Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới 1. Nghiên cứu về thành phần sâu hại cây Quế Thành phần loài sâu hại lá Tại Ấn Độ Ayyar (1940), Mani (1973), Singh và đồng tác giả (1978), Butani (1983), Anandaraj và đồng tác giả (2001), đã ghi nhận có 5 loài sâu hại lá, 1 loài Pauropsylla depressa gây u bướu lá, 1 loài sâu róm Euproctis fraterna ăn lá, loài sâu Orthaga vitialis ăn lá có thể làm chết chồi cây Quế; cảnh báo xâm nhập của loài Conopomorpha civica và loài Phyllocnistis chrysophthalma đục lá Quế. Ngoài ra, tại Ấn Độ còn xác định có 2 loài sâu hại chính trên cây Quế là loài sâu ăn lá Chilasa clytia và loài sâu đục lá Conopomorpha civica (Devashayam et al.
Theo tác giả Rajapakse và Kulasekera (1982), xác định thành phần loài sâu hại Quế ở Sri Lanka gồm có sâu ăn lá Attacus atlas và Agroploce aprobola; rệp sáp Ceroplastes rubens, bọ xít chích hút chồi cây Coptosoma pygmaeum, ve sầu sừng Leptocentrus obliquus, bọ cánh cứng Leucopholis pinguis; các loài sâu này gây hại lá Quế làm ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây. Một số loài sâu gây hại chính như: loài sâu hại lá Chilasa clytia, loài Graphium sarpedon, loài Orthaga vitialis, loài Dasychira mendosa và loài Acrocercops spp. Tại Indonesia một số loài sâu hại lá Quế như Chilasa clytia, Aerocercops spp., Sorolopba arebimadias và Gryllotalpa spp., làm ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây (Dao et al. Loài sâu Cricula trifenestrata ăn lá hại một số loài cây thuộc họ Lauraceae, cụ thể loài Cinnamomum glanduliferum, C.
glaucescens ở Đông Bắc Ấn Độ, loài C. zeylanicum ở Sri Lanka và vùng Đông Bắc Á; loài Litsea cubeba ở Ấn Độ và loài bơ Persea bombycina ở Ấn Độ, Nepal và vùng Đông Nam (Amalendu et al. Cũng theo tác giả Orwa và đồng tác giả (2009) 5 cây bơ bị các loài sâu hại chính như: Epimecis detexta, Protopulvinaria pyriformis, Chrysomphalus dictyospermi, Oligonychus yothersi, Acysta perseae, Selenothrips rubrocinctus và loài mọt hại thân cành Ambrosia beetles, Xylosandrus spp., chúng làm ảnh hưởng đến năng xuất quả cây bơ. Các nhà khoa học trên thế giới đã ghi nhận được hơn 70 loài sâu, bệnh hại Quế, đặc biệt là ở Ấn độ và Sri Lanka.
Tuy nhiên, thông tin về sâu, bệnh hại trên 3 loài Quế là Cinnamomum cassia, C. tamata vẫn còn hạn chế; nhưng đã xác định được một số loài như: Chilasa clytia, Conopomorpha civica, Orthaga vitalis và Popillia complanata (Anandaraj and Devasahayam, 2004). Ở Sri Lanka sâu, bệnh hại Quế làm ảnh hưởng rất lớn đến năng suất và chất lượng tinh dầu Quế, nếu rừng Quế bị sâu, bệnh hại năng suất có thể giảm 20%, với các bệnh phổ biến là sâu ăn lá, bệnh đốm lá, hoặc muội lá. Do đó trong quá trình trồng Quế cần quan tâm để phòng trừ sâu, bệnh hại rừng Quế (Anandaraj and Devasahayam, 2004).
Thành phần loài sâu hại vỏ, cành và ngọn Ở Sri Lanka có một số loài sâu thuộc bộ cánh cứng gây dịch hại lá và chồi cây Quế gồm có loài Cryptocephalus snillus, loài Cryptocephalus virgula và loài Podagrica badia (Rajapakse and Kulasekera, 1982) và lần đầu tiên phát hiện có loài sâu Synanthedon sp. Ở Sri Lanka xuất hiện một số loài sâu đục thân, cành hại Quế, cụ thể loài sâu Synanthedon spp. (Lepidoptera: Sesiidae) và loài vòi voi Alcides sp. Đối với loài Alcides morio hại quả Quế tại Ấn Độ, sâu non của loài này ăn hạt và đào đường hầm bên trong hạt, điều này gây thiệt hại kinh tế đáng kể vì cây Quế được nhân giống thông qua hạt (Rajapakse et al.
Nghiên cứu về đặc điểm sinh học sâu hại Quế Tại Ấn Độ cây Quế bị u bướu do loài nhện Eriophyes boisi gây ra hầu hết có hình ovan hoặc hình nón tạo các khoang có lông dài, bề mặt gồ ghề nổi lên ở trên phiến lá. Bề mặt của u thường có màu xanh vàng cho đến vàng và u 6 thường mọc lên ở cả 2 mặt của phiến lá với chiều cao khoảng 2-3mm và dày 1- 2mm ở đáy (Mani,1973). Theo tác giả Singh và đồng tác giả (1978), loài sâu Orthaga vitialis gây hại trên lá và chồi cây Quế tại Ấn Độ, sâu non loài này hoạt động rất mạnh, sống và gây hại ở chồi cây làm chồi biến dạng dẫn đến chồi mọc thành cụm. Trong mỗi cụm chồi có thể có một vài sâu non, chúng sống tập chung và ăn toàn bộ bề mặt lá, thời kỳ sâu non từ 28 đến 30 ngày.
Giai đoạn nhộng thường nằm ở trong các cụm chồi, thời gian từ 11 đến 14 ngày. Đối với loài sâu róm Euproctis fraterna ăn lá Quế chỉ ăn phần diệp lục. Sau đó sâu non lớn dần và ăn toàn bộ lá làm rụng lá. Giai đoạn sâu non loài này kéo dài trong 13-29 ngày và thời gian nhộng kéo dài từ 9 đến 20 ngày (Singh et al.
Theo tác giả Dharmadasa và Jayasinghe (2000), loài sâu Synanthedon sp. (Lepidoptera: Sesiidae) hại thân, cành Quế, làm cho các cành chết. Sâu non ở tuổi cuối dài khoảng 2,5cm; đầu màu nâu sẫm và thân màu trắng đậm. Sâu non thường ăn phần gỗ để sống và có xu hướng ăn theo chiều ngang.
Trưởng thành có cánh trước hẹp dài và đôi cánh sau rộng hơn. Sau khi giao phối, đẻ trứng vào các vết nứt hoặc vết thương trên vỏ cây và trứng nở trong khoảng từ 1 đến 4 tuần. Loài sâu Chilasa clytia hại lá Quế thường gặp, trưởng thành có kích thước lớn ở Sri Lanka; trưởng thành đực và cái có màu sắc khác nhau. Đẻ trứng đơn lẻ ở cả mặt trên và dưới của lá non.
Trứng có hình cầu, màu sáp đến màu cam vàng. Sâu non màu đen hoặc xanh đen, ăn cả lá non và lá bánh tẻ. Trong trường hợp gây hại nặng chúng ăn toàn bộ lá và chỉ còn lại gân lá. Sâu non có 5 tuổi, kéo dài từ 11 đến 17 ngày.
Sâu non tuổi lớn có màu vàng nhạt với sọc đen ở hai bên và có chiều dài khoảng 2,5 cm. Nhộng có hình trụ được bọc trong kén trông giống một cành củi gãy. Đối với loài sâu ăn lá Graphium sarpedon cũng là một loài sâu hại Quế phổ biến. Trưởng thành có màu đen với các hoa văn màu xanh đặc trưng.
Trứng được đẻ ở mặt dưới của lá, hình tròn và có màu vàng nhạt và trứng kéo dài từ 5 đến 6 ngày. Giai đoạn sâu non có 5 tuổi kéo dài từ 29 đến 31 ngày (Vander et al. Theo tác giả Anandaraj và đồng tác giả (2001), loài Acrocercops sp. (Lepidoptera: Gracillaridae) loài đục lá Quế.
Trưởng thành nhỏ, màu bạc và sau khi giao phối trưởng thành cái thường đẻ một vài trứng trên mặt dưới lá 7 gần gân chính của lá và nở trong khoảng từ 2 đến 6 ngày. Sâu non màu xám nhạt và ăn phần mô diệp lục của lá. Các lá bị sâu đục trở nên nhăn nheo và các khu vực lá bị sâu đục khô lại tạo thành các lỗ lớn trên lá. Các lá này trở nên nhợt nhạt và quăn queo làm chậm sự phát triển.
Theo Jayasinghe và đồng tác giả (2006), loài sâu Synanthedon sp. (Lepidoptera: Sessiidae) đục thân, cành cây Quế là loài gây hại nghiêm trọng. Vòng đời của chúng chưa được xác định rõ ràng do khó để theo dõi giai đoạn sâu non trong thân cây. Nhưng nuôi trong điều kiện phòng thí nghiệm giai đoạn sâu non kéo dài khoảng từ 2 đến 3 tháng rồi vào nhộng; Trưởng thành vũ hóa từ 10 đến 12 ngày và sống được khoảng 2 ngày.
Sâu non thường đục lỗ vào phần gốc của cành quế và ăn phần gỗ giữa vỏ và lõi; phân của sâu non là những hạt nhỏ màu nâu thường thấy đùn ra bên ngoài lỗ đục. Khi cây bị hại nặng có thể gãy cành do gốc cành bị mục nát và phần gỗ mục nát này sẽ không thể mọc ra chồi mới. Đối với loài cánh cứng Alcides morio hại quả Quế tại Ấn Độ, sâu non của loài này ăn hạt bên trong quả và đào đường hầm bên trong hạt. Điều này gây thiệt hại kinh tế đáng kể vì Quế được nhân giống từ hạt.
Sâu non tuổi cuối có đầu màu nâu với thân trắng và đạt chiều dài từ 8 đến10mm. Giai đoạn nhộng thường diễn ra bên trong hạt và kéo dài từ 7 đến 9 ngày. Trưởng thành cái lớn hơn trưởng thành đực, giời gian sống của trưởng thành từ 5 đến 7 ngày (Rajapakse et al. Theo Tikader và đồng tác giả (2014), kết quả nghiên cứu về nuôi loài sâu Cricula trifenestrata trong phòng thí nghiệm cũng như ngoài tự nhiên vòng đời của chúng vào mùa hè thời gian hoàn thành vòng đời từ 45 đến 50 ngày và từ 120 đến125 ngày vào mùa đông.
Trưởng thành C. trifenestrata xuất hiện từ tháng 4 đến tháng 11. Trứng được đẻ theo hàng ở mép lá. Trứng có màu trắng ngà và dài khoảng từ 1,20 đến1,80 mm, rộng khoảng từ 1,10 đến 1,90 mm, trọng lượng thay đổi từ 0,004 đến 0,005 mg.
Con cái đẻ khoảng từ 150 đến 250 trứng trong điều kiện phòng thí nghiệm, sâu non nở rồi ăn vỏ trứng. Thời gian của giai đoạn trứng kéo dài từ 10 đến 12 ngày vào mùa hè và từ 15 đến 20 ngày vào mùa đông. Giai đoạn sâu non có 5 tuổi, sâu non mới nở 8 có màu vàng đến nâu vàng sau đó chuyển dần sang màu đỏ vàng với phần đầu màu đen nổi bật. Tuổi 2, cơ thể sâu non là các dải màu vàng, đen, xám xen kẽ, lưng có các sợi lông trắng dài lẫn lông đen ngắn mọc thành cụm.
Tuổi 3, sâu non ăn nhiều và kích thước tăng nhanh, cơ thể có màu đỏ vàng với đầu màu đỏ sẫm, các sợi lông trắng mọc dày hơn ở lưng và ở bên mỗi đốt thân, chân màu đỏ gạch, tuổi này kéo dài từ 5 đến 7 ngày vào mùa hè và từ 7 đến 10 ngày vào mùa đông. Tuổi 4 sâu non có màu đỏ sẫm, đầu và đuôi cũng màu đỏ, các sợi lông trắng cũng mọc dài hơn, các chấm trắng trên cơ thể rõ ràng và dần chuyển màu vàng, giai đoạn này kéo dài 6-9 ngày trong mùa hè và từ 10 đến13 ngày vào mùa đông. Tuổi 5 kéo dài từ 10 đến 12 ngày vào mùa hè, cơ thể có màu nâu sẫm đến màu cam với dải màu hồng nhạt và các đốm màu vàng trên bề mặt lưng. Sâu non tuổi cuối thường dài, hình trụ và khỏe mạnh; ngực và bụng có các dải màu đen, vàng và đỏ ở lưng ở mỗi đốt cơ thể.
Sâu non tuổi cuối làm kén bằng cánh kéo từ 2 đến 3 lá tươi hoặc khô vào; kén có màu vàng, nhộng có màu hạt dẻ hoặc nâu sẫm. Tình hình nghiên cứu trong nước 1.