Đặc điểm sinh học và biện pháp phòng chống sâu hại trên cây na ở miền Bắc Việt Nam

Luận án tiến sĩ nghiên cứu đặc điểm sinh học sinh thái và biện pháp phòng chống một số sâu hại chính trên cây na tại miền bắc, phát triển phương pháp mới, đánh giá hiệu quả ứng

Chuyên ngành

Bảo Vệ Thực Vật

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án Tiến Sĩ

2019

161
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Đặc điểm sinh học và sinh thái của sâu hại cây na

Nghiên cứu về sâu hại cây na tại miền Bắc Việt Nam cho thấy sự đa dạng về loài và đặc điểm sinh học của chúng. Các loài sâu hại chính như rệp sáp giả cam (Planococcus citri) và ruồi đục quả phương đông (Bactrocera dorsalis) đã được xác định là những tác nhân gây hại nghiêm trọng nhất. Đặc điểm sinh học của rệp sáp giả cam cho thấy chúng có khả năng sinh sản cao, với thời gian phát triển nhanh chóng, từ trứng đến trưởng thành chỉ trong vài tuần. Điều này cho phép chúng phát triển mạnh mẽ trong điều kiện khí hậu ẩm ướt của miền Bắc. Ngoài ra, ruồi đục quả cũng có chu kỳ sinh sản ngắn, làm tăng mật độ quần thể của chúng trong mùa vụ. Tình hình sâu bệnh cây na đang trở thành vấn đề cấp bách, đòi hỏi các biện pháp phòng chống hiệu quả.

1.1. Tình hình sâu hại cây na

Tình hình sâu hại trên cây na tại miền Bắc Việt Nam đang diễn biến phức tạp. Các loài sâu hại như bọ xít lưng gồ (Pseudodoniella sp.) đã gây thiệt hại lớn cho năng suất và chất lượng quả na. Theo thống kê, số lần phun thuốc hóa học để kiểm soát sâu hại có thể lên đến 16-20 lần/năm, dẫn đến việc lạm dụng thuốc trừ sâu. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe của người nông dân mà còn gây hại cho môi trường. Việc nghiên cứu và áp dụng các biện pháp phòng chống sâu bệnh cây na là cần thiết để bảo vệ sản xuất nông nghiệp bền vững.

II. Biện pháp phòng chống sâu hại cây na

Để bảo vệ cây na khỏi sâu hại, nhiều biện pháp đã được đề xuất và áp dụng. Các biện pháp này bao gồm biện pháp thủ công, sinh học và hóa học. Biện pháp thủ công như bao quả bằng túi chuyên dụng giúp ngăn chặn sự xâm nhập của ruồi đục quả. Bên cạnh đó, việc sử dụng bẫy để thu hút và tiêu diệt ruồi đục quả cũng đã cho thấy hiệu quả tích cực. Biện pháp sinh học, như việc sử dụng thiên địch để kiểm soát sâu hại, đang được khuyến khích nhằm giảm thiểu việc sử dụng thuốc hóa học. Cuối cùng, biện pháp hóa học vẫn cần thiết trong một số trường hợp khẩn cấp, nhưng cần được sử dụng một cách hợp lý và có kiểm soát.

2.1. Biện pháp thủ công

Biện pháp thủ công là một trong những phương pháp hiệu quả trong việc phòng chống sâu hại cây na. Việc bao quả bằng túi chuyên dụng không chỉ bảo vệ quả khỏi sâu bệnh mà còn giúp nâng cao chất lượng sản phẩm. Nghiên cứu cho thấy, việc sử dụng túi bao quả có thể giảm thiểu đáng kể tỷ lệ hư hại do ruồi đục quả. Ngoài ra, việc vệ sinh đồng ruộng, thu gom và tiêu hủy các phần cây bị nhiễm bệnh cũng là một biện pháp quan trọng để ngăn chặn sự lây lan của sâu hại. Những biện pháp này không chỉ hiệu quả mà còn thân thiện với môi trường, góp phần bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng.

III. Đánh giá hiệu quả các biện pháp phòng chống

Đánh giá hiệu quả của các biện pháp phòng chống sâu hại cây na cho thấy sự cần thiết phải kết hợp nhiều phương pháp khác nhau. Việc áp dụng biện pháp tổng hợp, bao gồm cả biện pháp thủ công, sinh học và hóa học, đã cho thấy hiệu quả cao trong việc kiểm soát sâu bệnh. Nghiên cứu cho thấy, việc sử dụng bẫy và bao quả kết hợp với phun thuốc bảo vệ thực vật có thể giảm thiểu đáng kể mật độ sâu hại. Tuy nhiên, cần có sự giám sát chặt chẽ để đảm bảo rằng việc sử dụng thuốc hóa học không gây hại cho môi trường và sức khỏe con người.

3.1. Kết quả thực nghiệm

Kết quả thực nghiệm cho thấy, việc áp dụng biện pháp bao quả và sử dụng bẫy đã giảm thiểu đáng kể số lượng sâu hại trên cây na. Cụ thể, tỷ lệ hư hại do ruồi đục quả giảm xuống dưới 10% khi áp dụng đồng bộ các biện pháp. Điều này chứng tỏ rằng, việc kết hợp các biện pháp phòng chống là rất cần thiết để đạt được hiệu quả cao nhất trong việc bảo vệ cây na. Các nông dân cần được đào tạo và hướng dẫn để áp dụng đúng các biện pháp này nhằm bảo vệ cây trồng một cách hiệu quả và bền vững.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU, CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1. Cơ sở khoa học của đề tài Cây na (Annona squamosa) có nguồn gốc từ vùng Ca-ri-bê và Nam Mỹ, được trồng ở nhiều quốc gia và vùng địa lý khác nhau, với hệ thống canh tác không giống nhau. Ở các vùng địa lý khác nhau số lượng loài gây hại và những loài gây hại chính trên cây na không giống nhau, phụ thuộc vào điều kiện cụ thể của từng vùng trồng na. Có những loài sâu hại được coi là quan trọng ở quốc gia hay vùng địa lý này chưa chắc đã là quan trọng ở quốc gia hay vùng địa lý khác.

Sự phát sinh, phát triển, gây hại của những loài sâu hại chính trên cây na ở quốc gia/vùng địa lý này không giống với quốc gia/vùng địa lý khác,. Các kết quả nghiên cứu về sâu hại chính trên cây na và những biện pháp phòng chống chúng hiệu quả ở quốc gia/vùng địa lý này chưa chắc đã phù hợp và có thể áp dụng cho quốc gia/vùng địa lý khác. Mặt khác, sâu hại cây na và biện pháp phòng chống chúng ở Việt Nam có những đặc trưng riêng, không giống với các quốc gia khác. Những hiểu biết về thành phần loài sâu hại, đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của sâu hại chính trên cây na ở điều kiện cụ thể làm cơ sở khoa học chắc chắn để xây dựng biện pháp phòng chống hiệu quả sâu hại cây na phục vụ sản xuất quả na an toàn.

Những điểm nêu trên là cơ sở khoa học để đề xuất thực hiện đề tài luận án. Tình hình sản xuất quả na 1. Tình hình sản xuất quả na trên thế giới Chi na Annona (Annonaceae) có khoảng 119 loài, trong đó 109 loài có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới Nam Mỹ và 10 loài có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới châu Phi (Geurts, 1981) [58]. Trong 119 loài chỉ có 5 loài được thuần hóa và trồng với mục đích thương mại: phổ biến nhất và quan trọng là 3 loài, gồm cây cherimoya (Annona cherimola), cây mãng cầu xiêm (A.

Muricata) cây na (A. squamosa; còn cây nê (A. reticulata) và cây A. seneganensis ít phổ biến hơn.

Hiện nay, cây na được trồng ở khắp các vùng nhiệt đới của cả Bắc và Nam bán cầu, thậm chí ở cả vùng á nhiệt đới như Florida của Hoa Kỳ. Ngoài ra, ở một số 5 luan an nước còn trồng giống na lai có tên là atemoya (do Webster đã lai giữa cây na và cây cherimoya năm 1907). Tuy nhiên, giống na lai này lại là giống lai tự nhiên được ghi nhận ở Úc từ năm 1850 và ở Palestin từ năm 1930 (NRC, 1989) [87]. Cây cherimoya được trồng ở California trên diện tích khoảng 100 - 120 ha với sản lượng 453 tấn (Crane and Campbell, 1990; Grossberger, 1999) [53], [62].

Cây mãng cầu xiêm được trồng ở nhiều nước như Angola, Braxin, Colombia, Costa Rica, Cuba, Hoa Kỳ, Jamaica, Mexico, Panama, Peru, Venezuela, Ấn Độ và Đông Nam Á (Pinto and Silva, 1996) [90]. Mexico là nước sản xuất mãng cầu xiêm quan trọng ở châu Mỹ. Tại quốc gia này có khoảng 5.915 ha mãng cầu xiêm với sản lượng lớn nhất thế giới (34. Nayarit là tỉnh trồng mãng cầu xiêm nhiều nhất ở Mexico với 380 ha.

Năng suất mãng cầu xiêm ở nước này có xu thế giảm: năm 1990 đạt 6,8 tấn/ha, năm 1996 còn 5,9 tấn/ha (Hernandez and Angel, 1997) [110].496 ha trồng cây na với sản lượng 10. Cây na được trồng thương mại ở quần đảo West Indies, Cộng hòa Dominica, Florida (Hoa Kỳ), Trung Đông, Malaysia, Thái Lan (Crane and Campbell, 1990) [53]. Tình hình sản xuất quả na ở Việt Nam 1. Tình hình sản xuất na Ở Việt Nam, cây na được trồng rộng rãi ở cả hai miền Nam Bắc, chỉ trừ những nơi với mùa đông có sương muối là không trồng được cây na.

Cây na chủ yếu được trồng rải rác trong các vườn gia đình với mục đích tự cung, tự cấp, cải thiện dinh dưỡng; chỉ một số ít được trồng với mục đích để bán tại chợ địa phương. Hiện nay đã hình thành một vài vùng trồng na tập trung lớn có giá trị hàng hóa như Chi Lăng (Lạng Sơn), Đông Triều (Quảng Ninh), Ba Sao (Hà Nam) và Bà Đen (Tây Ninh). Cây na ở Chi Lăng (Lạng Sơn) được người dân tỉnh Hà Tây (cũ) đem lên trồng vào những năm 1980, từ những năm 1990 cho đến nay sản xuất na được phát triển mạnh ở địa phương này. Cây na được coi là cây ăn quả đặc sản của huyện Chi Lăng (Lạng Sơn).

Diện tích trồng cây na của huyện tăng dần: từ 789,54 ha 6 luan an năm 2000 lên 936,9 ha năm 2005, đạt 1. Theo Niên giám Thống kê của Tổng cục Thống kê, diện tích trồng cây na của cả nước tăng đều qua các năm từ 2013 đến 2017, mỗi năm tăng từ 200 ha đến 900 ha. Trong đó, diện tích cho thu hoạch dao động từ 18,1 nghìn ha đến 19,2 nghìn ha. Mỗi năm, cây na được trồng mới thêm từ một nghìn đến 1,6 nghìn ha.

Năng suất quả na tăng qua các năm: năm 2013 năng suất quả na trung bình đạt 87,1 tạ/ha; năm 2017 năng suất đạt 99,1 tạ/ha (năng suất cao nhất từ năm 2013 đến 2017). Sản lượng na năm 2013 đạt 157,7 nghìn tấn và năm 2017 đạt 190,1 nghìn tấn (bảng 1. Tình hình sản xuất na ở Việt Nam trong thời gian 2013 - 2017 Diện tích Diện tích Diện tích cho Năng Sản lượng Năm trồng trồng mới thu hoạch suất (1. Kỹ thuật trồng, chăm sóc cây na tại vùng nghiên cứu Người trồng cây na tại Lạng Sơn và Hà Nam được hướng dẫn trồng cây na theo một quy trình chung.

Quy trình đó cụ thể như sau: Giống na. Trồng phổ biến ở cả Lạng Sơn và Hà Nam là na dai và việc nhân giống na chủ yếu bằng hạt. Thời vụ trồng. Cây na thường được trồng 2 vụ trong năm: vụ xuân trồng vào tháng 2 - 4 và vụ thu trồng vào tháng 8 - 10.

Khoảng cách các cây na được trồng thường phổ biến 3 x 3 m (có người trồng thưa với khoảng cách 4 x 4 m). Cây na ở giai GĐKTCB (1 - 3 năm tuổi) hàng năm được bón phân với lượng cho 1 cây là: 10 - 15 kg phân hữu cơ; 0,5 - 0,7 kg đạm urê; 0,4 kg 7 luan an supe lân; 0,2 - 0,3 kg kaliclorua. Bón làm 3 đợt: tháng 9 - 11 (100% lượng phân hữu cơ cả năm, 100% lượng lân supe cả năm, 30% lượng kaliclorua cả năm), vào tháng 2 - 3 bón đón lộc (50% lượng đạm urê cả năm, 40% lượng kaliclorua cả năm), vào tháng 6 - 7 bón nuôi cành (50% lượng đạm urê cả năm, 30% lượng kaliclorua cả năm). Cây na ở giai GĐKD (4 năm tuổi trở lên) hàng năm được bón lượng phân không giống nhau tùy theo địa phương và tuổi của cây na.

Cụ thể:  Tại Lạng Sơn. Cây na ở giai đoạn 4 - 8 năm tuổi hàng năm được bón phân với lượng cho 1 cây là: 15 - 20 kg phân hữu cơ; 1,0 - 1,5 kg đạm urê; 2,0 - 3,0 kg supe lân; 0,5 - 0,7 kg kaliclorua. Cây na ở giai đoạn trên 8 năm tuổi hàng năm được bón phân với lượng cho 1 cây là: 25 - 30 kg phân hữu cơ; 1,5 - 2,0 kg đạm urê; 3,0 - 3,5 kg supe lân; 0,7 - 1,0 kg kaliclorua. Lượng phân này được bón làm 3 đợt: vào tháng 2 - tháng 3 bón đón lộc và hoa (50% lượng đạm urê cả năm, 30% lượng kaliclorua cả năm), vào tháng 6 - tháng 7 bón nuôi quả và cành quả (40% lượng đạm urê cả năm, 40% lượng kaliclorua cả năm), vào tháng 9 - tháng 11 bón để hồi phục cây (100% lượng phân hữu cơ cả năm, 10% lượng đạm urê cả năm, 100% lượng supe lân cả năm, 30% lượng kaliclorua cả năm).

 Tại Hà Nam. Cây na ở giai đoạn 4 - 8 năm tuổi hàng năm được bón phân với lượng cho 1 cây là: 20 - 25 kg phân hữu cơ; 1,2 - 1,7 kg đạm urê; 2,5 - 3,5 kg supe lân; 0,7 - 1,0 kg kaliclorua. Cây na ở giai đoạn trên 8 năm tuổi hàng năm được bón phân với lượng cho 1 cây là: 30 - 40 kg phân hữu cơ; 1,7 - 2,2 kg đạm urê; 3,5 - 4,5 kg supe lân; 1,0 - 1,2 kg kaliclorua. Lượng phân này được bón làm 4 đợt: vào tháng 2 - tháng 3 bón đón lộc và hoa (30% lượng đạm urê cả năm, 25% lượng kaliclorua cả năm), vào tháng 6 - tháng 7 bón nuôi quả đợt 1 và cành (40% lượng đạm urê cả năm, 30% lượng kaliclorua cả năm), vào tháng 8 - tháng 9 bón nuôi quả đợt 2 và cành (20% lượng đạm urê cả năm, 25% lượng kaliclorua cả năm), vào tháng 10 - tháng 11 bón để hồi phục cây (100% lượng phân hữu cơ cả năm, 10% lượng đạm urê cả năm, 100% lượng supe lân cả năm, 20% lượng kaliclorua cả năm).

8 luan an Cắt tỉa cành, tạo tán. Cây na ở GĐKTCB chủ yếu được cắt tỉa cành, tạo tán từ tháng 3 đến tháng 10 hàng năm. Cây na ở GĐKD được tuốt lá và cắt tỉa cành, tạo tán từ tháng 12 đến tháng 2 năm sau. Thụ phấn bổ sung.

Ở giai đoạn 5 - 6 năm tuổi, mỗi cây na có 800 - 1. Người trồng na chỉ thụ phấn và giữ lại khoảng 200 - 300 quả/cây. Tại Lạng Sơn và Hà Nam người trồng na ở cả 2 vùng trồng na (Chi Lăng, Ba Sao) thường thụ phấn bổ sung cho hoa đợt 1 trong tháng 5 đầu tháng 6 để thu hoạch quả vào cuối tháng 8 đến tháng 10. Riêng tại Ba Sao (Hà Nam) nông dân đã thụ phấn bổ sung vào tháng 6 đầu tháng 7 để thu quả đợt 2 vào tháng 10 đến giữa tháng 11.

Phòng trừ sâu bệnh hại. Để phòng trừ sâu bệnh ở cả 2 vùng trồng na (Chi Lăng, Ba Sao) đã sử dụng nhiều loại thuốc bảo vệ thực vật. Khi phun thuốc thuốc trừ sâu bệnh, người trồng na đã hỗn hợp loại thuốc BVTV và phân bón qua lá với nhau trong một lần phun. Các loại thuốc được nông dân dùng gồm Marshal 200SC, Difluent 10WP, 25WP, Mosflanong 300SC, Reasgant 1.8EC, Actara 25WG,.

Nghiên cứu ở nước ngoài về sâu hại trên cây na 1. Thành phần loài sâu hại 1. Thành phần chung về loài sâu hại cây na Những nghiên cứu về sâu hại cây na ở nước ngoài tập trung nhiều ở các nước thuộc vùng Nam Mỹ. Đến năm 1995, đã tổng hợp được một danh sách gồm 296 loài chân khớp ghi nhận trên các loài thuộc chi na Annona ở nhiều nước thuộc vùng nhiệt đới châu Mỹ.

Trong đó, trên cây na Annona squamosa bắt gặp 80 loài thuộc 8 bộ côn trùng và 1 bộ ve bét.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Đặc điểm sinh học và biện pháp phòng chống sâu hại trên cây na ở miền Bắc Việt Nam" của tác giả Nguyễn Văn Dân, dưới sự hướng dẫn của GS. Phạm Văn Lầm và TS. Nguyễn Văn Liêm, cung cấp cái nhìn sâu sắc về sinh học của sâu hại trên cây na và các biện pháp hiệu quả để phòng chống chúng. Nghiên cứu này không chỉ giúp nông dân miền Bắc Việt Nam hiểu rõ hơn về các loại sâu hại mà còn đưa ra những giải pháp thực tiễn nhằm bảo vệ cây na, từ đó nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm.

Để mở rộng thêm kiến thức về bảo vệ thực vật và nông nghiệp, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như Sử dụng Đất Nông Nghiệp ở Nông Cống, Thanh Hóa (2014-2019): Hiện Trạng và Phân Tích, nơi nghiên cứu hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp, hay Nghiên cứu bệnh đốm nâu do Alternaria sp gây hại trên cây chanh leo và biện pháp quản lý tại Nghệ An, cung cấp thông tin về các bệnh hại cây trồng và biện pháp quản lý. Cuối cùng, bạn cũng có thể tìm hiểu thêm về Nghiên cứu đặc tính và hiệu quả của virus nucleopolyhedrosis trên sâu Spodoptera tại Đồng bằng sông Cửu Long, một nghiên cứu liên quan đến biện pháp sinh học trong phòng trừ sâu hại. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các vấn đề liên quan đến bảo vệ thực vật trong nông nghiệp.