Chương 1 TỎNG QUAN 1. Tổng quan về cây dừa 1.1 Nguồn gốc, phân bố và giá trị của cây dừa Cây dừa (Cocus nucifera L.) thuộc giới Plantae, bộ Arecales, họ Arecaceae, chi Cocos, loài Cocus nucifera. Dừa là một trong những loài cây lay dau quan trong nhất trên thế giới, được trồng trên 93 quốc gia ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, phân bồ rộng rãi từ 20 vĩ độ Bắc đến 20 vĩ độ Nam (FAO, 2010). Dừa là cây trồng có vai tro quan trọng trong các hoạt động văn hóa xã hội ở Châu Á - Thái Bình Dương.
Người dân các vùng này đã biết tận dụng dừa làm thực phẩm, thuốc đông dược, mỹ phẩm và làm nguyên liệu cho một số sản phẩm công nghiệp. Dừa được trồng trên toàn thế giới với điện tích khoảng 12 triệu ha. Sản lượng thế giới ước tính đạt 59,98 triệu tan (FAO, 2012). Trong tự nhiên từ nhiều thé kỷ nay, cây dừa đã là một trong những cây trồng chính và phổ biến ở hầu hết các nước thuộc vùng nhiệt đới và xích đạo trên thế giới.
Chính do sự phân bố rộng rãi trong tự nhiên này, người ta đã chứng minh cây dừa có nguồn gốc nhiệt đới, là một loài thực vật thích hợp với các vùng có khí hậu nóng và âm của miền nhiệt đới. Giá trị kinh tế của cây đừa: Năm 2010, Brazil là quốc gia sản xuất các sản phẩm về dừa đứng đầu thế giới. Tuy nhiên, sau năm 2010, các quốc gia Châu Á đã có một sự tăng trưởng đáng kinh ngạc trong ngành công nghiệp này. Ở thời điểm hiện tại, gan 90% nguồn dừa cung ứng toàn cầu đến từ các nước Châu A, nơi mà ngành công nghiệp này trở thành nguồn thu nhập rat quan trọng của nhiều quốc gia.
Năm 2018, tổng diện tích trồng dừa trên thế giới là 12,38 triệu ha được trồng trên 93 quốc gia, với sản lượng hàng năm đạt 61,87 triệu tắn cơm dừa/năm và tăng liên tục từ năm 2014 — 2018 (FAO, 2020). Trong đó, quốc gia trồng dừa nhiều nhất là Philippin, với tổng diện tích là 3,63 triệu ha, kế đến là Indonesia 3,25 triệu ha và lần lượt là An Độ 2,10 triệu ha, Tanzania 0,80 triệu ha, Sri Lanka 0,46 triệu ha (FAO, 2020). Ở Việt Nam, cây dừa là một loại cây trồng lâu năm truyền thống, có sức sống mãnh liệt, phân bố rộng, phát triển tốt ở khu vực Duyên hải miền Trung đến Đồng bằng Sông Cửu Long và chủ yếu tập trung ở các vùng đồng bang ven biển (Đường Hồng Dat, 1990). Việt Nam có tổng diện tích dừa khoảng 177.631 ha, trong đó phân bố chủ yếu ở khu vực phía Nam (154.
Diện tích dừa phân bồ tập trung ở các tỉnh thuộc Đồng Bằng Sông Cửu Long như: Bến Tre (77.232 ha), Trà Vinh (23.698 ha), Tiền Giang (20.737 ha), Vĩnh Long (12.976 ha), Sóc Trăng (8.723 ha), Kiên Giang (5.367 ha), Cà Mau (4.962 ha), Bạc Liêu (4.776 ha), Hậu Giang (2.518 ha), Long An (1.401 ha), Cần Thơ (978 ha), An Giang (952 ha), điện tích còn lại (khoảng trên 1.000 ha) phân bố rải rác ở một số tỉnh thuộc miền Đông Nam Bộ (theo số liệu thống kê của Trung tâm BVTV phía Nam tháng 3/2022). Do điều kiện thé nhưỡng thích hợp, phù sa từ các hệ thống sông ngòi đã làm cho dừa của ĐBSCL có chất lượng tốt, com dày, hàm lượng dau cao.1 Diện tích trồng dừa theo giống và theo giai đoạn sinh trưởng tại các tỉnh Đồng bằng Sông Cửu Long tháng 3/2022 Giống dừa Diện tích trồng ae bat ra hề) Dừa Ta 94.020,6 (Nguôn: TTBVTVPN, 2022) Cây dừa có rất nhiều công dụng, tất cả các phần của cây dừa từ thân, lá, trái, vỏ, xơ, gáo, nước. đều có thé sử dụng phục vụ đời sống con người. Các mặt hang thủ công mỹ nghệ, bánh kẹo sản xuất từ các bộ phân trên cây dita không những dap ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước mà còn làm các mặt hàng xuất khâu mang lại hiệu quả kinh tê cao, giải quyét công ăn việc làm cho lao động nhàn roi ở nông thôn.
Dong thời, trồng dừa mang lại tác dụng thiết thực trong việc bảo vệ môi trường sinh thái, hạn chế được tình trạng sạt lở đất đai dọc theo các sông, kênh rạch lớn. Vì thế, việc duy trì và phát triển điện tích trồng đừa ở nước ta trong giai đoạn hiện nay là rất cần thiết và giữ vị trí quan trọng, nhất là đối với các tỉnh vùng Đồng bằng sông Cửu Long và các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ. Dừa được trồng tập trung với quy mô lớn tại hai tỉnh: Bình Định của vùng Duyên hải miền Trung và Bến Tre ở Đồng bằng Sông Cửu Long. Đồng bằng Sông Cửu Long chiếm hơn 86,1% diện tích dừa cả nước (Cục Bảo Vệ Thực Vật, 2021).
Theo số liệu của Cục Thống Kê Bến Tre, năm 2019, Bến Tre có 72.482 ha dừa, trong đó sản lượng 637. Dừa là cây trồng truyền thống của Bến Tre và giữ vai trò quan trọng trong phát triển nền kinh tế của tỉnh. Dừa rất đễ trồng, có khả năng thích nghỉ rộng trên nhiều vùng sinh thái, đặc biệt là khả năng chống chịu tốt với tác động của biến đổi khí hậu. Dừa lấy dầu và dừa uống nước là những mặt hàng tiêu ding và xuất khâu có giá trị kinh tế cao.
Đặc biệt, cây dừa có thé sống trên đất phèn mặn mà các loại cây trồng khác khó phát triển, tạo điều kiện dé phủ xanh và sử dụng đất đai hợp lý ở các vùng đất ven biển, vùng phèn mặn. Vườn dừa đã trở thành một hệ sinh thái nông nghiệp kinh doanh nhiều loại sản phẩm, thực hiện sản xuất trên nhiều tầng không gian và thu hoạch nhiều vụ trong một năm. Dừa đã góp phần làm đẹp cảnh quan, bảo vệ môi trường, tăng thu nhập và giải quyết việc làm cho hàng nghìn lao động ở các địa phương. Điều đó chứng tỏ dừa là loài cây trồng thích nghĩ cao, mang ý nghĩa sinh thái đặc biệt với điều kiện tự nhiên khắc nghiệt của vùng mà khó có loài cây nào sánh được.2 Đặc tính thực vật của cầy dừa Dừa có rễ bất định sinh ra liên tục ở gốc thân, không có rễ cọc, chiều dài khoảng 5-7 m và chiều sâu khoảng 0,30-1,20 m (Chen and Elevitch, 2006).
Trong một số trường hợp rễ có thé mọc dai trên 30,0 m và sâu 5,50 m (Ohler, 1984). Theo (Võ Văn Long và cs, 2008), rễ dừa phần lớn tập trung xung quanh thân với bán kính khoảng 0,75-1,00 m chủ yếu dé bám đất và hap thu dinh dưỡng. Theo Võ Văn Long (2007), thân dừa có màu xám và không có tầng sinh gỗ bên ngoài. Tiến trình phát triển đầy đủ của thân cây dừa có thé kéo dài đến 4 năm tùy thuộc vào đặc tính giống (Ohler, 1984).
Lá đừa mọc theo hình xoắn ốc với từ 30 đến 40 tàu lá/cây và mọc ra từ đỉnh thân (Tôn Thất Trình, 1974). Trung bình mỗi tháng đừa mọc thêm một tàu lá mới, khi gặp điều kiện bat lợi thì thời gian này có thé từ hai đến ba tháng (Võ Văn Long, 2007). Hoa dừa thuộc loại đơn tính đồng chu, mỗi phát hoa có khoảng 8.000 hoa đực và 1-30 hoa cái (Ohler, 1984). Trái dita phát triển từ bầu noãn, kích thước, mau sắc và hình dang của trái thay đối tùy theo giống dừa.
Thời điểm trái dừa được 6-7 tháng tuổi có trọng lượng nước nhiều nhất. Sau khi chín hoàn toàn, trái khô, rụng và rat dé nảy mam nếu gặp điều kiện thuận lợi (Võ Văn Long va cs, 2008).3 Một số giống dừa phổ biến tại Việt Nam 1.1 Giống dừa cao Dừa Ta là giống dừa lấy dầu, có gốc và thân cây to, sẹo lá trên thân dày, cây nhiều lá (28-33 lá), tán lá phân bố đều và chiều dài cuống hoa ngắn (35,0- 45,0 cm). Ở vùng ĐBSCL, dừa Ta có thời gian từ khi trồng tới khi ra hoa khoảng bốn đến năm năm và năng suất đạt 60-70 trái/cây/năm. Dừa Ta có hình dạng trái tròn với ba khía rõ rệt, khối lượng trái lớn (2.
Dừa Ta có khối lượng cơm dừa nhiều (500-550 g), độ dày cơm dừa 1,00- 1,10 em và hàm lượng dau cao (60-63%). Dừa Dâu cũng thuộc nhóm dừa cao lấy dầu bản địa của Việt Nam. Dừa Dâu có gốc và thân cây to, sẹo lá dày, nhiều lá (26-34 1á), tán lá phân bố đều và chiều đài cuống hoa ngắn (40,0-50,0 cm). Thời gian từ khi trồng tới khi ra hoa của dita Dâu từ bốn đến năm năm với năng suất từ 70 đến 80 trái tại vùng ĐBSCL.
Dừa Dâu có hình dạng trái tròn đến hơi dài, không có khía, khối lượng trái lớn (1. Khối lượng com dừa của dita Dâu khá cao (450-500 g) với com dừa day (0,90- 1,10 cm), hàm lượng dau đạt 59- 62%.2 Giống dừa lùn Dừa Xiêm thuộc nhóm dừa lùn, có thân hình trụ, sẹo lá khít, tốc độ tăng trưởng chiều cao chậm, tông số hoa cái/chùm từ 20 đến 30 hoa, năng suất trai cao. Dừa Xiêm có khối lượng trái lớn khoảng 850-950 g/trai, hàm lượng glucide trong nước dừa dat 6,50-6,80 g/100ml và có chứa một số khoáng chất (Ca, Mg, K) và vitamin C (Võ Văn Long, 2007). Dừa Éo cũng thuộc nhóm dừa lùn của Việt Nam, có thân hình trụ, sẹo lá khít, tốc độ tăng trưởng chiều cao chậm, tông số hoa cái/chùm cao (từ 30 đến 40 hoa).
Dừa Eo có năng suất trái/cây/năm cao (200-300 trái), hàm lượng glucide trong nước dừa đạt 6,50 -7,00 g/100ml. Ngoài ra, trong dừa Eo còn có một số khoáng chất như Ca, Mg, K va vitamin C (Võ Văn Long, 2007).3 Tình hình sau hại chính trên dừa Trong suốt quá trình sinh trưởng và phát triển cây dừa bị tan công bởi rất nhiều loài dịch hại bao gồm cả chuột, sóc, sâu, bệnh,. Trong đó sâu hại là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến giảm năng suất, chất lượng dừa và gây thiệt hại kinh tế đáng ké cho người nông dan. Kalshoven (1981) đã ghi nhận thành phan loài côn trùng gây hại trên cây dừa trên thế giới có hàng trăm loài.
Việc áp dụng các biện pháp quản lý dịch hại tương đối khó khăn đối với cây dừa do thuộc tính thân cây khá cao, tàu lá rộng, nhiều. Những thuộc tính này gây khó khăn trong công tác điều tra, phát hiện đúng thời điểm dé quan lý dich hại, môi trường sống ẩn nau của hầu hết các loài sâu hai dừa và sự ton tại thường xuyên của các loại ky chủ phụ tạo ra các mối de doa sâu hại nghiêm trọng đối với cây dừa. Hiện nay đã ghi nhận được hơn 900 loài côn trùng gây hại trên cây dừa được trồng chuyên canh và cây dừa mọc ngoài tự nhiên trên các bộ phận khác nhau như thân, lá, hoa, quả. Thành phần côn trùng hại dừa còn có nhiều loài sâu ăn lá như Amathusia phidippus, Zeuxiooa catoxantha, Hidari irava.