Luận án tiến sĩ đặc điểm sinh học sinh thái và biện pháp phòng chống rệp sáp giả paracoccus marginatus william and granara de willink homoptera pseudococidae hại cây đu đủ tại hà nội

Luận án tiến sĩ nghiên cứu đặc điểm sinh học sinh thái và biện pháp phòng chống rệp sáp giả paracoccus marginatus william and, phát triển phương pháp mới, đánh giá hiệu quả ứng

Chuyên ngành

Bảo Vệ Thực Vật

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án Tiến Sĩ

2019

168
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Nghiên cứu về rệp sáp giả Paracoccus marginatus trên thế giới

1.2. Nghiên cứu về phân loại, phân bố và tác hại của rệp sáp giả Paracoccus marginatus

1.2.1. Phân loại rệp sáp giả hại đu đủ

2. CHƯƠNG 2: VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Địa điểm, thời gian nghiên cứu

2.1.1. Địa điểm nghiên cứu

2.1.2. Thời gian nghiên cứu

2.2. Nội dung nghiên cứu

2.3. Vật liệu và dụng cụ nghiên cứu

2.3.1. Vật liệu nghiên cứu

2.3.2. Dụng cụ, thiết bị hóa chất

2.4. Phương pháp nghiên cứu

2.4.1. Phương pháp điều tra thành phần sâu hại cây đu đủ và xác định loài sâu chính hại cây đu đủ ở vùng Hà Nội

2.4.2. Phương pháp điều tra sâu hại trên cây đu đủ

2.4.3. Giám định tên các sâu hại cây đu đủ

2.4.4. Phương pháp nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh vật học, sinh thái học của rệp sáp giả Paracoccus marginatus trong phòng thí nghiệm

2.4.5. Chuẩn bị cây thức ăn của rệp sáp giả P. marginatus và tạo nguồn rệp sáp giả P. marginatus phục vụ thí nghiệm

2.4.6. Nghiên cứu đặc điểm hình thái học

2.4.7. Phương pháp nghiên cứu diễn biến mật độ và yếu tố ảnh hưởng đến số lượng loài rệp sáp giả Paracoccus marginatus trên cây đu đủ

2.4.8. Phương pháp nghiên cứu biện pháp phòng chống tổng hợp rệp sáp giả Paracoccus marginatus trên cây đu đủ

2.4.9. Phương pháp nghiên cứu phòng chống bằng biện pháp canh tác

2.4.10. Phương pháp nghiên cứu phòng chống bằng biện pháp thủ công

2.4.11. Phương pháp nghiên cứu phòng chống bằng biện pháp sử dụng thuốc bảo vệ thực vật

2.4.12. Phương pháp xử lý số liệu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1. Thành phần sâu hại cây đu đủ ở vùng Hà Nội

3.1.1. Thành phần loài côn trùng và nhện nhỏ hại cây đu đủ

3.1.2. Giám định tên loài rệp sáp giả hại cây đu đủ đã thu thập

3.1.3. Dinh dưỡng và mức độ xuất hiện của các loài côn trùng/nhện nhỏ hại cây đu đủ

3.2. Đặc điểm hình thái, sinh vật học, sinh thái học của loài rệp sáp giả Paracoccus marginatus

3.2.1. Đặc điểm hình thái học của rệp sáp giả Paracoccus marginatus

3.2.2. Đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của loài rệp sáp giả Paracoccus marginatus

3.2.3. Tập tính sống của rệp sáp giả Paracoccus marginatus

3.2.4. Đặc điểm biến thái của rệp sáp giả Paracoccus marginatus

3.2.5. Thời gian phát triển cá thể của rệp sáp giả Paracoccus marginatus

3.2.6. Sinh sản và thời gian sống của rệp sáp giả Paracoccus marginatus

3.2.7. Phổ cây thức ăn của rệp sáp giả Paracoccus marginatus

3.2.8. Tỷ lệ sống ở giai đoạn trước trưởng thành của rệp sáp giả Paracoccus marginatus

3.2.9. Bảng sống của rệp sáp giả Paracoccus marginatus

3.2.10. Số thế hệ trong một năm của rệp sáp giả Paracoccus marginatus

3.3. Diễn biến mật độ và yếu tố ảnh hưởng đến số lượng rệp sáp giả Paracoccus marginatus

3.3.1. Diễn biến mật độ rệp sáp giả Paracoccus marginatus trên các giống đu đủ khác nhau

3.3.2. Diễn biến mật độ rệp sáp giả Paracoccus marginatus trên cây đu đủ ở các độ tuổi khác nhau

3.3.3. Diễn biến mật độ rệp sáp giả Paracoccus marginatus trong vườn trồng thuần và trồng xen

3.3.4. Ảnh hưởng của luân canh đến mật độ rệp sáp giả Paracoccus marginatus

3.4. Biện pháp phòng chống rệp sáp giả Paracoccus marginatus

3.4.1. Biện pháp canh tác

3.4.2. Biện pháp sử dụng thuốc bảo vệ thực vật

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ TRONG LUẬN ÁN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH

Tóm tắt

I. Đặc điểm sinh học của rệp sáp giả Paracoccus marginatus

Rệp sáp giả Paracoccus marginatus là một trong những loài gây hại chính cho cây đu đủ tại Hà Nội. Đặc điểm sinh học của loài này bao gồm các giai đoạn phát triển từ trứng, ấu trùng đến trưởng thành. Thời gian phát triển của từng giai đoạn phụ thuộc vào điều kiện môi trường như nhiệt độ và độ ẩm. Theo nghiên cứu, rệp sáp giả có khả năng sinh sản cao, với một con cái có thể đẻ hàng trăm trứng trong suốt vòng đời. Điều này dẫn đến sự gia tăng nhanh chóng về mật độ quần thể, gây áp lực lớn lên cây đu đủ. Tác hại của rệp sáp giả không chỉ làm giảm năng suất mà còn ảnh hưởng đến chất lượng quả. "Rệp sáp giả có thể làm giảm đến 50% năng suất cây đu đủ nếu không có biện pháp phòng chống kịp thời". Việc hiểu rõ đặc điểm sinh học của rệp sáp giả là cần thiết để phát triển các biện pháp phòng chống hiệu quả.

1.1. Vòng đời và sự phát triển

Vòng đời của rệp sáp giả Paracoccus marginatus bao gồm các giai đoạn từ trứng, ấu trùng đến trưởng thành. Thời gian phát triển của từng giai đoạn có thể thay đổi tùy thuộc vào điều kiện môi trường. Nghiên cứu cho thấy, trong điều kiện lý tưởng, rệp sáp giả có thể hoàn thành vòng đời trong khoảng 30 ngày. Sự phát triển nhanh chóng này là một trong những lý do khiến rệp sáp giả trở thành mối đe dọa lớn đối với cây đu đủ. "Mỗi con cái có thể đẻ từ 200 đến 300 trứng, tạo ra một thế hệ mới trong thời gian ngắn". Điều này cho thấy sự cần thiết phải theo dõi và kiểm soát mật độ rệp sáp giả để bảo vệ cây trồng.

1.2. Tác động đến cây đu đủ

Rệp sáp giả Paracoccus marginatus gây hại chủ yếu bằng cách hút nhựa cây, làm giảm sức sống và năng suất của cây đu đủ. Sự tấn công của rệp sáp giả có thể dẫn đến hiện tượng vàng lá, rụng quả và giảm chất lượng sản phẩm. "Nghiên cứu cho thấy, cây đu đủ bị nhiễm rệp sáp giả có thể giảm năng suất lên đến 50%". Điều này không chỉ ảnh hưởng đến nông dân mà còn đến toàn bộ chuỗi cung ứng thực phẩm. Việc phát hiện sớm và áp dụng các biện pháp phòng chống kịp thời là rất quan trọng để bảo vệ cây đu đủ khỏi sự tấn công của rệp sáp giả.

II. Biện pháp phòng chống rệp sáp giả

Để kiểm soát rệp sáp giả Paracoccus marginatus, cần áp dụng các biện pháp phòng chống tổng hợp (IPM). Các biện pháp này bao gồm canh tác, sử dụng thuốc bảo vệ thực vật và biện pháp sinh học. Việc canh tác hợp lý như luân canh cây trồng, trồng giống kháng bệnh có thể giúp giảm mật độ rệp sáp giả. "Sử dụng giống đu đủ kháng rệp sáp giả là một trong những biện pháp hiệu quả nhất". Ngoài ra, việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật cũng cần được thực hiện một cách hợp lý để tránh gây hại cho môi trường và sức khỏe con người.

2.1. Biện pháp canh tác

Biện pháp canh tác là một trong những phương pháp hiệu quả để phòng chống rệp sáp giả. Việc luân canh cây trồng giúp phá vỡ vòng đời của rệp sáp giả, từ đó giảm mật độ quần thể. "Trồng xen canh với các loại cây khác cũng giúp làm giảm sự phát triển của rệp sáp giả". Ngoài ra, việc chăm sóc cây trồng đúng cách, như tưới nước hợp lý và bón phân cân đối, cũng góp phần nâng cao sức đề kháng của cây đu đủ đối với sự tấn công của rệp sáp giả.

2.2. Sử dụng thuốc bảo vệ thực vật

Sử dụng thuốc bảo vệ thực vật là một trong những biện pháp phổ biến để kiểm soát rệp sáp giả. Tuy nhiên, cần lựa chọn các loại thuốc có hiệu quả cao và an toàn cho môi trường. "Nghiên cứu cho thấy, một số loại thuốc sinh học có thể tiêu diệt rệp sáp giả mà không gây hại cho các loài thiên địch". Việc áp dụng thuốc cần tuân thủ đúng liều lượng và thời gian để đạt hiệu quả cao nhất. Đồng thời, cần kết hợp với các biện pháp khác để đảm bảo sự bền vững trong sản xuất nông nghiệp.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Nghiên cứu về rệp sáp giả Paracoccus marginatus trên thế giới 1. Nghiên cứu về phân loại, phân bố và tác hại của rệp sáp giả Paracoccus marginatus 1. Phân loại rệp sáp giả hại cây đu đủ Mẫu vật rệp sáp giả hại cây đu đủ được thu thập lần đầu tiên trên cây sắn vào năm 1955 ở Mexico, sau đó đã nhiều lần được thu thập lại trong thời gian từ 1975-1985 tại Mexico và Trung Mỹ khi thực hiện nghiên cứu về rệp sáp bột hồng hại sắn Phenacoccus manihoti và thiên địch của rệp sáp bột hồng hại sắn (Al-Helal, 2012; Mani et al., 2012; Mastoi et al., 2014; Miller et al., 1999; Muniappan, 2014; Tanwar et al., 2010; Walker et al., 2003; Wu et al.

Cũng có ý kiến cho rằng những mẫu đầu tiên được thu vào năm 1967 tại Acapulco thuộc Mexico (Miller et al. Tuy nhiên, cho tới khi xem xét hàng ngàn mẫu vật thuộc họ Pseudococcidae để xây dựng cuốn sách rệp sáp giả ở vùng Trung và Nam Mỹ thì loài rệp sáp giả P. marginatus mới được Williams and Granara de Willink mô tả lần đầu tiên vào năm 1992 dựa trên mẫu vật thu từ vùng tân nhiệt đới (neotropical region) bao gồm các nước Nam Mỹ ở Belize, Costa Rica, Guatemala và nhiệt đới Châu Mỹ (Al-Helal, 2012; Amarasekare et al., 2008b; Krishnan et al., 2016; Mani et al., 2012; ManiChellappan et al., 2013a; Meyerdirk et al., 2004; Miller et al., 1999; Muniappan, 2014; Muniappan et al., 2006; Selvaraju and Sakthivel, 2011; Tairas et al., 2014; Tanwar et al., 2010; Walker et al., 2003; Williams and Willink, 1992; Wu et al. Sau đó các mẫu này được Miller và Miller mô tả lại vào năm 2002, Angeles Martinez và De Los Suris cũng mô tả lại năm 2005 (Amarasekare et al., 2008b; Mani et al., 2012; ManiChellappan et al., 2013a; Meyerdirk et al., 2004; Miller and Miller, 2002; Muniappan et al.

5 luan an Theo Williams và Willink (1992), rệp sáp giả P. marginatus có vị trí phân loại như sau: Giới động vật Kingdom Animalia Ngành chân đốt Phylum Arthropoda Lớp côn trùng Class Insecta Phân lớp côn trùng có cánh Subclass Pterygota Bộ cánh đều Order Homoptera Phân bộ vòi ở ngực Suborder Sternorrhyncha Tổng họ rệp sáp Superfamily Coccoidea Họ rệp sáp giả Family Pseudococcidae Giống Genus Paracoccus Loài Species P. Nguồn gốc, phân bố và sự xâm lấn của rệp sáp giả Paracoccus marginatus Rệp sáp giả P.marginatus có nguồn gốc từ Mexico, Trung Mỹ và phân bố ở vùng nhiệt đới Châu Mỹ (neotropical) bao gồm Mexico, Belize, Costa Rica, Guatemala (Al-Helal, 2012; Amarasekare et al., 2008b, 2009; Chen et al., 2011; Heu et al., 2007; Krishnan et al., 2016; Mahalingam et al., 2010; Mani et al., 2012; ManiChellappan et al., 2013a; Meyerdirk et al., 2004; Miller et al., 1999; Muniappan, 2014; Muniappan et al., 2008, 2008, 2006; Saengyot and Burikam, 2011; Selvaraju and Sakthivel, 2011; Sharma et al., 2013; Tairas et al., 2014; Tanwar et al., 2010; Walker et al., 2003; Williams and Willink, 1992; Wu et al. Loài rệp sáp giả P.

marginatus lần đầu tiên được ghi nhận hại trên đu đủ ở Antigua, đảo St. Martin thuộc Caribê và các đảo Virgin thuộc Vương quốc Anh năm 1996, xâm lấn Florida (Hoa Kỳ), Haiti, St. Kitts, Nevis, St. Barthelemy, Guatemala, Guadaloupe năm 1998; xâm lấn Guyana thuộc Pháp, Guiana, Cuba, Puerto Rico năm 1999; xâm lấn Barbados, Belize, các 6 luan an đảo của Cayman, Costa Rica, Cayman, Montserrat năm 2000 (Amarasekare et al., 2008b; Chen et al., 2011; Heu et al., 2007; Miller et al., 1999; Muniappan, 2014; Muniappan et al.

Đến năm 1994, loài côn trùng hại này đã được ghi nhận ở 14 nước vùng Caribê (Amarasekare et al., 2009; Mani et al., 2012; Tairas et al., 2014; Tanwar et al., 2010; Walker et al., 2003; Wu et al. Chúng bắt đầu xâm lấn ra khỏi khu phân bố tự nhiên từ năm 1992 và nhanh chóng trở thành loài ngoại lai xâm lấn ở nhiều đảo thuộc vùng Caribê, Trung Mỹ, Nam Mỹ. Đến năm 2000, ngoài 14 nước trong vùng Caribê, rệp sáp giả P. marginatus đã xâm lấn thêm Florida (Hoa Kỳ) và vùng Trung Mỹ, Nam Mỹ (mỗi vùng 3 nước).

Kể từ khi xâm lấn vào vùng Caribê, Hoa Kỳ và các đảo ở Thái Bình Dương, rệp sáp giả P. marginatus đã thiết lập được quần thể ở hầu hết các đảo vùng Caribê, Florida, Guam, Cộng hòa Palau, Hawaii. Chúng tiếp tục xâm lấn sang các nước láng giềng ở vùng Hawaii trên Thái Bình Dương (Amarasekare et al., 2008b; Tanwar et al., 2010; Wu et al., 2014); xâm lấn Netherlands, Antilles, Bahamas, Guam năm 2002- 2003; xâm lấn Hawaii (Maui, Oahu) năm 2004; Northern Marianas năm 2005 (Al-Helal et al., 2012; Mani et al., 2012; Mastoi et al., 2014; Meyerdirk et al., 2004; Muniappan, 2014; Muniappan et al. Đối với Hoa Kỳ, rệp sáp giả P.

marginatus được ghi nhận lần đầu tiên vào năm 1998 ở Palm Beach, Manatee, Broward, Bradenton thuộc bang Florida trên cây dâm bụt. Năm 2001, loài này xâm lấn sang bang Illinois và đến tháng 1 năm 2002 xâm lấn trên 18 loài thực vật ở 30 địa điểm khác nhau của Hoa Kỳ (Amarasekare et al., 2008b, 2009; Krishnan et al., 2016; Miller et al., 1999; Saengyot and Burikam, 2011; Tairas et al., 2014; Tanwar et al., 2010; Walker et al., 2003; Wu et al. Chúng thiết lập được quần thể và gây hại nặng trên cây đu đủ ở đảo Guam từ tháng 4 năm 2002 (Amarasekare et al., 2008b, 2009; Krishnan et al., 2016; Heu et al., 2007; Mastoi et al., 2014; Meyerdirk et al., 2004; Muniappan, 2014; Saengyot and 7 luan an Burikam, 2011; Tanwar et al., 2010; Walker et al., 2003; Wu et al. Tại Hawaii, đến đầu tháng 5 năm 2004 đã ghi nhận được loài này trên các cây đu đủ, Plumeria, dâm bụt và Jatropha spp.

(Amarasekare et al., 2008b, 2009; Heu et al., 2007; Mastoi et al., 2014; Muniappan, 2014; Saengyot and Burikam, 2011; Wu et al. Ở châu Phi, rệp sáp giả P. marginatus xuất hiện ở Ghana tháng 12 năm 2009 (Cham et al., 2011; Mani et al., 2012; Muniappan, 2014; Pelican News, 2009); xuất hiện ở ở Senegal năm 2013, ở Seycheles năm 2014, ở Nigeria năm 2011, ở Benin và Togo năm 2010 (Muniappan, 2014). Trong thời gian ngắn, rệp sáp giả P.

marginatus đã ghi nhận được ở nhiều nước châu Á gồm Bangladesh, Campuchia, Malaysia, Maldives, Pakistan, Philippinnes, Sri Lanka Đài Loan, Thái Lan (Galanihe et al., 2010; Mastoi et al., 2011; Muniappan et al. Một nhóm các nhà khoa học thuộc chương trình hợp tác hỗ trợ nghiên cứu quản lý sinh vật hại tổng hợp (IPM CRSP) thăm vùng Coimbatore (Ấn Độ) và phát hiện được rệp sáp giả P. marginatus từ tháng 7 năm 2007 tại một vườn ở Đại học nông nghiệp Tamil Nadu (Coimbatore). Sau đó, nó đã lan tới 3 khu vực lân cận với Tamil Nadu (Al-Helal et al., 2012; ManiChellappan et al., 2013a; Mahalingam et al., 2010; Mastoi et al., 2014; Muniappan, 2011, 2014; Muniappan et al., 2008; Tanwar et al., 2010; Wu et al.

Năm 2009, đã ghi nhận rệp sáp giả P. marginatus bùng phát số lượng trên một số cây trồng, cây cảnh và cỏ dại ở Coimbatore và Erode. Nó nhanh chóng xâm lấn tới các khu vực Salem, Namakkal, Karur, Tiruppur, Dharmapuri, Krishnagiri của Tamil Nadu trong mùa hè năm 2010. Sau đó cũng được ghi nhận xuất hiện ở các bang khác của Ấn Độ như Karnataka của Andhra Pradesh, Malappuram và Thrissur của Kerala, Pune của Maharastra (ManiChellappan et al., 2013a; Selvaraju and Sakthivel, 2011; Tanwar et al.

Năm 2013-2014 đã ghi nhận rệp sáp giả P. marginatus 8 luan an gây hại trên giống bông Bt ở vùng Gujarat của Ấn Độ (Dhobi et al. Có ý kiến cho rằng rệp sáp giả P. marginatus được phát hiện lần đầu ở Coimbatore (Tamil Nadu, Ấn Độ) vào tháng 5-7/2008.

Từ đó, nó lan tới các bang Karnataka, Andhra Pradesh, Maharastra, Kerala, Tripura, Assam, Orissa (Al-Helal et al., 2012; Mani et al., 2012; Muniappan et al. Nhóm các nhà khoa học trên cũng tìm thấy rệp sáp giả P.marginatus ở Bangladesh vào tháng 5-2009 (Al-Helal et al., 2012; Mani et al., 2012; Muniappan, 2014; Wu et al., 2014); ở Maldives vào tháng 8-2009 (Mani et al., 2012, 2013; Muniappan, 2011; Muniappan et al., 2008; Wu et al., 2014), năm 2009 ở Malaysia (Wu et al., 2014); ở Vân Nam (Trung Quốc) vào tháng 10-2012 (Wu et al., 2014); ở Đài Loan vào 2010 (Chen et al., 2011; Mani et al., 2012); ở Nam và Đông Nam Á trong thời gian 2008-2009 (Al- Helal et al., 2012; Krishnan et al., 2016; Mani et al., 2012; Tanwar et al., 2010); bùng phát số lượng lần đầu tiên ở Vườn thực vật Bogor (Java, Indonesia) vào tháng 5 và tháng 7 năm 2008; xâm lấn khu vực Colombo, Gampaha ở Sri Lanka vào tháng 7-9 năm 2008. Tại các nước này, rệp sáp giả P. marginatus xâm lấn chủ yếu ở các vùng Gampaha, Colombo, Kurunagela, Kalutera (Galanihe et al., 2010; Mani et al., 2012; Muniappan, 2011, 2014; Wu et al.

Những điều tra sau đó cho thấy rệp sáp giả P. marginatus đã lây lan đến đảo các Bali và Sulawesi (Al-Helal et al., 2012; Mani et al., 2012; Mastoi et al., 2014; Muniappan, 2011, 2014; Muniappan et al., 2008, 2009; Tairas et al., 2014; Wu et al. Theo Wu và nnk. (2014), vào tháng 11- 2008 rệp sáp giả P.

marginatus cũng được ghi nhận ở Bắc Thái Lan. Saengyot và Burikam (2011) cũng khẳng định rệp sáp giả P. marginatus được ghi nhận trên cây đu đủ ở Thái Lan vào năm 2008 nhưng Mani và nnk. (2012) và Muniappan (2011, 2014) cho rằng tháng 4 năm 2010 mới phát hiện thấy ở Thái Lan.

Tại Campuchia, rệp sáp giả P. marginatus được phát 9 luan an hiện ở Phnom Penh vào tháng 4 năm 2010 (Mani et al., 2012; Muniappan, 2011, 2014); Philippinnes phát hiện thấy ở Manila năm 2008-2010 (Mani et al., 2012; Muniappan, 2011, 2014); Malaysia ghi nhận lần đầu tiên vào năm 2009 tại Negeri Sembilan và Selangor (Mani et al., 2012; Mastoi et al., 2011; Muniappan et al. Như vậy, đến nay rệp sáp giả P. marginatus đã ghi nhận được ở 5 vùng địa sinh vật là Neotropical, Nearctic, Oceania/Australia, Oriental/Indo-Malai và Afrotropical (Ben-Dov, 2012; Heu et al., 2007; Meyerdirk et al., 2004; Miller et al., 1999; Muniappan et al.

Tác hại của rệp sáp giả Paracoccus marginatus Triệu chứng gây hại Triệu chứng gây hại của rệp sáp giả P. marginatus đã được nhiều tài liệu đề cập và đều cho rằng biểu hiện sự xâm nhiễm của rệp sáp giả P. marginatus là sự xuất hiện của những đám màu trắng như bông với những sợi tơ sáp dài ở các bộ phận trên mặt đất của các cây. marginatus nhanh chóng lây lan và gây hại trên hầu hết các bộ phận trên mặt đất của cây bao gồm cả lá, cành lá, thân và quả.

Cây bị xâm nhiễm nặng có thể hình thành những quần tụ lớn màu trắng như bông ở các bộ phận trên mặt đất, lá bọ úa vàng, biến dạng, các cây còn non bị lùn, còi cọc, héo quắt lại và nghiêm trọng hơn có thể bị chết. Cây bị nhiễm nặng thường bị hiện tượng rụng sớm của lá, hoa và quả (Heu et al., 2007; Galanihe et al.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Đặc điểm sinh học và biện pháp phòng chống rệp sáp giả Paracoccus marginatus hại cây đu đủ tại Hà Nội" của tác giả Đoàn Thị Lương, dưới sự hướng dẫn của GS. Nguyễn Hồng Sơn, trình bày chi tiết về sinh học và các biện pháp phòng chống rệp sáp giả, một loại sâu hại nghiêm trọng đối với cây đu đủ tại Hà Nội. Nghiên cứu không chỉ giúp người nông dân nhận diện và hiểu rõ hơn về loài rệp này mà còn cung cấp các giải pháp hiệu quả để bảo vệ cây trồng, từ đó nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm nông nghiệp.

Để mở rộng thêm kiến thức về bảo vệ thực vật và các biện pháp canh tác hiệu quả, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như Nghiên cứu bệnh đốm nâu do Alternaria sp gây hại trên cây chanh leo và biện pháp quản lý tại Nghệ An, nơi cung cấp thông tin về các bệnh hại cây trồng và cách quản lý chúng. Bên cạnh đó, bài viết Nghiên cứu đặc tính và hiệu quả của virus nucleopolyhedrosis trên sâu Spodoptera tại Đồng bằng sông Cửu Long cũng sẽ giúp bạn hiểu thêm về các phương pháp sinh học trong phòng trừ sâu hại. Cuối cùng, tài liệu Luận án tiến sĩ về pháp luật môi trường trong hoạt động nông nghiệp ở Việt Nam sẽ cung cấp cái nhìn tổng quan về các quy định pháp lý liên quan đến bảo vệ thực vật và môi trường trong nông nghiệp. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn sâu sắc hơn về các vấn đề liên quan đến nông nghiệp và bảo vệ thực vật.