MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Cây đậu tương (Glycine max (L) Merrill) là cây trồng cổ xưa của nhân loại. Lịch sử của cây đậu tương gắn liền với lịch sử nông nghiệp của hầu hết quốc gia trên thế giới. Càng ngày đậu tương càng khẳ ng định được vị trí của nó trong hệ thống cây trồng nông nghiệp của bất kỳ quốc gia nào.
Đặc biệt trong những năm gần đây với sự phát triển như vũ baõ của khoa học kỹ thuật đã phát hiện ra những giá trị vô cùng to lớn và không thể thay thế của đậu tương. Điều đó giúp nó chở thành cây trồng mũi nhọn chiến lược trong sản xuất nông nghiệp Việt Nam nói riêng và thế giới nói chung. Đậu tương là cây công nghiệp ngắn ngày có tác dụng về rất nhiều mặt và có giá trị kinh tế cao. Sản phẩm của nó cung cấp thực phẩm cho con người, thức ăn cho gia súc, nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và là mặt hàng xuất khẩu có giá trị.
Thành phần dinh dưỡng trong hạt đậu tương rất cao, với hàm lượng protein từ 38 - 40%, lipit từ 15 - 20%, hyđratcacbon từ 15 - 16% và nhiều loại sinh tố và muối khoáng quan trọng cho sự sống. Hạt đậu tương là loại sản phẩm duy nhất mà giá trị của nó được đánh giá đồng thời cả protein và lipit. Protein của hạt đậu tương không những có hàm lượng cao mà còn có đầy đủ và cân đối các axit amin cần thiết. Lipit của đậu tương chứa một tỷ lệ cao các axit béo chưa no (khoảng 60 -70%), có hệ số đồng hoá cao, mùi vị thơm như axit linoleic chiếm 52- 65%, axit oleic chiếm 25 - 36%, axit lonolenoic chiếm 2 - 3%.
Ngoài ra, trong hạt đậu tương còn có nhiều loại vitamin như vitamin PP, A, C, E, D, K, đặc biệt là vitamin B1 và B2. Với giá trị dinh dưỡng cao như vậy nên người ta có thể chế biến đậu tương ra nhiều sản phẩm khác nhau như: đậu phụ, thịt nhân tạo, các loại bánh và nước uống … Chính vì vậy mà đậu tương được gọi là người đầu bếp thế kỷ vàng trên đất hay con bò sữa của vùng nhiệt đới. n 2 Bên cạnh đó đậu tương còn có giá trị quan trọng về mặt sinh học: rễ đậu tương cộng sinh với vi khuẩn Rhizobium japonicum tạo nốt sần, có khả năng cố định đạm từ khí quyể n. Vì vậy trồng đậu tương là biện pháp hiệu quả để cải tạo đất.
Ngoài ra đậu tương là cây trồng ngắn ngày rất thích hợp trong luân canh, xen canh, gối vụ với nhiều loại cây trồng khác (Ngô Thế Dân và các cs, 1999) [4]. Từ đó làm tăng hệ số sử dụng đất và tăng hiệu quả kinh tế, có ý nghĩa quan trọng trong việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, thâm canh tăng vụ. Đậu tương được gieo trồng phổ biến trên cả 7 vùng sinh thái trong cả nước. Trong đó, vùng Trung du miền núi phía Bắc là nơi có diện tích gieo trồng đậu tương nhiều nhất (6.942 ha) chiếm 37,10% tổng diện tích đậu tương của cả nước và cũng là nơi có năng suất thấp nhất chỉ đạt 10,30 tạ/ha (Cục Trồng Trọt, 2006) [3].
Nguyên nhân dẫn đến đậu tương có năng suất thấp như vậy là do chưa đủ giống, giống chưa tốt cho từng vụ và chưa thích hợp cho từng vùng sinh thái khác nhau. Cùng với đó, quy trình kỹ thuật canh tác không phù hợp đặc biệt là vấn đề sử dụng phân bón chưa hợp lý cho cây đậu tương ở từng vụ và từng giống khác nhau. Hơn nữa việc sử dụng tùy tiện thuốc bảo vệ thực vật độc hại, với thời gian cách ly không đảm bảo , không những gây ô nhiễm môi trường và sản phẩm mà còn ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của con người. Chính vì vậy việc nghiên cứu và lựa chọn các biện pháp kỹ thuật canh tác thích hợp đáp ứng được đòi hỏi trong thực tiến sản xuất đậu tương an toàn và mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người sản xuất là vấn đề cấp thiết hiện nay.
Vì vậy, phải căn cứ vào điều kiện từng địa phương, đặc điểm sinh học của từng giống để lựa chon biện pháp kỹ thuật thích hợp cho đậu tương sinh trưởng, phát triển tốt và cho năng suất cao. Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn này, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng phân đạm đến tình hình sâu, bệnh hại giống đậu tương ĐT51 trong vụ Thu - Đông năm 2016 tại Thái Nguyên”. Mục đích, yêu cầ u của đề tài 1. Mục đích của đề tài - Xác định được liề u lươ ̣ng phân đạm thích hợp đế n khả năng chống chịu sâu bệnh hại đậu tương trong vụ Thu - Đông năm 2016 tại Thái Nguyên.
Yêu cầ u của đề tài - Đánh giá tình hình sâu, bệnh hại ở các công thức thí nghiệm. - So sánh và sơ bộ kết luận liề u lươ ̣ng phân đa ̣m có khả năng ch ống chịu sâu bệnh tốt nhất cho đâ ̣u tương ĐT51. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa học tập - Giúp cho sinh viên sau khi ra trường nắm chắc được lý thuyết cũng như làm quen với tay nghề, vận dụng vào trong sản xuất.
- Biết cách thực hiện một đề tài nghiên cứu khoa học như: cách thu thập xử lí số liệu, trình bày báo cáo của một đề tài tốt nghiệp. - Trên cơ sở kiến thức nắm được sẽ là hành trang phục vụ cho công việc của sinh viên ra trường. Ý nghĩa khoa học - Đề tài là một trong những cơ sở quan trọng để chọn được liề u lươ ̣ng phân đa ̣m tốt cho đậu tương phù hợp với điều kiện sinh thái của Thái Nguyên cũng như tại khu vực miền núi phía Bắc nước ta. - Các kết quả nghiên cứu của đề tài là luận cứ quan trọng phục vụ cho học tập và nghiên cứu đối với câu đậu tương.
n 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Nguồn gốc cây đậu tƣơng Cây đậu tương (Glycine max (L) Merrill) là một cây trồng mà loài người đã biết sử dụng trồng trọt từ lâu đời, là cây trồng cổ xưa của nhân loại, có nguồn gốc ở phương Đông (Đông Á), nguồn gốc cụ thể và lịch sử xa xưa của cây đậu tương chưa được xác định chính xác. Căn cứ vào tác phẩm Thần Nông Bản Thảo Kinh và một số di tích cổ như: hình khắc trên đá, mai rùa, xương súc vật ….thì cây đậu tương được con người biết đến cách đây 5.000 năm và được trồng vào thế kỷ XI trước công nguyên. Một số nhà nghiên cứu cho rằng, cây đậu tương xuất hiện đầu tiên ở lưu vực sông Trường Giang (Trung Quốc).
Phân tích cổ cho răng: chữ soi-a của nhiều nước trên thế giới (Nga, Anh, Pháp, Đức…) có xuất sứ từ chữ “shu” của Trung Quốc. Có một học giả viết ghi chú đầu tiên về loại cây trồng này nằm trong cuốn “bản thảo dương mục”. Cuốn sách mô tả những cây trồng ở Trung Quốc của vua Thần Nông viết năm 2838 trước công nguyên. Cây đậu tương được xem là một trong 5 loài cây lấy hạt quan trọng nhất: lúa nước, đậu tương, lúa mì, đại mạch, cao lương quyết định đến sự tồn tại của văn minh Trung Quốc.
Trong lịch sử thì đậu tương phát triển ở Trung Quốc cho tới chiến tranh Trung - Nhật (1894 - 1895). Sau đó Nhật bắt đầu nhập khô dầu đậu tương để làm phân bón. Chiến tranh Nga - Nhật (1904 - 1905) làm cho đậu tương và công dụng của nó được mở rộng nhiều hơn. Vào khoảng năm 1908 đậu tương và sản phẩm của nó được đưa vào Châu Âu và thu hút sự chú ý của thế giới.
Tuy đặc trưng là một loại cây cổ xưa nhất, nhưng cũng được xem là cây trồng mới nhất. Vì trên thực tế cuối thế kỷ XIX đậu tương mới chỉ được trồng ở n 5 Trung Quốc và sau 30 năm đầu thế kỷ XX, sản xuất đậu tương chỉ tập trung ở vùng Viễn Đông như: Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên. Ở Việt Nam cây đậu tương được biết đến sớm qua tư liệu lịch sử thời đại Hùng Vương các công trình nghiên cứu cho biết ngoài lúa là cây lương thực chính của cư dân Văn Lang còn biết trồng cây đậu tương. Sau đó cây đậu tương được thuần hóa và trồng như cây thực phẩm có giá trị kinh tế cao.
Tình hình sản xuất đậu tƣơng trên thế giới và Việt Nam 2. Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới Mă ̣c dù có nguồ n gố c ở vùng Viễn Đông - châu Á nơi loa ̣i cây này đươ ̣c trồ ng lâu đời và là cây trồ ng chủ yế u , nhưng cho tới nay tình hình sản xuấ t đâ ̣u tương ở châu Mỹ đã vươ ̣t xa châu Á. Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới những năm gần đây được thể hiê ̣n qua bảng 2.1: Tình hình sản suất đậu tƣơng trên thế giới giai đoạn từ năm 2010 - 2014 Diêṇ tích Năng suấ t Sản lƣợng Năm (triêụ ha) (tấ n /ha) (triêụ tấ n) 2010 102,84 2,57 264,5 2011 103,86 2,51 261,6 2012 105,47 2,30 241,7 2013 111,16 2,50 277,6 2014 117,54 2,60 306,5 (Nguồ n: FAO STAT, 2017)[21]. Qua bảng 2.1 ta thấ y diê ̣n tić h trồ ng đâ ̣u tương trên thế giới trong giai đoa ̣n từ 2010 - 2014 liên tu ̣c tăng.
Năm 2010 thế giới có 102,84 triê ̣u ha, đến năm 2014 diê ̣n tích trồng đậu tương đạt 117,54 triê ̣u ha tăng 14,7 triê ̣u ha so với năm 2010. n 6 Năng suấ t đâ ̣u tương có nhiề u biế n đô ̣ng cao nhấ t là năm 2014 đa ̣t 2,60 tấ n/ha, thấ p nhấ t là năm 2012 chỉ đạt 2,30 tấ n/ha. Do năng suấ t biế n đô ̣ng nên sản lươ ̣ng đâ ̣u tương cũng có nhiề u biế n đô ̣ng , cao nhấ t là 2014 sản lượng đạt 306,5 triê ̣u tấ n và so với năm 2012 sản lượng chỉ đạt 241,7 triê ̣u tấ n. Kế t quả trên có đươ ̣c là nhờ ứng du ̣ng những thành tựu mới trong c họn tạo giống đâ ̣u tương và cải thiện các biện pháp kỹ thuật canh tác hợp lý cho từng giống , từng vùng có điề u kiê ̣n khí hâ ̣u khác nhau.
Hiê ̣n nay tình hình sản xuấ t đâ ̣u tương lớn nhấ t trên thế giới gồ m 05 nước là : Hoa kỳ , Brazin, Argentina, Trung Quố c và Ấn Đô ̣. Sản lượng đậu tương của 05 nước này đa ̣t 269,67 triê ̣u tấ n so với thế giới (306,5 triê ̣u tấ n ), chiế m 87,9% sản lượng đậu tương của toàn thế giới.