Luận văn thạc sĩ vnu ls người tiến hành tố tụng thuộc viện kiểm sát nhân dân theo luật tố tụng hình sự việt nam trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn thành phố hà nội

Luận văn thạc sĩ luật học nghiên cứu vnu ls người tiến hành tố tụng thuộc viện kiểm sát nhân dân theo luật tố tụng hình sự việt nam trên, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2015

126
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGƯỜI TIẾN HÀNH TỐ TỤNG TRONG VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN THEO CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM

1.1. Khái niệm người tiến hành tố tụng hình sự trong Viện kiểm sát nhân dân

1.2. Khái niệm người tiến hành tố tụng hình sự

1.3. Các loại người tiến hành tố tụng hình sự trong Viện KSND

1.4. Nguyên tắc hoạt động của những người tiến hành tố tụng trong Viện kiểm sát nhân dân theo Luật tố tụng hình sự Việt Nam

1.5. Khái quát các quy định của pháp luật tố tụng hình sự về người tiến hành tố tụng trong Viện kiểm sát từ khi thành lập Viện kiểm sát nhân dân đến trước Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003

1.5.1. Giai đoạn từ năm 1960 đến trước năm 1988

1.5.2. Giai đoạn từ năm 1988 đến trước năm 2003

2. CHƯƠNG 2: CÁC QUY ĐỊNH VỀ NGƯỜI TIẾN HÀNH TỐ TỤNG TRONG VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN THEO BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ NĂM 2003 VÀ THỰC TIỄN HOẠT ĐỘNG CỦA NGƯỜI TIẾN HÀNH TỐ TỤNG TRONG VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI GIAI ĐOẠN TỪ NĂM 2010-2014

2.1. Các quy định về người tiến hành tố tụng trong Viện kiểm sát nhân dân theo Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003

2.2. Các quy định của BLTTHS năm 2003 về Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân

2.3. Các quy định của BLTTHS năm 2003 về Kiểm sát viên

2.4. Thực tiễn hoạt động tố tụng hình sự của người tiến hành tố tụng trong Viện kiểm sát nhân dân TP Hà Nội trong giai đoạn từ năm 2010-2014

2.4.1. Những khó khăn, vướng mắc về hoạt động của người tiến hành tố tụng trong Viện kiểm sát nhân dân hai cấp thành phố Hà Nội

2.4.2. Những khó khăn, vướng mắc trong việc giải quyết và kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố

2.4.3. Những khó khăn, vướng mắc trong việc thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn của VKS trong điều tra vụ án hình sự

2.4.4. Những khó khăn, vướng mắc trong việc thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn của Viện kiểm sát trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự

2.4.5. Những khó khăn, vướng mắc trong việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Viện trưởng, Phó Viện trưởng, Kiểm sát viên

3. CHƯƠNG 3: HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA NGƯỜI TIẾN HÀNH TỐ TỤNG CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ TRONG VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN

3.1. Hoàn thiện các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của người tiến hành tố tụng trong Viện kiểm sát nhân dân

3.2. Hoàn thiện các quy định về chức năng, thẩm quyền của Viện kiểm sát. Hoàn thiện các quy định về quan hệ tố tụng giữa VKS với CQĐT và cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động Điều tra

3.3. Hoàn thiện các quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện trưởng, Phó Viện trưởng, Kiểm sát viên

3.4. Một số giải pháp khác nâng cao hiệu quả hoạt động của người tiến hành tố tụng các vụ án hình sự trong Viện kiểm sát nhân dân

3.4.1. Nâng cao chất lượng, trình độ, năng lực của đội ngũ cán bộ kiểm sát

3.4.2. Xác định vị trí việc làm; xây dựng và thực hiện tốt đề án cơ cấu công chức góp phần đẩy mạnh cải cách chế độ công vụ, công chức; đổi mới phương thức quản lý, chỉ đạo Điều hành trong ngành Kiểm sát

3.4.3. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra trong ngành Kiểm sát

3.4.4. Tăng cường cơ sở vật chất, phương tiện kỹ thuật và đổi mới chế độ chính sách đối với cán bộ kiểm sát

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về người tiến hành tố tụng tại Viện kiểm sát nhân dân Hà Nội

Người tiến hành tố tụng tại Viện kiểm sát nhân dân Hà Nội đóng vai trò quan trọng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự. Họ là những cá nhân có trách nhiệm thực hiện các quyền hạn và nhiệm vụ theo quy định của pháp luật. Việc nghiên cứu về họ không chỉ giúp hiểu rõ hơn về chức năng của Viện kiểm sát mà còn góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động tư pháp.

1.1. Khái niệm người tiến hành tố tụng hình sự

Người tiến hành tố tụng hình sự là những cá nhân được pháp luật quy định có quyền và nghĩa vụ trong quá trình tố tụng. Họ bao gồm Viện trưởng, Phó Viện trưởng và Kiểm sát viên tại Viện kiểm sát nhân dân.

1.2. Vai trò của Viện kiểm sát trong tố tụng hình sự

Viện kiểm sát nhân dân có chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp. Vai trò này đảm bảo rằng mọi hành vi phạm tội đều được xử lý kịp thời và đúng pháp luật.

II. Những thách thức trong hoạt động của người tiến hành tố tụng tại Viện kiểm sát

Hoạt động của người tiến hành tố tụng tại Viện kiểm sát nhân dân Hà Nội gặp nhiều thách thức. Những khó khăn này ảnh hưởng đến hiệu quả công việc và sự công bằng trong quá trình tố tụng.

2.1. Khó khăn trong việc thực hiện quyền hạn

Người tiến hành tố tụng thường gặp khó khăn trong việc thực hiện quyền hạn của mình, đặc biệt là trong việc điều tra và truy tố các vụ án hình sự.

2.2. Vướng mắc trong quy trình tố tụng

Quy trình tố tụng hình sự còn nhiều vướng mắc, dẫn đến việc hồ sơ phải trả lại để điều tra bổ sung nhiều lần, gây chậm trễ trong việc giải quyết vụ án.

III. Phương pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của người tiến hành tố tụng

Để nâng cao hiệu quả hoạt động của người tiến hành tố tụng tại Viện kiểm sát nhân dân, cần áp dụng một số phương pháp và giải pháp cụ thể.

3.1. Đào tạo và nâng cao năng lực cán bộ

Cần tổ chức các khóa đào tạo chuyên sâu để nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ kiểm sát, giúp họ thực hiện tốt hơn nhiệm vụ của mình.

3.2. Cải cách quy trình tố tụng

Cải cách quy trình tố tụng hình sự nhằm giảm thiểu các bước không cần thiết, giúp quá trình giải quyết vụ án diễn ra nhanh chóng và hiệu quả hơn.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về người tiến hành tố tụng

Nghiên cứu về người tiến hành tố tụng tại Viện kiểm sát nhân dân Hà Nội đã chỉ ra nhiều kết quả tích cực trong việc thực hiện chức năng công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp.

4.1. Kết quả thực hành quyền công tố

Trong giai đoạn từ 2010 đến 2014, Viện kiểm sát nhân dân Hà Nội đã đạt được nhiều kết quả trong việc thực hành quyền công tố, góp phần vào việc bảo vệ pháp luật.

4.2. Đánh giá hiệu quả hoạt động kiểm sát

Hoạt động kiểm sát của Viện kiểm sát nhân dân đã được cải thiện đáng kể, giúp phát hiện và xử lý kịp thời các vi phạm pháp luật.

V. Kết luận và triển vọng tương lai của người tiến hành tố tụng

Người tiến hành tố tụng tại Viện kiểm sát nhân dân Hà Nội có vai trò quan trọng trong hệ thống tư pháp. Việc nâng cao hiệu quả hoạt động của họ là cần thiết để đảm bảo công lý và bảo vệ quyền con người.

5.1. Tương lai của hoạt động tố tụng hình sự

Trong tương lai, cần tiếp tục cải cách và hoàn thiện các quy định pháp luật liên quan đến người tiến hành tố tụng để đáp ứng yêu cầu thực tiễn.

5.2. Định hướng nghiên cứu tiếp theo

Cần có những nghiên cứu sâu hơn về vai trò và trách nhiệm của người tiến hành tố tụng trong bối cảnh cải cách tư pháp hiện nay.

19/07/2025
Luận văn thạc sĩ vnu ls người tiến hành tố tụng thuộc viện kiểm sát nhân dân theo luật tố tụng hình sự việt nam trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn thành phố hà nội

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGƯỜI TIẾN HÀNH TỐ TỤNG TRONG VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN THEO CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. Khái niệm người tiến hành tố tụng hình sự trong Viện kiểm sát nhân dân 1. Khái niệm người tiến hành tố tụng hình sự Việc nghiên cứu về người tiến hành tố tụng trong Luật TTHS có thể xem xét dưới nhiều phương diện khác nhau, tuy nhiên tiếp cận theo chức năng tố tụng có lẽ sẽ hợp lý vì mỗi chức năng tố tụng sẽ do một hoặc một số chủ thể tố tụng đảm nhiệm và chức năng của mỗi chủ thể sẽ quy định nhiệm vụ, quyền hạn của chủ thể đó. Trên cơ sở giải quyết mối quan hệ giữa các chức năng của TTHS đã hình thành niên các mô hình tố tụng khác nhau.

Về chức năng của TTHS hiện vẫn còn những quan điểm khác nhau. TS Nguyễn Thái Phúc thì: Chức năng tố tụng là nghĩa vụ tố tụng chủ yếu của các chủ thể mà thông qua đó thể hiện bản chất tố tụng và quyết định vai trò của các chủ thể đó trong hoạt động tố tụng. Mỗi chủ thể chỉ thực hiện một chức năng vốn có của mình [47, 44]. Theo GSTS Võ Khánh Vinh thì: Chức năng TTHS được hiểu là những phương hướng hoạt động được tiến hành trong phạm vi, giới hạn của việc giải quyết vụ án hình sự.

Đó là chức năng điều tra, truy tố, bào chữa, xét xử. Ở dạng chung nhất, chức năng thứ nhất thuộc CQĐT; chức năng thứ hai thuộc VKS; chức năng thứ ba thuộc bị can, bị cáo; chức năng thứ tư thuộc Tòa án [49, 17]. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tác giả Nguyễn Tiến Châu cho rằng: Chức năng TTHS là những định hướng lớn, cơ bản nhằm phân định các hoạt động trong lĩnh vực TTHS của các chủ thể khác nhau, trong những phạm vi nhất định trên cơ sở phù hợp với nội dung, mục đích, quyền và nghĩa vụ tố tụng của các bên tố tụng [48, 13]. Như vậy, có thể hiểu Chức năng TTHS là những định hướng cơ bản phân định các hoạt động tố tụng của các chủ thể khác nhau, có những mục đích khác nhau, có quyền và nghĩa vụ khác nhau trong quá trình giải quyết vụ án hình sự.

TTHS là một lĩnh vực hoạt động mang tính quyền lực nhà nước, để duy trì trật tự pháp luật chung, qua đó bảo vệ quyền và lợi ích của người dân cũng như của nhà nước. Mục tiêu chung của TTHS là giải quyết vụ án hình sự một cách đúng đắn, khách quan, công bằng. Để đạt tới mục tiêu chung đó, TTHS được phân chia theo các phương diện hoạt động cơ bản, chủ yếu mang tính hệ thống, thống nhất nhằm thực hiện các chức năng chung của TTHS. Mỗi chức năng cơ bản của TTHS được giao cho một hoặc một số chủ thể thực hiện.

Mặc dù còn có ý kiến khác nhau về các chức năng cụ thể của TTHS (Chẳng hạn hoạt động điều tra của CQĐT, hoạt động kiểm sát việc điều tra vụ án của VKS có được coi là những chức năng của TTHS hay không), nhưng đã có sự thống nhất chung là TTHS có ba chức năng cơ bản là chức năng buộc tội, chức năng bào chữa (gỡ tội) và chức năng xét xử [48,19]. Mỗi chức năng đảm nhận một phương diện hoạt động cơ bản của TTHS, có vị trí, vai trò khác nhau, có chủ thể thực hiện khác nhau và có sự độc lập với nhau. Tuy vậy, giữa các chức năng này lại có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, ràng buộc nhau trong quá trình giải quyết vụ án hình sự. Mỗi chức năng tồn tại, vận động vì sự tồn tại và vận động của hai chức năng còn lại.

Có chức năng buộc tội mà không có chức năng bào chữa (gỡ tội) thì hoạt động tố tụng là hoạt động áp đặt quyền lực, ý chí và rất dễ dẫn đến oan sai. Chức năng bào chữa chỉ xuất 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hiện, tồn tại khi có sự tồn tại, hoạt động của chức năng buộc tội. Chức năng xét xử sẽ không còn khi không có chức năng buộc tội và sẽ không thể thực hiện được tốt khi chỉ có chức năng buộc tội mà không có chức năng bào chữa cùng hoạt động. Để hoạt động TTHS được vận hành hiệu quả, giải quyết các vụ án hình sự kịp thời, đúng pháp luật, không xảy ra oan sai thì các chức năng của TTHS đều phải được coi trọng, không nên quá nhấn mạnh chức năng này mà xem nhẹ chức năng khác.

Hiện nay, có nhiều quan điểm, xu hướng trái ngược nhau về vấn đề này. Xu hướng thứ nhất quá đề cao vai trò và vị trí của chức năng buộc tội, quan tâm đến nhiệm vụ ”kiểm soát tội phạm” của TTHS, chưa nhận thức đầy đủ vai trò của chức năng bào chữa trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Xu hướng ngược lại là quá đề cao vai trò và vị trí của chức năng bào chữa, xem việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân có ý nghĩa tuyệt đối, trong khi các lợi ích xã hội chưa được quan tâm đúng mức, việc xử lý vụ án chỉ chú trọng đến việc “không làm oan người vô tội”. Đặc điểm của quan hệ pháp luật TTHS là tính phức tạp, đa chiều về lợi ích của các chủ thể khi tham gia vào quan hệ pháp luật.

Các chủ thể thuộc nhóm buộc tội thường có xu hướng cố gắng tìm mọi cách thức chứng minh người bị tình nghi, bị can, bị cáo đã phạm tội, phạm tội nặng hơn, phạm tội có nhiều tình tiết tăng nặng và phải chịu hình phạt; những thiệt hại của người bị hại phải được khôi phục, đền bù thỏa đáng. Ngược lại, nhóm chủ thể bị buộc tội thường có xu hướng tìm cách gỡ tội như chứng minh mình không phạm tội hoặc phạm tội nhẹ hơn, có nhiều tình tiết giảm nhẹ. Các chủ thể khác có tính chất bổ trợ như người giám định, người làm chứng, người chứng kiến, người phiên dịch có xu hướng chung là hành động vô tư, khách quan; tuy nhiên sự vô tư, khách quan này bị phụ thuộc vào kiến thức, trình độ chuyên môn, trách nhiệm của từng cá nhân. Kết quả hoạt động của nhóm này có thể được cả bên buộc tội và bên gỡ tội sử dụng làm chứng cứ.

Chủ thể xét xử (tòa án) là đại diện cho công lý, trên cơ sở 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đã xem xét đầy đủ chứng cứ, lý lẽ của bên buộc tội, bên bị buộc tội để ra phán quyết công bằng, tuy nhiên, việc ra được phán quyết (bản án) công bằng không phải lúc nào cũng dễ dàng vì bị phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Toàn bộ hoạt động của các nhóm chủ thể nói trên có tạo ra “công lý” cho người dân hay không phụ thuộc vào sự đúng đắn, hợp lý trong các quy định của pháp luật hình sự và TTHS; năng lực, trình độ, tinh thần trách nhiệm, đạo đức nghề nghiệp của các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật TTHS trong quá trình giải quyết vụ án. Do vậy, pháp luật TTHS phải tạo ra được cơ chế để ”Kiểm soát” việc thực hiện quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật TTHS, qua đó hạn chế oan sai hoặc bỏ lọt tội phạm trong hoạt động TTHS. Như vậy, có thể khái quát trong quá trình giải quyết vụ án hình sự có các nhóm chủ thể như sau: chủ thể thuộc phía buộc tội (điều tra, truy tố/buộc tội) bao gồm người bị hại hoặc đại diện của họ, CQĐT, cơ quan công tố/VKS; chủ thể thuộc phía bị buộc tội (người bị tình nghi, bị can, bị cáo và người đại diện hợp pháp, người bào chữa của họ); chủ thể có quyền xét xử là tòa án (phán quyết người bị cáo buộc có phạm tội hay không, phạm tội gì và mức độ hình phạt phải chịu) và một số chủ thể khác có liên quan như người làm chứng, người chứng kiến, người giám định, bị đơn dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.

Trong TTHS Việt Nam hiện hành về cơ bản không hình thành “các bên” tố tụng như bên buộc tội, bên gỡ tội và tòa án là trọng tài xét xử mà chủ thể tố tụng được phân định thành các chủ thể tiến hành tố tụng (gồm CQĐT, VKS, Tòa án cùng các chức danh tư pháp trong các cơ quan này là ĐTV, thủ trưởng, phó thủ trưởng CQĐT; KSV, viện trưởng, phó viện trưởng VKS; Thẩm phán, chánh cán, phó chánh án, hội thẩm, thư ký TAND) và người tham gia tố tụng (bao gồm người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự, người làm chứng, người giám định, người phiên dịch). 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Theo quy định của BLTTHS thì người tiến hành tố tụng bao gồm: ĐTV, Thủ trưởng, Thó Thủ trưởng CQĐT; KSV, Viện trưởng, Phó Viện trưởng VKS, Thẩm phán, Chánh án, Phó Chánh án, Hội thẩm, Thư ký TAND và người tham gia tố tụng bao gồm người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự, người làm chứng, người giám định, người phiên dịch. Ngoài ra, trong từng trường hợp cụ thể còn có những người như: người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ; của bị can, của bị cáo; người đại diện hợp pháp của người bị hại, của nguyên đơn dân sự, của bị đơn dân sự, của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án. Việc xác định đúng tư cách tham gia tố tụng là rất quan trọng, vì nó liên quan đến quyền và nghĩa vụ của họ trong vụ án hình sự.

Thực tiễn xét xử cho thấy nhiều trường hợp do xác định không đúng tư cách tố tụng nên dẫn đến việc giải quyết vụ án kéo dài, phải xét xử nhiều lần, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng. Người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng đều là các chủ thể của tố tụng hình sự, quyền và nghĩa vụ tố tụng của họ được quy định trong luật. Người tiến hành tố tụng là những chủ thể đại diện cho công quyền, trực tiếp thực hiện các chức năng của các cơ quan tiến hành tố tụng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên cứu về người tiến hành tố tụng tại Viện kiểm sát nhân dân Hà Nội" cung cấp cái nhìn sâu sắc về vai trò và trách nhiệm của những người thực hiện tố tụng trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Nghiên cứu này không chỉ phân tích các quy định pháp lý hiện hành mà còn chỉ ra những thách thức và cơ hội trong việc thực thi quyền lực công tố. Đặc biệt, tài liệu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc bảo vệ quyền con người trong quá trình tố tụng, từ đó giúp nâng cao chất lượng công tác kiểm sát và xét xử.

Để mở rộng thêm kiến thức về lĩnh vực này, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như Luận văn thạc sĩ bảo vệ các quyền con người bằng các quy phạm của chế định các biện pháp ngăn chặn trong pháp luật tố tụng hình sự một số vấn đề về lý luận và thực tiễn, nơi bàn luận về việc bảo vệ quyền con người trong tố tụng hình sự. Ngoài ra, Luận văn thạc sĩ vnu ls một số vấn đề lý luận và thực tiễn về kiểm soát xét xử vụ án hình sự của viện kiếm sát nhân dân sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về quy trình kiểm soát xét xử. Cuối cùng, Tạm giam trong tố tụng hình sự lý luận và thực tiễn cung cấp cái nhìn sâu sắc về các biện pháp tạm giam và ảnh hưởng của chúng đến quyền lợi của bị can. Những tài liệu này sẽ là nguồn thông tin quý giá cho những ai muốn tìm hiểu sâu hơn về lĩnh vực tố tụng hình sự tại Việt Nam.