MỞ ĐẦU Tiền Giang là tỉnh thuộc vùng Đồng bằng sông Cửu Long với diện tích trồng bƣởi 4.781,63 ha, sản lƣợng thu đƣợc 75. Bƣởi da xanh chiếm 48%, tổng diện tích và sản lƣợng thu hoạch. Các huyện Cai Lậy, Cái Bè, Chợ Gạo, Châu Thành, và Thành Phố Mỹ Tho có diện tích trồng bƣởi da xanh nhiều nhất và bƣởi da xanh đã mang lại giá trị kinh tế rất cao cho ngƣời dân [1]. Tuy nhiên, trong quá trình canh tác, cây bƣởi bị tấn công bởi nhiều loại côn trùng gây hại nhƣ: rầy chổng cánh (Diaphorina citri), sâu vẽ bùa (Phyllocnistic citrella), rầy mềm (Toxoptera auranti và Toxoptera citricidus), bọ phấn trắng (Dialeurodes citri), rầy bƣớm (Metcalfa pruinosa), bọ xít xanh (Rhynchocoris humeralis), bƣớm phƣợng (Papilio demoleus), ruồi đục trái (Bactrocera dorsalis), bọ trĩ (Scirtothrips dorsalis), ngài chích hút trái (Othreis fullonia), sâu đục vỏ trái (Prays citri), bọ cánh cứng đục cành (Nadezhdiella cantori), sâu đục trái bƣởi (Citripestis sagittiferella), rệp sáp (Pseudococcus sp.), một số loài rệp vảy gây hại và nhện hại: nhện đỏ cam chanh (Panonychus citri Mc Gregor), nhện đỏ hai chấm (Tetranychus urticae), nhện đỏ son Tetranychus cinnabarinus, nhện đỏ nâu chè (Oligonychus coffeae), nhện đỏ tƣơi (Breviapalpus Sp.) và nhện rám vàng (Phyllocoptruta oleivora) gây thiệt hại lớn đến năng suất.
Phƣơng pháp chủ yếu để phòng trừ vẫn là sử dụng các loại thuốc hóa học nhƣ: Fenpyroximate, Pyridaben, Abamectin, Quinalphos, Propargite, Emamectin Benzoate, Petroleum Spray Oil, Sulfur,… Liều dùng và cách dùng phần lớn là không đúng theo chỉ dẫn gây ra hiện tƣợng quá liều quá lƣợng, điều này làm có thể làm xuất hiện quần thể nhện hại mới với khả năng kháng thuốc cao; làm giảm chất lƣợng các loại nông sản, thực phẩm gây ảnh hƣởng đến tâm lý, sức khỏe của ngƣời tiêu dùng (chƣa kể đến một số trƣờng hợp ngộ độc thuốc bảo vệ thực vật); làm giảm khả năng xuất khẩu (do để lại dƣ lƣợng hóa chất trong nông sản) và gây ô nhiễm môi trƣờng. Vì vậy, việc sử dụng các loại thiên địch tự nhiên là cần thiết trong phòng trừ sinh học các loài nhện và côn trùng gây hại trên cây bƣởi trong tƣơng lai. Trong số nhiều thiên địch tự nhiên, 2 nhóm nhện nhỏ bắt mồi (NNBM) thuộc họ Phytoseiidae đƣợc coi là một trong những nhóm quan trọng bậc nhất trong phòng trừ côn trùng, nhện hại. Một vấn đề quan trọng khác là mặc dù trên cây bƣởi đã xuất hiện và tồn tại khá nhiều nhóm nhện bắt mồi, tuy nhiên những thông tin về chúng đến nay vẫn chƣa có một ghi nhận nào mang tính tổng thể.
Vì vậy, việc tiến hành điều tra, nghiên cứu các loài NNBM họ Phytoseiidae nhằm phát hiện ra loài tiềm năng trong phòng trừ côn trùng hại, nhện hại thiết nghĩ đó là vấn đề hết sức cần thiết, có ý nghĩa rất lớn cả trong khoa học và thực tiễn. Với những lý do trên đề tài nghiên cứu “Đa dạng thành phần loài nhện nhỏ bắt mồi họ Phytoseiidae trên cây bƣởi da xanh (Citrus maxima (Merr.)) tại tỉnh Tiền Giang” là rất cần thiết. Mục tiêu Đánh giá đƣợc sự đa dạng thành phần loài nhện nhỏ bắt mồi họ Phytoseiidae hiện diện trên cây bƣởi da xanh tại tỉnh Tiền Giang. Nội dung nghiên cứu - Điều tra tình hình canh tác bƣởi da xanh tại các huyện: Cái Bè, Cai Lậy, Châu Thành, Thành phố Mỹ Tho, Chợ Gạo thuộc tỉnh Tiền Giang.
- Điều tra, xác định thành phần, mật độ, danh tính, đặc điểm hình thái của các loài NNBM họ Phytoseiidae thu thập hiện diện trong điều kiện tự nhiên trên cây bƣởi da xanh tại các vùng khảo sát. - So sánh mật độ và định lƣợng mức độ đa dạng thành phần loài NNBM của họ nhện Phytoseiidae bằng các chỉ số đa dạng giữa 3 mô hình trồng bƣởi da xanh ở các huyện và giữa các mùa. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng: Họ nhện Phytoseiidae Phạm vi nghiên cứu: Năm huyện (Cái Bè, Cai Lậy, Châu Thành, Thành phố Mỹ Tho, Chợ Gạo) thuộc tỉnh Tiền Giang. Thời gian nghiên cứu: Hai đợt khảo sát vào mùa khô (từ tháng 04/2019) và mùa mƣa (tháng 06/2020).
3 Ý nghĩa Ý nghĩa khoa học: Cung cấp cơ sở khoa học đầu tiên về mật số, đa dạng thành phần loài NNBM của họ Phytoseiidae trên cây bƣởi da xanh của các huyện khảo sát tại tỉnh Tiền Giang. Mặt khác, nhƣ đã đề cập ở trên, cho đến hiện nay, việc thống kê và định danh các NNBM hiện có trong môi trƣờng tự nhiên trên cây bƣởi da xanh cả nƣớc chƣa đƣợc tiến hành, vì vậy, nếu đề tài đƣợc tiến hành sẽ giúp chúng ta nắm rõ nguồn tài nguyên thiên nhiên hiện có, sử dụng và bảo tồn nguồn tài nguyên một cách có hiệu quả cũng là nhiệm vụ quan trọng cần thực hiện. Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả đề tài nghiên cứu về đa dạng thành phần loài và mật số NNBM của họ Phytoseiidae là cơ sở để tỉnh Tiền Giang ứng dụng họ nhện nhỏ bắt mồi này trong phòng trừ các loài sâu, nhện hại gây hại trên cây bƣởi. Đồng thời có một số biện pháp nhân nuôi cũng có thể tiến hành trên cơ sở đề tài nhằm hƣớng đến một nền nông nghiệp sạch và thân thiện với môi trƣờng.
Ngoài ra, đề tài cũng sẽ cung cấp một lƣợng kiến thức hữu ích, phục vụ cho công tác giảng dạy, khuyến nông. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. SƠ LƢỢC VỀ CÂY BƢỞI DA XANH [1] Bƣởi da xanh là loài cây thân gỗ cao trung bình khoảng 3–4 m ở tuổi trƣởng thành, vỏ thân có màu vàng nhạt, ở những kẽ nứt của thân đôi khi có chảy nhựa. Lá có gân hình mang, lá hình trứng, dài 11–12 cm, rộng 4,5-5,5 cm, cuống có dìa cánh to.
Hoa thuộc loại hoa kép, đếu, mọc thành chùm 6- 10 bông. Trái hình cầu to, vỏ dày, màu sắc tùy theo giống. Trái Bƣởi da xanh có dạng hình cầu, nặng trung bình từ 1,2 – 2,5 kg/trái. Khi chín, vỏ trái có màu xanh đến xanh hơi vàng, dễ lột và khá mỏng, tép bƣởi màu hồng, vị ngọt, không chua, mùi thơm.
Bƣởi da xanh sinh trƣởng nhanh, nhiệt độ thích hợp nhất để cây bƣởi sinh trƣởng và phát triển từ 23- 29oC, độ ẩm từ 60- 90% , cƣờng độ ánh sáng từ 10. Cây bƣởi cần nhiều nƣớc, nhất là trong thời kỳ ra hoa và kết quả nhƣng cũng không chịu ngập úng. Trong mùa nắng và những ngày khô hạn trong mùa mƣa, cần phải tƣới nƣớc để duy trì sự phát triển nhanh của cây. Độ mặn trong nƣớc tƣới không quá 2%o (2g muối NaCl /lít nƣớc).
Lƣợng mƣa cần khoảng 1000-2000mm/năm. Đất phải có tầng canh tác dầy ít nhất là 0,6 m, thành phần cơ giới nhẹ hoặc trung bình. Đất tơi xốp, thông thoáng, thoát nƣớc tốt, pH nƣớc từ 5,5- 7, có hàm lƣợng hữu cơ cao >3%, ít bị nhiễm mặn, mực thủy cấp thấp dƣới 0,8 m. Giá trị của trái bƣởi da xanh nằm ở chỗ nó không chỉ là món ăn ngon và bổ dƣỡng, mà còn có thể đƣợc xem là bài thuốc phòng và trị bệnh.
Các thành phần dinh dƣỡng của bƣởi da xanh chứa nhiều loại vitamin, khoáng chất vi lƣợng và đa lƣợng, kể cả một số hoạt chất đặc biệt giúp phòng ngừa bệnh (nhƣ bệnh phổi, tim, gan,…) rất hiệu quả. Về chất lƣợng, bƣởi này có đặc điểm khác với hai giống bƣởi Năm Roi và Tân Triều là khi chín da vẫn xanh, tép bƣởi có màu hồng, dễ bóc, ráo nƣớc, không có hạt, vị ngọt thanh. Hiện nay giống bƣởi da xanh rất đƣợc ƣa chuộng. Bƣởi da xanh đã đạt giải 5 nhất tại cuộc thi trái ngon do Viện Nghiên cứu Cây ăn quả miền Nam tổ chức.
TÌNH HÌNH SÂU BỆNH HẠI XUẤT HIỆN THƢỜNG XUYÊN TRÊN CÂY BƢỞI DA XANH [1] 1. Côn trùng gây hại chủ yếu Rầy chổng cánh (Diaphorina citri), sâu vẽ bùa (Phyllocnistic citrella), Rầy mềm (Toxoptera auranti và Toxoptera citricidus), bọ phấn trắng (Dialeurodes citri), rầy bƣớm (Metcalfa pruinosa), bọ xít xanh (Rhynchocoris humeralis), bƣớm phƣợng (Papilio demoleus), ruồi đục trái (Bactrocera dorsalis), bọ trĩ (Scirtothrips dorsalis), ngài chích hút trái (Othreis fullonia), sâu đục vỏ trái (Prays citri), bọ cánh cứng đục cành (Nadezhdiella cantori), sâu đục trái bƣởi (Citripestis sagittiferella), rệp sáp (Pseudococcus sp.), một số loài rệp vảy gây hại gây thiệt hại lớn đến năng suất (phụ lục 1). Nhóm nhện hại chủ yếu Nhện vàng thuộc họ Eriophyidae, bộ Acari, nhện đỏ thuộc họ Tetranychidae, nhện trắng thuộc họ Tarsonemidae. Nhện đỏ cam chanh (Panonychus citri Mc Gregor), nhện đỏ hai chấm (Tetranychus urticae), nhện đỏ son Tetranychus cinnabarinus, nhện đỏ nâu chè (Oligonychus coffeae), nhện đỏ tƣơi (Breviapalpus Sp.) và nhện rám vàng (Phyllocoptruta oleivora) ( xem phụ lục 1).
CÁC BIỆN PHÁP PHÕNG TRỪ [1] 1. Thiên địch + Các loại thiên địch bắt mồi nhƣ kiến vàng (Oecophylla smaragdina) dùng để tiêu diệt sâu vẽ bùa, bọ xít xanh (Rhynchocoris humeralis). + Các loại ong ký sinh, một số loại ong ký sinh thuộc họ Ichneumonidae hay họ Chalcidoidae ký sinh giai đoạn trứng và sâu non của sâu vẽ bùa. 6 + Các loài nhện nhỏ bắt mồi đƣợc biết hiện nay trên cây có múi chẳng hạn nhƣ: Amblyseius Swirskii Athias - Henriot giúp kiểm soát những côn trùng, sâu, nhện hại nhƣ: Ruồi trắng, nhộng, bọ trĩ, rầy, các loại sâu hại trên cây có múi.
Loài Cydnoseius negevi là thiên địch của các bọ ve (Oligonychus afrasiaticus), ấu trùng bọ trĩ, các loài rệp sáp. Phytoseiulus persimilis (Athias - Henriot) đây là kẻ săn mồi kiểm soát ve nhện. Sử dụng thuốc bảo vệ thực vật Các loại thuốc trừ sâu bệnh và nhện hại trên cây bƣởi mà nông dân thƣờng dùng ví dụ nhƣ đối với sâu vẽ bùa, rệp muội, sâu xanh, bƣớm phƣợng sử dụng một trong những loại hoạt chất thuốc BVTV sau: Abamectin, Etofenprox, Emamectin Benzoate, Buprofezin, Petroleum Spray Oil (xem phụ lục 3) 1. KHÁI QUÁT CHUNG HỌ PHYTOSEIIDAE Nhện nhỏ bắt mồi họ Phytoseiid đƣợc sử dụng làm thiên địch và tác nhân kiểm soát sinh học của nhiều loài dịch hại trên nhiều loại cây trồng khác nhau ngoài đồng ruộng và trong nhà kính.
Thành phần quan trọng trong chiến lƣợt quản lý nhện hại tổng hợp (IMM) [2]. Họ Phytoseiidae có khoảng hơn 2700 loài phân bố trên toàn thế giới, bao gồm ba phân họ (Amblyseiinae, Phytoseiinae và Typhlodrominae) và 91 chi [3] [4], một số loài thuộc họ này hiện đang đƣợc sử dụng thƣơng mại trong kiểm soát dịch hại. Thức ăn chủ yếu của chúng là nhện nhỏ và các loại côn trùng nhỏ nhƣ bọ trĩ, bọ phấn gây hại trên cây trồng, một số sử dụng nguồn phấn hoa làm thức ăn [5]. Trong thực tế, loài Euseius và Iphiseiodes có thể đƣợc tìm thấy với mức độ phong phú cao khi nguồn thức ăn sẵn có là phấn hoa [5].