Nghiên Cứu Về Sâu Hại Trên Cây Thầu Dầu

Nghiên cứu đặc điểm sinh vật học các loài sâu hại cây thầu dầu tại Xuân Mai, Chương Mỹ, Hà Nội nhằm đề xuất biện pháp phòng trừ hiệu quả.

Trường đại học

Trường Đại Học Nông Nghiệp

Chuyên ngành

Nông Nghiệp

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn

2023

71
3
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Nghiên Cứu Sâu Hại Thầu Dầu Giới Thiệu Chung

Cây thầu dầu (Ricinus communis L.) hay còn gọi là dầu ve, tỳ ma, đu đủ tía, là một cây trồng có giá trị kinh tế cao. Hạt thầu dầu chứa 40-60% dầu, được sử dụng rộng rãi trong công nghiệp, y học và làm nhiên liệu sinh học. Tuy nhiên, trong quá trình canh tác, cây thầu dầu thường bị tấn công bởi nhiều loài sâu hại thầu dầu, ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng. Việc nghiên cứu về các loài sâu hại này, đặc điểm sinh học và biện pháp phòng trừ là vô cùng quan trọng để bảo vệ và phát triển cây thầu dầu bền vững. Theo tài liệu “Trung thảo dược” năm 2007 cây Thầu dầu còn có tên Sesamum indicum Linn dùng để làm thuốc chữa nhiều bệnh.

1.1. Giá Trị Kinh Tế và Ứng Dụng Đa Dạng của Cây Thầu Dầu

Cây thầu dầu không chỉ là nguồn cung cấp dầu quan trọng mà còn được sử dụng triệt để từ lá, thân, cành, ngọn, hạt, rễ. Dầu thầu dầu có nhiều ứng dụng trong công nghiệp (dầu bôi trơn), y học (chữa bệnh), và làm nhiên liệu sinh học. Theo phân tích của Công ty công nghiệp Quý Châu, dầu Thầu dầu có 70% dầu, 18% protein trong dầu chủ yếu có 80% ricinoleic acid. Đặc biệt, dầu thầu dầu không biến chất ở nhiệt độ cao và không đông đặc ở nhiệt độ thấp, là nguyên liệu duy nhất dùng bôi trơn máy bay.

1.2. Tầm Quan Trọng của Nghiên Cứu Sâu Bệnh Hại Thầu Dầu

Việc nghiên cứu về sâu bệnh hại thầu dầu là cần thiết để đảm bảo năng suất và chất lượng cây trồng. Các loài sâu hại có thể gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sinh trưởng, phát triển và khả năng hình thành hoa quả của cây thầu dầu. Theo Liu Wenrong (1991), đã đề cập đến 94 loài sâu hại, 9 loài bệnh hại. Việc xác định các loài sâu hại chủ yếu, đặc điểm sinh học và biện pháp phòng trừ hiệu quả là yếu tố then chốt để bảo vệ cây thầu dầu.

II. Thực Trạng Sâu Bệnh Hại Cây Thầu Dầu Vấn Đề Cấp Thiết

Trong quá trình canh tác cây thầu dầu, việc đối mặt với các loài sâu bệnh hại là điều không thể tránh khỏi. Các loài sâu hại này gây ảnh hưởng lớn đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của cây, gây ra không ít khó khăn cho người trồng. Tình hình sâu bệnh hại thầu dầu ngày càng trở nên phức tạp do biến đổi khí hậu, sử dụng thuốc bảo vệ thực vật không hợp lý và thiếu kiến thức về phòng trừ tổng hợp. Để giải quyết vấn đề này, cần có những nghiên cứu chuyên sâu về thành phần loài, đặc điểm sinh học và biện pháp phòng trừ hiệu quả.

2.1. Các Loại Sâu Hại Phổ Biến Trên Cây Thầu Dầu

Nhiều loại sâu hại tấn công cây thầu dầu, bao gồm sâu ăn lá, sâu đục thân, rệp sáp, bọ trĩ và các loài sâu hại quả. Mỗi loài sâu hại có đặc điểm sinh học và gây hại khác nhau, đòi hỏi các biện pháp phòng trừ riêng biệt. Đáng quan tâm là nhiều loài thuộc họ Ngài đêm và Ngài độc hại Thầu dầu nhiều tài liệu của Trung Quốc đã đề cập đến. Tác giả Liu đã mô tả 8 loài thuộc họ Ngài đêm 8 loài thuộc họ sâu róm là những loài ăn hại lá Thầu dầu.

2.2. Ảnh Hưởng Của Sâu Bệnh Đến Năng Suất và Chất Lượng Thầu Dầu

Sâu bệnh hại có thể gây giảm năng suất và chất lượng thầu dầu đáng kể. Sâu ăn lá làm giảm khả năng quang hợp của cây, sâu đục thân gây chết cành, chết cây, rệp sáp và bọ trĩ hút nhựa cây làm suy yếu sinh trưởng. Các bệnh hại như thối rễ, đốm lá cũng ảnh hưởng đến sức khỏe của cây và làm giảm năng suất. Theo dự báo đến năm 2010 2 năng suất hạt Thầu dầu có thể lên tới 5.năm, nhưng cũng chỉ đáp ứng được một nửa nhu cầu.

III. Cách Nhận Biết Sâu Bệnh Hại Thầu Dầu Hướng Dẫn Chi Tiết

Việc nhận biết sâu bệnh hại thầu dầu sớm và chính xác là yếu tố quan trọng để có biện pháp phòng trừ kịp thời và hiệu quả. Mỗi loài sâu bệnh có những triệu chứng và dấu hiệu đặc trưng, giúp người trồng dễ dàng phát hiện và đưa ra các biện pháp xử lý phù hợp. Việc quan sát kỹ cây trồng, kiểm tra lá, thân, quả và rễ thường xuyên sẽ giúp phát hiện sớm các dấu hiệu bất thường.

3.1. Dấu Hiệu Nhận Biết Sâu Ăn Lá và Sâu Đục Thân Thầu Dầu

Sâu ăn lá thường để lại các vết gặm nhấm trên lá, làm thủng lá hoặc ăn trụi lá. Sâu đục thân tạo ra các lỗ trên thân cây, có thể kèm theo phân sâu hoặc dịch chảy ra. Cần quan sát kỹ các dấu hiệu này để xác định loài sâu hại và mức độ gây hại. Các loài khác như Bọ nẹt ăn lá (Iragoides conjuncta Walker) Sâu róm vàng ăn lá Thầu dầu (Melanoglaphia sp.) Bọ hung ăn lá Thầu dầu (Holotrichia parallela Mots.) sâu róm 4 túm lông Euproctis cryptosticta đã được Liu mô tả kỹ.

3.2. Cách Phát Hiện Rệp Sáp Bọ Trĩ và Bệnh Hại Trên Thầu Dầu

Rệp sáp thường bám trên lá, thân và quả, tạo thành các mảng trắng như bông. Bọ trĩ gây ra các vết chấm nhỏ màu trắng hoặc vàng trên lá, làm lá bị xoăn lại. Các bệnh hại như thối rễ làm cây héo úa, đốm lá tạo ra các vết đốm màu nâu hoặc đen trên lá. Về sâu hại đáng quan tâm là tác giả đã mô tả các họ ve lá (rầy) Rệp sáp, Rệp, Bọ xít, Bọ trĩ, thuộc các loại sâu chích hút, gây ra tác hại nghiêm trọng đến lá Thầu dầu.

IV. Biện Pháp Phòng Trừ Sâu Bệnh Thầu Dầu Giải Pháp Hiệu Quả

Để phòng trừ sâu bệnh hại thầu dầu hiệu quả, cần áp dụng các biện pháp tổng hợp, kết hợp giữa biện pháp canh tác, sinh học và hóa học. Biện pháp canh tác bao gồm chọn giống kháng bệnh, luân canh, vệ sinh đồng ruộng. Biện pháp sinh học sử dụng thiên địch để kiểm soát sâu hại. Biện pháp hóa học sử dụng thuốc bảo vệ thực vật khi cần thiết, tuân thủ nguyên tắc 4 đúng.

4.1. Biện Pháp Canh Tác và Sinh Học Trong Phòng Trừ Sâu Bệnh

Biện pháp canh tác giúp tạo môi trường bất lợi cho sâu bệnh phát triển. Chọn giống kháng bệnh giúp giảm thiểu nguy cơ bị tấn công. Luân canh giúp cắt đứt vòng đời của sâu bệnh. Vệ sinh đồng ruộng loại bỏ nguồn bệnh và nơi trú ẩn của sâu hại. Biện pháp sinh học sử dụng thiên địch như ong ký sinh, bọ rùa để kiểm soát sâu hại một cách tự nhiên. Một số loài vòi voi (Apionc crchori) sâu đo giả (Trichoplusia ni Hubner) sâu bắc cầu (Anomis fimbriago Stephen) sâu ngài đêm vân lệch (Prodenia litura) cũng đã được nhiều tác giả ngoài nước như Ấn Độ, Trung Quốc mô tả đặc điểm hình thái, sinh vật học và phòng trừ bằng chế phẩm Boverin khá hiệu quả.

4.2. Sử Dụng Thuốc Bảo Vệ Thực Vật An Toàn và Hiệu Quả

Khi cần thiết sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, cần tuân thủ nguyên tắc 4 đúng: đúng thuốc, đúng liều lượng, đúng thời điểm và đúng cách. Chọn thuốc có tính chọn lọc cao, ít ảnh hưởng đến thiên địch và môi trường. Sử dụng thuốc theo hướng dẫn của nhà sản xuất và cán bộ kỹ thuật. Phun thuốc vào thời điểm sâu bệnh dễ bị tiêu diệt nhất. Đảm bảo an toàn cho người phun thuốc và môi trường xung quanh. Nếu mật độ thiên địch trên 50% không cần áp dụng thuốc để trừ ruồi, nhưng nếu mật số thiên địch thấp, không thể khống chế mật số ruồi thì nên áp dụng thuốc khi cây con bắt đầu có lá mầm và lá thật đầu tiên.

V. Ứng Dụng IPM Quản Lý Dịch Hại Tổng Hợp Trên Cây Thầu Dầu

Quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) là một phương pháp tiếp cận toàn diện để kiểm soát sâu bệnh hại, kết hợp nhiều biện pháp khác nhau để giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường và sức khỏe con người. IPM trên cây thầu dầu bao gồm giám sát thường xuyên, xác định ngưỡng gây hại, áp dụng các biện pháp phòng ngừa và can thiệp khi cần thiết.

5.1. Giám Sát và Xác Định Ngưỡng Gây Hại Của Sâu Bệnh

Giám sát thường xuyên giúp phát hiện sớm các dấu hiệu của sâu bệnh hại. Xác định ngưỡng gây hại giúp quyết định thời điểm can thiệp, tránh sử dụng thuốc bảo vệ thực vật quá mức. Cần theo dõi mật độ sâu bệnh, mức độ gây hại và điều kiện thời tiết để đưa ra quyết định phù hợp. IPM Integrated Pest Management (Quản lý vật gây hại tổng hợp)

5.2. Các Biện Pháp Phòng Ngừa và Can Thiệp Trong IPM

Các biện pháp phòng ngừa bao gồm chọn giống kháng bệnh, luân canh, vệ sinh đồng ruộng và tạo môi trường thuận lợi cho thiên địch phát triển. Các biện pháp can thiệp bao gồm sử dụng thuốc bảo vệ thực vật có chọn lọc, bẫy côn trùng và các biện pháp sinh học khác. Cần lựa chọn biện pháp phù hợp với từng giai đoạn sinh trưởng của cây và điều kiện cụ thể của từng vùng trồng.

VI. Kết Luận và Hướng Nghiên Cứu Về Sâu Hại Thầu Dầu Tương Lai

Nghiên cứu về sâu hại thầu dầu là một lĩnh vực quan trọng, góp phần vào sự phát triển bền vững của ngành trồng thầu dầu. Việc xác định các loài sâu hại chủ yếu, đặc điểm sinh học và biện pháp phòng trừ hiệu quả là yếu tố then chốt để bảo vệ cây trồng và nâng cao năng suất. Trong tương lai, cần tiếp tục nghiên cứu về các giống thầu dầu kháng bệnh, các biện pháp sinh học mới và các phương pháp quản lý dịch hại tiên tiến.

6.1. Tóm Tắt Các Kết Quả Nghiên Cứu Chính Về Sâu Bệnh Thầu Dầu

Các nghiên cứu đã xác định được nhiều loài sâu hại và bệnh hại quan trọng trên cây thầu dầu, đồng thời đề xuất các biện pháp phòng trừ hiệu quả. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều vấn đề cần được nghiên cứu sâu hơn, như tác động của biến đổi khí hậu đến sự phát triển của sâu bệnh, khả năng kháng thuốc của sâu hại và hiệu quả của các biện pháp sinh học mới.

6.2. Hướng Nghiên Cứu và Phát Triển Trong Tương Lai

Trong tương lai, cần tập trung vào nghiên cứu các giống thầu dầu kháng bệnh, phát triển các biện pháp sinh học mới và xây dựng các hệ thống quản lý dịch hại thông minh. Đồng thời, cần tăng cường hợp tác giữa các nhà khoa học, nhà quản lý và người trồng để chia sẻ kiến thức và kinh nghiệm, góp phần vào sự phát triển bền vững của ngành trồng thầu dầu.

06/06/2025
Nghiên cứu đặc điểm sinh vật học một số loài sâu hại chủ yếu cây thầu dầu làm cơ sở cho việc đề xuất phòng trừ tổng hợp tại thị trấn xuân mai huyện chương mỹ thành phố hà n

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Thầu dầu là loài cây bụi dạng thân thảo thường xanh sống 1 năm hoặc nhiều năm, cao 2m - 5m. Thân màu xanh hoặc màu đỏ tím, tròn dạng thuỗn, đường kính 15mm – 30mm, dạng xẻ thùy nứt 7 - 8 phiến, mép có răng cưa. Đỉnh mọc hoa tổng trạng hoặc dạng chùy, hoa đực, hoa cái cùng cây, hoa đực mọc phía dưới, hoa cái mọc phía trên; thuộc về cây truyền phấn khác hoa, đài hoa 3 - 5 cánh; hoa đực dạng phân nhánh, hoa cái có tâm bì hình trứng, mọc đầy gai, có 3 buồng. Quả khô hình cầu, có gai.

Kỳ ra hoa vào tháng 7 - 9, kỳ ra quả tháng 10. Thu hái quả chín vào mùa thu, phơi khô bóc vỏ, thu hạt. Hạt hình bầu dục hơi dẹt, dài 0,9cm - 1,8cm, rộng 0,5cm - 1cm. Bề mặt nhẵn một mặt lồi lên.

Phía mặt phẳng có 1 đường lồi một đầu có một tủy hạt lồi màu trắng xám hoặc nâu nhạt, phôi nhũ dày, màu trắng, chứa nhiều dầu, 2 lá mầm, mỏng. Thành phần hoá học của hạt có nhiều lipid, trong đó có ricinoleic acid, oleic acid, ricin, acid ricin, basic ricin, ricinine, apigenin, chlorogenic acid, rutin. Cây Thầu dầu ưa ấm, hạt Thầu dầu trên 10oC mới nẩy mầm, khi nhiệt độ 10 - 30oC nẩy mầm cao và nhanh, nhiệt độ 15oC sau 4 - 5 ngày tỷ lệ nẩy mầm đạt 98,5%, nhiệt độ 20oC cần 3 - 4 ngày, nhiệt độ 30oC chỉ cần 2 - 3 ngày. Nhiệt độ cao hơn 35oC tỷ lệ nẩy mầm bị ức chế.

Ngoài đồng ruộng nhiệt độ bình quân ngày đêm 15 - 18oC, đủ nước, độ phì vừa phải, phải qua 15 - 17 ngày sẽ mọc cây con 50% ( Zhong Deyu, 2011) Thầu dầu không chịu rét, nhiệt độ 0,8 - 1oC cây con sẽ bị chết, nếu dưới 3oC, lá Thầu dầu sẽ bị khô héo. Thầu dầu muốn hoàn thành quá trình sinh trưởng phát triển phải có đủ ánh sáng và nhiệt lượng. Từ khi mọc cây con đến khi cây thành thục, tích ôn hữu hiệu ngày đêm phải đạt 3. 4 Tại vùng nhiệt đới nếu tưới nước vào tháng 3, sẽ xúc tiến ra nụ hoa, tháng 5, 6, 7 ra quả.

Trong thời kỳ này cần tiến hành tỉa cành, bón phân, quản lý. Tháng 9, 10 một số vùng núi, nhiệt độ thấp có thể khó chín quả. Đối với nước Thầu dầu cũng cần một lượng nhất định. Hạt nẩy mầm là giai đoạn cần nước, sau khi nẩy mầm tuỳ theo chất đất khác nhau, nhu cầu nước trong đất khác nhau.

Trong đất pha cát, độ ẩm đất đủ để nẩy mầm, nhưng nẩy mầm chậm; độ ẩm đất lên tới 16 - 18% nẩy mầm nhanh và đều hơn. Trong đất thịt gần núi đá vôi, nước trong đất phải đạt trên 20%, thích hợp nhất là 22 - 24%. Trong kỳ sinh trưởng và ra hoa, độ ẩm đất cần 30 - 40% (ẩm nhưng không trũng nước), độ ẩm không khí phải trên 65%, lượng mưa duới 50mm, phải tiến hành tưới nước. Tại các vùng núi ven sông, khi ra hoa nếu khô quá, lại bị gió nóng về luôn xẩy ra hiện tượng khô nhụy, khó thụ phấn, hoa không kết quả, tâm bì rụng nhiều, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản lượng.

Nhưng nếu độ ẩm quá lớn sẽ gây ra thối hạt, thối mầm, thối rễ, cây bị khô héo. Đối với pH đất Thầu dầu có tính thích ứng rộng, nói chung pH 4,5-8,5. Một số tài liệu đã đề cập đến cây Thầu dầu làm thuốc chữa bệnh như sau: Theo tài liệu của Fan Shaomei (2007) mô tả: rễ, thân lá, quả, hạt có tác dụng giải độc, chữa trụy sản rễ dùng để chữa phong thấp đau khớp, sưng vết thương, viêm ống mạch, tê thần kinh mặt, viêm loét dạ dày và tá tràng; lá dùng để chữa viêm tuyến vú, nhọt, cảm cúm, kiết lỵ, sa tử cung, chữa đẻ khó; hạt Thầu dầu có thể chữa kết hạch limpha, đẻ khó, sa tử cung. Dầu Thầu dầu có thể chữa bí đại tiện.

Về vấn đề sâu bệnh hại cây Thầu dầu, nhiều tài liệu đề cập đến một số loài sâu róm, bệnh thối cổ rễ, bệnh đốm lá gây ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất cây Thầu dầu. Tình hình nghiên cứu ngoài nước Từ năm 2000 đến nay do nhu cầu về nhiên liệu sạch thay thế dầu khí cạn kiệt và gây ô nhiễm môi trường đang trở thành nhu cầu không thể thiếu được. Cho nên, nhiều nước đã phát triển các loài Thầu dầu lai cho năng xuất cao. Các nước có Thầu dầu phân bố là Angola, Kenia, Xudang, Ecuador, Paraguay, Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia, Iran, Thái Lan, Nga, Rumania.

Các nước có sản xuất dầu từ Thầu dầu là: Ấn Độ, Trung Quốc, Brazin, Philippin, Pakistan và Nga. Theo thống kê năm 1985 - 1986 đạt 1.800 tấn, năm 1987 - 1988 là 883 nghìn tấn, năm 1989 - 1990 tổng sản lượng hạt Thầu dầu là 1. Các nước nhập khẩu dầu là Pháp, Mỹ, Nga, Nhật, Đức, Anh, Hà Lan. Ngày nay nước sản xuất hạt nhiều nhất là Ấn Độ (72%) Trung Quốc (20%), Brazin (8%).

Diện tích trồng Thầu dầu trên thế giới là 1. Hàng năm thế giới cần 700.000 tấn dầu, mà khả năng cung cấp chỉ được một nửa.(Zhong Deyu, 2011) Dầu Thầu dầu lấy từ hạt được 50%, lấy từ hạt bóc vỏ được 70%, hàm lượng protein 18%. Theo Po Wenwei (2011) lượng dầu Thầu dầu thế giới chỉ 2,5 triệu tấn, không đủ nguyên liệu để chế biến dầu của các nhà máy. Giá hạt Thầu dầu hiện nay là 16.000 NDT/tấn ≈ 50 triệu VND dùng cho nhu cầu dầu đốt sinh học.

Năm 2008 Trung Quốc cần 12 triệu 400.000 tấn dầu sinh học. Về ý nghĩa kinh tế cây Thâu dầu: Phải nói rằng cây Thầu dầu là cây được sử dụng khá triệt để từ lá, cành, ngọn, hạt, rễ không loại bỏ một phần nào. Hiện nay sản phẩm Thầu dầu không chỉ là nhu cầu trong nước mà cả trên thế giới. Thầu dầu có giá trị kinh tế rất cao tỷ lệ cho dầu đạt 40 – 60% [hạt Cọc rào (Jatropha curcas) chỉ đạt 20 – 30%].

Theo phân tích của Công ty công nghiệp Quý Châu, dầu Thầu dầu có 70% dầu, 18% protein trong dầu chủ yếu có 80% ricinoleic acid. Thầu dầu không chỉ là nguyên liệu quan trọng mà còn là sản phẩm dầu “ màu xanh” hay “ nhiên liệu sinh học” thay thế dầu khí. Dầu 6 Thầu dầu còn chứa nhớt nên làm dầu bôi trơn trong công nghiệp, làm dầu ăn, hương liệu, làm thuốc chữa bệnh, hóa mỹ phẩm, thuốc nhuộm, sợi nilon, chất dẻo, xà phòng, mực in, dầu máy, dầu da giầy. Một đặc tính quan trọng của dầu Thầu dầu là không biến chất khi nhiệt độ cao 500 - 600oC, không đông đặc ở nhiệt độ thấp dưới - 18oC.

Cho nên dầu Thầu dầu là nguyên liệu duy nhất dùng bôi trơn máy bay, tàu thuyền, xe ô tô và các máy móc tinh vi. Theo phân tích của Mỹ, Tây Âu, dầu Thầu dầu có hơn 3.000 chất hoá học, nếu cần 1 tấn nilon -11 - chất (nếu cách nhiệt cường độ cao) cũng cần 3 - 4 tấn hạt Thầu dầu. Theo tính toán năm 2010 cần 1 triệu tấn dầu, phải cần 2,4 triệu tấn hạt Thầu dầu. Cũng theo điều tra của các chuyên gia Trung Quốc, hiện nay thị trường thế giới cần 10 triệu tấn hạt Thầu dầu mỗi năm, nhưng tổng sản lượng chỉ đạt 2 triệu tấn/năm.

Theo dự báo đến năm 2010 năng xuất hạt Thầu dầu có thể lên tới 5.năm, nhưng cũng chỉ đáp ứng được một nửa nhu cầu. Hạt Thầu dầu cũng dùng để chữa tiêu viêm, trừ tả, kết hạch đại tiện, kiết lỵ, viêm mũi họng. Một tài liệu của Thái Lan cho biết, thuốc Ayurverdic từ lâu đã được sử dụng dầu Thầu dầu chữa đau thần kinh tọa, đau lưng và thấp khớp. Tại quần đảo Canary dầu Thầu dầu được sử dụng để ngăn ngừa núm vú bị đau ở bà mẹ cho con bú và cũng được cọ xát vào tóc để ngăn ngừa rụng tóc sau khi sinh.

Cũng theo nhiều tài liệu nước ngoài lá Thầu dầu có thể nuôi tằm. Mỗi ha cho 15.000 con tằm chỉ cần 350kg thu được 4kg tơ, 15 – 20kg nhộng cho thu nhập 1 triệu đến 1,2 triệu VNĐ (tính chuyển đổi), thu được 150kg phân tằm đây là loại phân rất tốt. Như vậy nếu chỉ thu nhập từ lá Thầu dầu đã được 5 -7 triệu đồng/ha. Một số tài liệu trong và ngoài nước đều đề cập đến bã ép Thầu dầu chứa 7 nhiều protein, axit amin nên có thể làm thức ăn gia xúc sau khi khử chất độc ricin.

Cây Thầu dầu có mọc ở các vùng đất hoang hóa trong đó phần lớn là ở miền núi tạo cho dân nghèo có nguồn thu nhập rõ rệt cũng còn có thể lục hóa đồi trọc và có hiệu ích sinh thái rõ rệt. Hiện nay, Ấn Độ, Thái Lan, Trung Quốc là những nước phát triển cây Thầu dầu rất mạnh. Họ đã lai tạo được các giống mới cao sản như giống Sơn Đông, giống Quý Châu, giống Vân Nam, giống Thái Lan. Năng xuất từ 1.

Về tác dụng của Thầu dầu nhiều tài liệu của Trung Quốc đề cập đến thành phần hoá học y dược như Protein 18%-26%oil 64%-71% , Carbohydrate 2%,Phe-nolic dubstance 2.50%, Ricin và Ricinine 0.15%, Triglyceridev và Glycerol ester còn có một số ít các chất Sterol, Phospholipid , Free fattyacid , Hydrocarbon,Wax , Ricinoleic acid 84%- 91% , Oleic acid 3. Trong đó, Phosphatidyl ethanolamine 83%,Phosphatidyl choline 13% Chúng có thể chữa được 17 loại bệnh trong cơ thể con người đặc biệt là các bệnh về nội tạng. Về sâu hại Thầu dầu có thể nói như cây nông nghiệp khác có rất nhiều loài sâu và đã được các tác giả Trung Quốc, Ấn Độ nghiên cứu đến. Trong các tài liệu về sâu hại Thầu dầu phải kể đến Liu Wenrong (1991) đã đề cập đến 94 loài sâu hại, 9 loài bệnh hại.

Trong đó, có Ruồi đục lá Thầu dầu Liriomyza trifolii (Burgess). Họ: Agromyzyiidae; Bộ Hai Cánh (Diptera) và đã mô tả như sau: Sâu trưởng thành rất nhỏ, dài từ 1,3 - 1,5 mm, màu đen bóng, nhưng một phần cơ thể, gồm cả phiến mai trên ngực có màu vàng. Mắt kép màu đen bóng. 8 Cánh trước có chiều dài khoảng 1,4 mm, rộng 0,60 mm.

Cánh sau thoái hóa còn rất nhỏ, màu vàng nhạt. Bụng và chân có nhiều lông, chân màu vàng, đốt chày và đốt bàn màu đen, bàn chân 5 đốt, đốt cuối có 2 móng cong màu đen. Trứng rất nhỏ, màu trắng hồng, tròn, đường kính khoảng 0,2 mm. Ấu trùng có chiều dài khoảng 2mm, màu vàng nhạt khi mới nở, sau chuyển thành màu vàng đậm.

Cơ thể có 10 đốt, miệng dạng móc câu màu đen. Thời gian phát triển của ấu trùng từ 3 - 4 ngày. Nhộng có chiều dài khoảng 1,5mm, rộng 0,7mm. Thời gian phát triển của nhộng từ 6 - 8 ngày.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên Cứu Về Sâu Hại Trên Cây Thầu Dầu: Tình Hình, Đặc Điểm và Biện Pháp Phòng Trừ" cung cấp cái nhìn sâu sắc về các loại sâu hại ảnh hưởng đến cây thầu dầu, bao gồm tình hình hiện tại, đặc điểm sinh học của chúng và các biện pháp phòng trừ hiệu quả. Bài viết không chỉ giúp người đọc hiểu rõ hơn về mối đe dọa từ sâu hại mà còn đưa ra những giải pháp cụ thể để bảo vệ cây trồng, từ đó nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm nông nghiệp.

Để mở rộng kiến thức của bạn về các vấn đề liên quan, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Đặc điểm sinh học sinh thái học và biện pháp phòng trừ một số loài sâu hại chính trên cây keo tai tượng acacia mangium tại huyện đô lương tỉnh nghệ an, nơi bạn sẽ tìm thấy thông tin về các loài sâu hại khác và biện pháp phòng trừ tương ứng. Ngoài ra, tài liệu Nghiên cứu đề xuất biện pháp quản lý tổng hợp sâu hại keo tai tượng acacia mangium tại mộc châu sơn la sẽ cung cấp cho bạn những chiến lược quản lý sâu hại tổng hợp, giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về vấn đề này. Cuối cùng, tài liệu Nghiên cứu đặc điểm sinh học loài sâu hại vỏ quế tại huyện nam trà my tỉnh quảng nam cũng là một nguồn tài liệu quý giá để bạn tìm hiểu thêm về các loại sâu hại khác và cách phòng trừ chúng.

Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức và áp dụng hiệu quả hơn trong công tác phòng trừ sâu hại cho cây trồng của mình.