CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Nghiên cứu về rệp sáp giả Paracoccus marginatus trên thế giới 1. Nghiên cứu về phân loại, phân bố và tác hại của rệp sáp giả Paracoccus marginatus 1. Phân loại rệp sáp giả hại cây đu đủ Mẫu vật rệp sáp giả hại cây đu đủ được thu thập lần đầu tiên trên cây sắn vào năm 1955 ở Mexico, sau đó đã nhiều lần được thu thập lại trong thời gian từ 1975-1985 tại Mexico và Trung Mỹ khi thực hiện nghiên cứu về rệp sáp bột hồng hại sắn Phenacoccus manihoti và thiên địch của rệp sáp bột hồng hại sắn (Al-Helal, 2012; Mani et al., 2012; Mastoi et al., 2014; Miller et al., 1999; Muniappan, 2014; Tanwar et al., 2010; Walker et al., 2003; Wu et al.
Cũng có ý kiến cho rằng những mẫu đầu tiên được thu vào năm 1967 tại Acapulco thuộc Mexico (Miller et al. Tuy nhiên, cho tới khi xem xét hàng ngàn mẫu vật thuộc họ Pseudococcidae để xây dựng cuốn sách rệp sáp giả ở vùng Trung và Nam Mỹ thì loài rệp sáp giả P. marginatus mới được Williams and Granara de Willink mô tả lần đầu tiên vào năm 1992 dựa trên mẫu vật thu từ vùng tân nhiệt đới (neotropical region) bao gồm các nước Nam Mỹ ở Belize, Costa Rica, Guatemala và nhiệt đới Châu Mỹ (Al-Helal, 2012; Amarasekare et al., 2008b; Krishnan et al., 2016; Mani et al., 2012; ManiChellappan et al., 2013a; Meyerdirk et al., 2004; Miller et al., 1999; Muniappan, 2014; Muniappan et al., 2006; Selvaraju and Sakthivel, 2011; Tairas et al., 2014; Tanwar et al., 2010; Walker et al., 2003; Williams and Willink, 1992; Wu et al. Sau đó các mẫu này được Miller và Miller mô tả lại vào năm 2002, Angeles Martinez và De Los Suris cũng mô tả lại năm 2005 (Amarasekare et al., 2008b; Mani et al., 2012; ManiChellappan et al., 2013a; Meyerdirk et al., 2004; Miller and Miller, 2002; Muniappan et al.
5 luan an Theo Williams và Willink (1992), rệp sáp giả P. marginatus có vị trí phân loại như sau: Giới động vật Kingdom Animalia Ngành chân đốt Phylum Arthropoda Lớp côn trùng Class Insecta Phân lớp côn trùng có cánh Subclass Pterygota Bộ cánh đều Order Homoptera Phân bộ vòi ở ngực Suborder Sternorrhyncha Tổng họ rệp sáp Superfamily Coccoidea Họ rệp sáp giả Family Pseudococcidae Giống Genus Paracoccus Loài Species P. Nguồn gốc, phân bố và sự xâm lấn của rệp sáp giả Paracoccus marginatus Rệp sáp giả P.marginatus có nguồn gốc từ Mexico, Trung Mỹ và phân bố ở vùng nhiệt đới Châu Mỹ (neotropical) bao gồm Mexico, Belize, Costa Rica, Guatemala (Al-Helal, 2012; Amarasekare et al., 2008b, 2009; Chen et al., 2011; Heu et al., 2007; Krishnan et al., 2016; Mahalingam et al., 2010; Mani et al., 2012; ManiChellappan et al., 2013a; Meyerdirk et al., 2004; Miller et al., 1999; Muniappan, 2014; Muniappan et al., 2008, 2008, 2006; Saengyot and Burikam, 2011; Selvaraju and Sakthivel, 2011; Sharma et al., 2013; Tairas et al., 2014; Tanwar et al., 2010; Walker et al., 2003; Williams and Willink, 1992; Wu et al. Loài rệp sáp giả P.
marginatus lần đầu tiên được ghi nhận hại trên đu đủ ở Antigua, đảo St. Martin thuộc Caribê và các đảo Virgin thuộc Vương quốc Anh năm 1996, xâm lấn Florida (Hoa Kỳ), Haiti, St. Kitts, Nevis, St. Barthelemy, Guatemala, Guadaloupe năm 1998; xâm lấn Guyana thuộc Pháp, Guiana, Cuba, Puerto Rico năm 1999; xâm lấn Barbados, Belize, các 6 luan an đảo của Cayman, Costa Rica, Cayman, Montserrat năm 2000 (Amarasekare et al., 2008b; Chen et al., 2011; Heu et al., 2007; Miller et al., 1999; Muniappan, 2014; Muniappan et al.
Đến năm 1994, loài côn trùng hại này đã được ghi nhận ở 14 nước vùng Caribê (Amarasekare et al., 2009; Mani et al., 2012; Tairas et al., 2014; Tanwar et al., 2010; Walker et al., 2003; Wu et al. Chúng bắt đầu xâm lấn ra khỏi khu phân bố tự nhiên từ năm 1992 và nhanh chóng trở thành loài ngoại lai xâm lấn ở nhiều đảo thuộc vùng Caribê, Trung Mỹ, Nam Mỹ. Đến năm 2000, ngoài 14 nước trong vùng Caribê, rệp sáp giả P. marginatus đã xâm lấn thêm Florida (Hoa Kỳ) và vùng Trung Mỹ, Nam Mỹ (mỗi vùng 3 nước).
Kể từ khi xâm lấn vào vùng Caribê, Hoa Kỳ và các đảo ở Thái Bình Dương, rệp sáp giả P. marginatus đã thiết lập được quần thể ở hầu hết các đảo vùng Caribê, Florida, Guam, Cộng hòa Palau, Hawaii. Chúng tiếp tục xâm lấn sang các nước láng giềng ở vùng Hawaii trên Thái Bình Dương (Amarasekare et al., 2008b; Tanwar et al., 2010; Wu et al., 2014); xâm lấn Netherlands, Antilles, Bahamas, Guam năm 2002- 2003; xâm lấn Hawaii (Maui, Oahu) năm 2004; Northern Marianas năm 2005 (Al-Helal et al., 2012; Mani et al., 2012; Mastoi et al., 2014; Meyerdirk et al., 2004; Muniappan, 2014; Muniappan et al. Đối với Hoa Kỳ, rệp sáp giả P.
marginatus được ghi nhận lần đầu tiên vào năm 1998 ở Palm Beach, Manatee, Broward, Bradenton thuộc bang Florida trên cây dâm bụt. Năm 2001, loài này xâm lấn sang bang Illinois và đến tháng 1 năm 2002 xâm lấn trên 18 loài thực vật ở 30 địa điểm khác nhau của Hoa Kỳ (Amarasekare et al., 2008b, 2009; Krishnan et al., 2016; Miller et al., 1999; Saengyot and Burikam, 2011; Tairas et al., 2014; Tanwar et al., 2010; Walker et al., 2003; Wu et al. Chúng thiết lập được quần thể và gây hại nặng trên cây đu đủ ở đảo Guam từ tháng 4 năm 2002 (Amarasekare et al., 2008b, 2009; Krishnan et al., 2016; Heu et al., 2007; Mastoi et al., 2014; Meyerdirk et al., 2004; Muniappan, 2014; Saengyot and 7 luan an Burikam, 2011; Tanwar et al., 2010; Walker et al., 2003; Wu et al. Tại Hawaii, đến đầu tháng 5 năm 2004 đã ghi nhận được loài này trên các cây đu đủ, Plumeria, dâm bụt và Jatropha spp.
(Amarasekare et al., 2008b, 2009; Heu et al., 2007; Mastoi et al., 2014; Muniappan, 2014; Saengyot and Burikam, 2011; Wu et al. Ở châu Phi, rệp sáp giả P. marginatus xuất hiện ở Ghana tháng 12 năm 2009 (Cham et al., 2011; Mani et al., 2012; Muniappan, 2014; Pelican News, 2009); xuất hiện ở ở Senegal năm 2013, ở Seycheles năm 2014, ở Nigeria năm 2011, ở Benin và Togo năm 2010 (Muniappan, 2014). Trong thời gian ngắn, rệp sáp giả P.
marginatus đã ghi nhận được ở nhiều nước châu Á gồm Bangladesh, Campuchia, Malaysia, Maldives, Pakistan, Philippinnes, Sri Lanka Đài Loan, Thái Lan (Galanihe et al., 2010; Mastoi et al., 2011; Muniappan et al. Một nhóm các nhà khoa học thuộc chương trình hợp tác hỗ trợ nghiên cứu quản lý sinh vật hại tổng hợp (IPM CRSP) thăm vùng Coimbatore (Ấn Độ) và phát hiện được rệp sáp giả P. marginatus từ tháng 7 năm 2007 tại một vườn ở Đại học nông nghiệp Tamil Nadu (Coimbatore). Sau đó, nó đã lan tới 3 khu vực lân cận với Tamil Nadu (Al-Helal et al., 2012; ManiChellappan et al., 2013a; Mahalingam et al., 2010; Mastoi et al., 2014; Muniappan, 2011, 2014; Muniappan et al., 2008; Tanwar et al., 2010; Wu et al.
Năm 2009, đã ghi nhận rệp sáp giả P. marginatus bùng phát số lượng trên một số cây trồng, cây cảnh và cỏ dại ở Coimbatore và Erode. Nó nhanh chóng xâm lấn tới các khu vực Salem, Namakkal, Karur, Tiruppur, Dharmapuri, Krishnagiri của Tamil Nadu trong mùa hè năm 2010. Sau đó cũng được ghi nhận xuất hiện ở các bang khác của Ấn Độ như Karnataka của Andhra Pradesh, Malappuram và Thrissur của Kerala, Pune của Maharastra (ManiChellappan et al., 2013a; Selvaraju and Sakthivel, 2011; Tanwar et al.
Năm 2013-2014 đã ghi nhận rệp sáp giả P. marginatus 8 luan an gây hại trên giống bông Bt ở vùng Gujarat của Ấn Độ (Dhobi et al. Có ý kiến cho rằng rệp sáp giả P. marginatus được phát hiện lần đầu ở Coimbatore (Tamil Nadu, Ấn Độ) vào tháng 5-7/2008.
Từ đó, nó lan tới các bang Karnataka, Andhra Pradesh, Maharastra, Kerala, Tripura, Assam, Orissa (Al-Helal et al., 2012; Mani et al., 2012; Muniappan et al. Nhóm các nhà khoa học trên cũng tìm thấy rệp sáp giả P.marginatus ở Bangladesh vào tháng 5-2009 (Al-Helal et al., 2012; Mani et al., 2012; Muniappan, 2014; Wu et al., 2014); ở Maldives vào tháng 8-2009 (Mani et al., 2012, 2013; Muniappan, 2011; Muniappan et al., 2008; Wu et al., 2014), năm 2009 ở Malaysia (Wu et al., 2014); ở Vân Nam (Trung Quốc) vào tháng 10-2012 (Wu et al., 2014); ở Đài Loan vào 2010 (Chen et al., 2011; Mani et al., 2012); ở Nam và Đông Nam Á trong thời gian 2008-2009 (Al- Helal et al., 2012; Krishnan et al., 2016; Mani et al., 2012; Tanwar et al., 2010); bùng phát số lượng lần đầu tiên ở Vườn thực vật Bogor (Java, Indonesia) vào tháng 5 và tháng 7 năm 2008; xâm lấn khu vực Colombo, Gampaha ở Sri Lanka vào tháng 7-9 năm 2008. Tại các nước này, rệp sáp giả P. marginatus xâm lấn chủ yếu ở các vùng Gampaha, Colombo, Kurunagela, Kalutera (Galanihe et al., 2010; Mani et al., 2012; Muniappan, 2011, 2014; Wu et al.
Những điều tra sau đó cho thấy rệp sáp giả P. marginatus đã lây lan đến đảo các Bali và Sulawesi (Al-Helal et al., 2012; Mani et al., 2012; Mastoi et al., 2014; Muniappan, 2011, 2014; Muniappan et al., 2008, 2009; Tairas et al., 2014; Wu et al. Theo Wu và nnk. (2014), vào tháng 11- 2008 rệp sáp giả P.
marginatus cũng được ghi nhận ở Bắc Thái Lan. Saengyot và Burikam (2011) cũng khẳng định rệp sáp giả P. marginatus được ghi nhận trên cây đu đủ ở Thái Lan vào năm 2008 nhưng Mani và nnk. (2012) và Muniappan (2011, 2014) cho rằng tháng 4 năm 2010 mới phát hiện thấy ở Thái Lan.
Tại Campuchia, rệp sáp giả P. marginatus được phát 9 luan an hiện ở Phnom Penh vào tháng 4 năm 2010 (Mani et al., 2012; Muniappan, 2011, 2014); Philippinnes phát hiện thấy ở Manila năm 2008-2010 (Mani et al., 2012; Muniappan, 2011, 2014); Malaysia ghi nhận lần đầu tiên vào năm 2009 tại Negeri Sembilan và Selangor (Mani et al., 2012; Mastoi et al., 2011; Muniappan et al. Như vậy, đến nay rệp sáp giả P. marginatus đã ghi nhận được ở 5 vùng địa sinh vật là Neotropical, Nearctic, Oceania/Australia, Oriental/Indo-Malai và Afrotropical (Ben-Dov, 2012; Heu et al., 2007; Meyerdirk et al., 2004; Miller et al., 1999; Muniappan et al.
Tác hại của rệp sáp giả Paracoccus marginatus Triệu chứng gây hại Triệu chứng gây hại của rệp sáp giả P. marginatus đã được nhiều tài liệu đề cập và đều cho rằng biểu hiện sự xâm nhiễm của rệp sáp giả P. marginatus là sự xuất hiện của những đám màu trắng như bông với những sợi tơ sáp dài ở các bộ phận trên mặt đất của các cây. marginatus nhanh chóng lây lan và gây hại trên hầu hết các bộ phận trên mặt đất của cây bao gồm cả lá, cành lá, thân và quả.
Cây bị xâm nhiễm nặng có thể hình thành những quần tụ lớn màu trắng như bông ở các bộ phận trên mặt đất, lá bọ úa vàng, biến dạng, các cây còn non bị lùn, còi cọc, héo quắt lại và nghiêm trọng hơn có thể bị chết. Cây bị nhiễm nặng thường bị hiện tượng rụng sớm của lá, hoa và quả (Heu et al., 2007; Galanihe et al.