Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU, CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1. Cơ sở khoa học của đề tài Cây na (Annona squamosa) có nguồn gốc từ vùng Ca-ri-bê và Nam Mỹ, được trồng ở nhiều quốc gia và vùng địa lý khác nhau, với hệ thống canh tác không giống nhau. Ở các vùng địa lý khác nhau số lượng loài gây hại và những loài gây hại chính trên cây na không giống nhau, phụ thuộc vào điều kiện cụ thể của từng vùng trồng na. Có những loài sâu hại được coi là quan trọng ở quốc gia hay vùng địa lý này chưa chắc đã là quan trọng ở quốc gia hay vùng địa lý khác.
Sự phát sinh, phát triển, gây hại của những loài sâu hại chính trên cây na ở quốc gia/vùng địa lý này không giống với quốc gia/vùng địa lý khác,. Các kết quả nghiên cứu về sâu hại chính trên cây na và những biện pháp phòng chống chúng hiệu quả ở quốc gia/vùng địa lý này chưa chắc đã phù hợp và có thể áp dụng cho quốc gia/vùng địa lý khác. Mặt khác, sâu hại cây na và biện pháp phòng chống chúng ở Việt Nam có những đặc trưng riêng, không giống với các quốc gia khác. Những hiểu biết về thành phần loài sâu hại, đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của sâu hại chính trên cây na ở điều kiện cụ thể làm cơ sở khoa học chắc chắn để xây dựng biện pháp phòng chống hiệu quả sâu hại cây na phục vụ sản xuất quả na an toàn.
Những điểm nêu trên là cơ sở khoa học để đề xuất thực hiện đề tài luận án. Tình hình sản xuất quả na 1. Tình hình sản xuất quả na trên thế giới Chi na Annona (Annonaceae) có khoảng 119 loài, trong đó 109 loài có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới Nam Mỹ và 10 loài có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới châu Phi (Geurts, 1981) [58]. Trong 119 loài chỉ có 5 loài được thuần hóa và trồng với mục đích thương mại: phổ biến nhất và quan trọng là 3 loài, gồm cây cherimoya (Annona cherimola), cây mãng cầu xiêm (A.
Muricata) cây na (A. squamosa; còn cây nê (A. reticulata) và cây A. seneganensis ít phổ biến hơn.
Hiện nay, cây na được trồng ở khắp các vùng nhiệt đới của cả Bắc và Nam bán cầu, thậm chí ở cả vùng á nhiệt đới như Florida của Hoa Kỳ. Ngoài ra, ở một số 5 luan an nước còn trồng giống na lai có tên là atemoya (do Webster đã lai giữa cây na và cây cherimoya năm 1907). Tuy nhiên, giống na lai này lại là giống lai tự nhiên được ghi nhận ở Úc từ năm 1850 và ở Palestin từ năm 1930 (NRC, 1989) [87]. Cây cherimoya được trồng ở California trên diện tích khoảng 100 - 120 ha với sản lượng 453 tấn (Crane and Campbell, 1990; Grossberger, 1999) [53], [62].
Cây mãng cầu xiêm được trồng ở nhiều nước như Angola, Braxin, Colombia, Costa Rica, Cuba, Hoa Kỳ, Jamaica, Mexico, Panama, Peru, Venezuela, Ấn Độ và Đông Nam Á (Pinto and Silva, 1996) [90]. Mexico là nước sản xuất mãng cầu xiêm quan trọng ở châu Mỹ. Tại quốc gia này có khoảng 5.915 ha mãng cầu xiêm với sản lượng lớn nhất thế giới (34. Nayarit là tỉnh trồng mãng cầu xiêm nhiều nhất ở Mexico với 380 ha.
Năng suất mãng cầu xiêm ở nước này có xu thế giảm: năm 1990 đạt 6,8 tấn/ha, năm 1996 còn 5,9 tấn/ha (Hernandez and Angel, 1997) [110].496 ha trồng cây na với sản lượng 10. Cây na được trồng thương mại ở quần đảo West Indies, Cộng hòa Dominica, Florida (Hoa Kỳ), Trung Đông, Malaysia, Thái Lan (Crane and Campbell, 1990) [53]. Tình hình sản xuất quả na ở Việt Nam 1. Tình hình sản xuất na Ở Việt Nam, cây na được trồng rộng rãi ở cả hai miền Nam Bắc, chỉ trừ những nơi với mùa đông có sương muối là không trồng được cây na.
Cây na chủ yếu được trồng rải rác trong các vườn gia đình với mục đích tự cung, tự cấp, cải thiện dinh dưỡng; chỉ một số ít được trồng với mục đích để bán tại chợ địa phương. Hiện nay đã hình thành một vài vùng trồng na tập trung lớn có giá trị hàng hóa như Chi Lăng (Lạng Sơn), Đông Triều (Quảng Ninh), Ba Sao (Hà Nam) và Bà Đen (Tây Ninh). Cây na ở Chi Lăng (Lạng Sơn) được người dân tỉnh Hà Tây (cũ) đem lên trồng vào những năm 1980, từ những năm 1990 cho đến nay sản xuất na được phát triển mạnh ở địa phương này. Cây na được coi là cây ăn quả đặc sản của huyện Chi Lăng (Lạng Sơn).
Diện tích trồng cây na của huyện tăng dần: từ 789,54 ha 6 luan an năm 2000 lên 936,9 ha năm 2005, đạt 1. Theo Niên giám Thống kê của Tổng cục Thống kê, diện tích trồng cây na của cả nước tăng đều qua các năm từ 2013 đến 2017, mỗi năm tăng từ 200 ha đến 900 ha. Trong đó, diện tích cho thu hoạch dao động từ 18,1 nghìn ha đến 19,2 nghìn ha. Mỗi năm, cây na được trồng mới thêm từ một nghìn đến 1,6 nghìn ha.
Năng suất quả na tăng qua các năm: năm 2013 năng suất quả na trung bình đạt 87,1 tạ/ha; năm 2017 năng suất đạt 99,1 tạ/ha (năng suất cao nhất từ năm 2013 đến 2017). Sản lượng na năm 2013 đạt 157,7 nghìn tấn và năm 2017 đạt 190,1 nghìn tấn (bảng 1. Tình hình sản xuất na ở Việt Nam trong thời gian 2013 - 2017 Diện tích Diện tích Diện tích cho Năng Sản lượng Năm trồng trồng mới thu hoạch suất (1. Kỹ thuật trồng, chăm sóc cây na tại vùng nghiên cứu Người trồng cây na tại Lạng Sơn và Hà Nam được hướng dẫn trồng cây na theo một quy trình chung.
Quy trình đó cụ thể như sau: Giống na. Trồng phổ biến ở cả Lạng Sơn và Hà Nam là na dai và việc nhân giống na chủ yếu bằng hạt. Thời vụ trồng. Cây na thường được trồng 2 vụ trong năm: vụ xuân trồng vào tháng 2 - 4 và vụ thu trồng vào tháng 8 - 10.
Khoảng cách các cây na được trồng thường phổ biến 3 x 3 m (có người trồng thưa với khoảng cách 4 x 4 m). Cây na ở giai GĐKTCB (1 - 3 năm tuổi) hàng năm được bón phân với lượng cho 1 cây là: 10 - 15 kg phân hữu cơ; 0,5 - 0,7 kg đạm urê; 0,4 kg 7 luan an supe lân; 0,2 - 0,3 kg kaliclorua. Bón làm 3 đợt: tháng 9 - 11 (100% lượng phân hữu cơ cả năm, 100% lượng lân supe cả năm, 30% lượng kaliclorua cả năm), vào tháng 2 - 3 bón đón lộc (50% lượng đạm urê cả năm, 40% lượng kaliclorua cả năm), vào tháng 6 - 7 bón nuôi cành (50% lượng đạm urê cả năm, 30% lượng kaliclorua cả năm). Cây na ở giai GĐKD (4 năm tuổi trở lên) hàng năm được bón lượng phân không giống nhau tùy theo địa phương và tuổi của cây na.
Cụ thể: Tại Lạng Sơn. Cây na ở giai đoạn 4 - 8 năm tuổi hàng năm được bón phân với lượng cho 1 cây là: 15 - 20 kg phân hữu cơ; 1,0 - 1,5 kg đạm urê; 2,0 - 3,0 kg supe lân; 0,5 - 0,7 kg kaliclorua. Cây na ở giai đoạn trên 8 năm tuổi hàng năm được bón phân với lượng cho 1 cây là: 25 - 30 kg phân hữu cơ; 1,5 - 2,0 kg đạm urê; 3,0 - 3,5 kg supe lân; 0,7 - 1,0 kg kaliclorua. Lượng phân này được bón làm 3 đợt: vào tháng 2 - tháng 3 bón đón lộc và hoa (50% lượng đạm urê cả năm, 30% lượng kaliclorua cả năm), vào tháng 6 - tháng 7 bón nuôi quả và cành quả (40% lượng đạm urê cả năm, 40% lượng kaliclorua cả năm), vào tháng 9 - tháng 11 bón để hồi phục cây (100% lượng phân hữu cơ cả năm, 10% lượng đạm urê cả năm, 100% lượng supe lân cả năm, 30% lượng kaliclorua cả năm).
Tại Hà Nam. Cây na ở giai đoạn 4 - 8 năm tuổi hàng năm được bón phân với lượng cho 1 cây là: 20 - 25 kg phân hữu cơ; 1,2 - 1,7 kg đạm urê; 2,5 - 3,5 kg supe lân; 0,7 - 1,0 kg kaliclorua. Cây na ở giai đoạn trên 8 năm tuổi hàng năm được bón phân với lượng cho 1 cây là: 30 - 40 kg phân hữu cơ; 1,7 - 2,2 kg đạm urê; 3,5 - 4,5 kg supe lân; 1,0 - 1,2 kg kaliclorua. Lượng phân này được bón làm 4 đợt: vào tháng 2 - tháng 3 bón đón lộc và hoa (30% lượng đạm urê cả năm, 25% lượng kaliclorua cả năm), vào tháng 6 - tháng 7 bón nuôi quả đợt 1 và cành (40% lượng đạm urê cả năm, 30% lượng kaliclorua cả năm), vào tháng 8 - tháng 9 bón nuôi quả đợt 2 và cành (20% lượng đạm urê cả năm, 25% lượng kaliclorua cả năm), vào tháng 10 - tháng 11 bón để hồi phục cây (100% lượng phân hữu cơ cả năm, 10% lượng đạm urê cả năm, 100% lượng supe lân cả năm, 20% lượng kaliclorua cả năm).
8 luan an Cắt tỉa cành, tạo tán. Cây na ở GĐKTCB chủ yếu được cắt tỉa cành, tạo tán từ tháng 3 đến tháng 10 hàng năm. Cây na ở GĐKD được tuốt lá và cắt tỉa cành, tạo tán từ tháng 12 đến tháng 2 năm sau. Thụ phấn bổ sung.
Ở giai đoạn 5 - 6 năm tuổi, mỗi cây na có 800 - 1. Người trồng na chỉ thụ phấn và giữ lại khoảng 200 - 300 quả/cây. Tại Lạng Sơn và Hà Nam người trồng na ở cả 2 vùng trồng na (Chi Lăng, Ba Sao) thường thụ phấn bổ sung cho hoa đợt 1 trong tháng 5 đầu tháng 6 để thu hoạch quả vào cuối tháng 8 đến tháng 10. Riêng tại Ba Sao (Hà Nam) nông dân đã thụ phấn bổ sung vào tháng 6 đầu tháng 7 để thu quả đợt 2 vào tháng 10 đến giữa tháng 11.
Phòng trừ sâu bệnh hại. Để phòng trừ sâu bệnh ở cả 2 vùng trồng na (Chi Lăng, Ba Sao) đã sử dụng nhiều loại thuốc bảo vệ thực vật. Khi phun thuốc thuốc trừ sâu bệnh, người trồng na đã hỗn hợp loại thuốc BVTV và phân bón qua lá với nhau trong một lần phun. Các loại thuốc được nông dân dùng gồm Marshal 200SC, Difluent 10WP, 25WP, Mosflanong 300SC, Reasgant 1.8EC, Actara 25WG,.
Nghiên cứu ở nước ngoài về sâu hại trên cây na 1. Thành phần loài sâu hại 1. Thành phần chung về loài sâu hại cây na Những nghiên cứu về sâu hại cây na ở nước ngoài tập trung nhiều ở các nước thuộc vùng Nam Mỹ. Đến năm 1995, đã tổng hợp được một danh sách gồm 296 loài chân khớp ghi nhận trên các loài thuộc chi na Annona ở nhiều nước thuộc vùng nhiệt đới châu Mỹ.
Trong đó, trên cây na Annona squamosa bắt gặp 80 loài thuộc 8 bộ côn trùng và 1 bộ ve bét.