắt các điểm nóng lây nhiễm vi sinh vật từ nền sàn và nguồn nước để chủ động đầu tư bệ mổ cách sàn 0,4m, trang bị bồn khử trùng dao thớt và bảo hộ lao động đạt chuẩn.
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và sinh viên ngành Thú y, Công nghệ Thực phẩm: Kế thừa quy trình phân tích 4 chỉ tiêu vi sinh vật theo tiêu chuẩn TCVN và phương pháp điều tra dịch tễ học thực địa làm tài liệu tham khảo cho các công trình nghiên cứu chuyên sâu.
  • Doanh nghiệp chuỗi cung ứng thực phẩm và hệ thống bán lẻ: Áp dụng các tiêu chí đánh giá vi sinh vật trên thân thịt với tỷ lệ nhiễm Salmonella dưới 0% và tổng vi khuẩn hiếu khí dưới 10 mũ 5 CFU/g làm bộ tiêu chuẩn kiểm soát chất lượng thu mua thịt lợn sạch.

Câu hỏi thường gặp

1. Tỷ lệ nhiễm vi khuẩn Salmonella trong nước giết mổ tại thành phố Sơn La là bao nhiêu?
Theo kết quả xét nghiệm trên 117 mẫu nước, có 5,98% số mẫu bị nhiễm Salmonella, không đáp ứng quy chuẩn QCVN 01:2009/BYT. Đáng lưu ý, các mẫu nước tại phường Tô Hiệu có tỷ lệ nhiễm cao nhất lên tới 18,18%, tạo nguy cơ trực tiếp làm ô nhiễm thân thịt trong quá trình rửa làm sạch sau mổ.

2. Nguyên nhân chính khiến 38,46% mẫu thịt lợn bị nhiễm vi khuẩn hiếu khí vượt chuẩn là gì?
Nguyên nhân chủ yếu do 100% cơ sở thực hiện giết mổ thủ công ngay trên nền xi măng ẩm ướt, không phân định khu sạch và khu bẩn, kết hợp với việc 100% dụng cụ dao thớt dùng chung và 46,15% nguồn nước rửa bị nhiễm vi khuẩn hiếu khí từ trước.

3. Tại sao chỉ tiêu E. coli trên thân thịt lại ghi nhận tỷ lệ không đạt 14,53%?
E. coli là vi khuẩn chỉ điểm nhiễm phân. Tỷ lệ 14,53% mẫu thịt nhiễm khuẩn là hệ quả của kỹ thuật mổ lấy nội tạng thủ công chưa chuẩn xác làm rách ống tiêu hóa, kết hợp thói quen để phủ tạng tiếp xúc trực tiếp với thân thịt trên sàn mổ.

4. Luận văn đã áp dụng những tiêu chuẩn quốc gia nào để kiểm nghiệm vi sinh vật?
Nghiên cứu áp dụng TCVN 7928:2008 cho tổng vi khuẩn hiếu khí, TCVN 6848:2007 định lượng Coliforms, TCVN 7924-1:2008 định lượng E. coli và TCVN 4829:2005 phân lập Salmonella trên hệ thống môi trường nuôi cấy chuyên biệt tại Viện Kiểm nghiệm An toàn Vệ sinh Thực phẩm Quốc gia.

5. Phương tiện vận chuyển thịt lợn tại Sơn La có đáp ứng yêu cầu vệ sinh thú y không?
Có tới 85,47% phương tiện vận chuyển không có thùng kín chuyên dụng và 100% phương tiện không được vệ sinh khử trùng. Thịt lợn sau mổ chủ yếu được vận chuyển hở bằng xe máy của gia đình để mang ra các chợ dân sinh tiêu thụ.

Kết luận

  • Khảo sát toàn diện 117 cơ sở giết mổ tại thành phố Sơn La ghi nhận 99,1% có quy mô nhỏ lẻ dưới 10 con/ngày, 100% mang tính hộ cá thể và 100% thiếu phân khu sạch - bẩn.
  • Tỷ lệ ô nhiễm vi sinh vật nghiêm trọng trong nước giết mổ với 46,15% không đạt tổng vi khuẩn hiếu khí, 37,61% nhiễm Coliforms, 12,82% nhiễm E. coli và 5,98% nhiễm Salmonella.
  • Bề mặt thân thịt xuất xưởng có mức độ vấy nhiễm cao: 38,46% mẫu vượt ngưỡng vi khuẩn hiếu khí, 30,77% nhiễm Coliforms, 14,53% nhiễm E. coli và 5,98% nhiễm Salmonella.
  • Hệ thống hạ tầng xử lý chất thải yếu kém với 95,73% cơ sở xả thải trực tiếp và 85,47% phương tiện vận chuyển không che chắn kín.
  • Đóng góp chính của luận văn là cung cấp bức tranh thực chứng rõ nét về an toàn sinh học vùng cao, làm tiền đề thực thi lộ trình quy hoạch giết mổ tập trung giai đoạn 2018 - 2025.

Các cơ quan quản lý và đơn vị kinh doanh cần nhanh chóng áp dụng đồng bộ các khuyến nghị công nghệ và quản lý trong luận văn để bảo vệ sức khỏe cộng đồng.