CHƯƠNG I: NHẬN THỨC CHUNG VỀ BIỆN PHÁP TẠM GIAM TRONG PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ 1.1 Khái niệm chung về biện pháp ngăn chặn tạm giam 1.1 Khái niệm biện pháp ngăn chặn Thực hiện theo tinh thần của cuộc cải cách Tư pháp, Cơ quan tư pháp phải thật sự là chỗ dựa của nhân dân trong việc bảo vệ công lý, quyền con người, đồng thời phải là công cụ hữu hiệu bảo vệ pháp luật và pháp chế xã hội chủ nghĩa, đấu tranh có hiệu quả với các loại tội phạm và vi phạm (Nghị quyết 49). Điều này đặt ra yêu cầu cấp bách, đòi hỏi cơ quan tiến hành tố tụng phải áp dụng đúng, chính xác những quy định của pháp luật tố tụng hình sự trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, đặc biệt là trình tự thủ tục áp dụng biện pháp ngăn chặn. Bởi vì, việc áp dụng biện pháp ngăn chặn trong quá trình tố tụng là hết sức cần thiết nhằm đảm bảo cho việc đấu tranh, phòng chống tội phạm đạt được hiệu quả cao. Qua đó, góp phần đảm bảo công bằng, dân chủ, tôn trọng các quyền cơ bản của công dân như: quyền bất khả xâm phạm về thân thể, quyền tự do cư trú và đi lại.Việc áp dụng biện pháp ngăn chặn không thể tùy tiện, tràn lan mà phải được áp dụng khi thật cần thiết.
Đồng thời, biện pháp này chỉ được áp dụng khi đáp ứng đầy đủ những căn cứ, điều kiện luật định. Nhằm thực hiện mục đích trên, Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng phải hiểu được bản chất của biện pháp ngăn chặn mà trước tiên là khái niệm biện pháp ngăn chặn. Tại chương VI Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003 quy định về những biện pháp ngăn chặn. Tuy nhiên, không có điều luật nào quy định khái niệm biện pháp ngăn chặn.
Vì vậy, trên thực tế, có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm biện pháp ngăn chặn như: Theo quan điểm của các tác giả Phan Hữu Kỳ, Phạm Quang Mỹ thì: “Các biện pháp ngăn chặn có tác dụng trấn áp mạnh mẽ kẻ địch và các bọn tội phạm khác, thỏa mãn được yêu cầu và nguyện vọng của quần chúng”. Theo Giáo trình Luật Tố tụng Hình sự của trường Đại học luật Hà Nội: “Biện pháp ngăn chặn là biện pháp cưỡng chế trong tố tụng hình sự được áp dụng đối với 2 bị can, bị cáo, người bị truy nã hoặc đối với người chưa bị khởi tố (trong trường hợp khẩn cấp, phạm tội quả tang) nhằm ngăn chặn hành vi nguy hiểm cho xã hội của họ, ngăn ngừa họ tiếp tục phạm tội, trốn tránh pháp luật hoặc có hành vi cản trở cho việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án” [21 – tr. Quan điểm này chỉ mới đề cặp đến đối tượng được áp dụng, mục đích của việc áp dụng mà không ghi nhận những chủ thể có thẩm quyền áp dụng. Các biện pháp ngăn chặn chỉ được áp dụng đối với bị can, bị cáo hoặc đối với người chưa bị khởi tố (trong trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang) với mục đích ngăn chặn tội phạm, đảm bảo cho hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án được tiến hành thuận lợi.
Chủ thể có thẩm quyền áp dụng biện pháp ngăn chặn là Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án. Từ sự phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm biện pháp ngăn chặn như sau: “Biện pháp nhăn chặn là biện pháp cưỡng chế trong tố tụng hình sự do Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án áp dụng đối với bị can, bị cáo, người bị truy nã, người bị kết án hoặc đối với người chưa bị khởi tố (trong trường hợp bắt khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang) theo những trình tự, thủ tục nhất định do Pháp luật Tố tụng Hình sự quy định nhằm ngăn chặn tội phạm, đảm bảo cho hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án được tiến hành thuận lợi và đạt hiệu quả cao”.2 Khái niệm biện pháp tạm giam Xuất phát từ bản chất Nhà nước ta là nhà nước của dân, do dân và vì dân, mọi quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Vì vậy, quyền và lợi ích cơ bản của công dân phải được pháp luật tố tụng hình sự tôn trọng và bảo vệ một cách công bằng, chính đáng. Biện pháp tạm giam là một trong sáu biện pháp ngăn chặn được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự.
Đây là biện pháp ngăn chặn nghiêm khắc nhất, gây ảnh hưởng lớn đến quyền tự do của con người được Nhà nước thừa nhận. Do vậy, việc áp dụng tạm giam phải được thực hiện một cách nghiêm chỉnh, công bằng, đúng quy định pháp luật. 3 Theo từ điển Hán Việt của Phan Văn Các thì “tạm” có nghĩa là đỡ một lúc, trong một thời gian ngắn, không lâu dài, khi có điều kiện mới xảy ra thì sẽ thay đổi [16 – tr. 353]; “giam” có nghĩa là giữ một người ở một chỗ cố định, không cho đi lại tự do [16 – tr.
Vì vậy, “ tạm giam” có nghĩa là giữ một người nào đó ở một nơi cố định, không cho tự do đi lại, tự do sinh hoạt trong một khoảng thời gian nhất định, khi có điều kiện mới xảy ra thì sẽ thay đổi. Trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 không quy định khái niệm biện pháp tạm giam. Do vậy, trên thực tế, các nhà nghiên cứu, các luật gia, tác giả có nhiều quan điểm khác nhau của về khái niệm biện pháp tạm giam. Thạc sĩ Nguyễn Mai Bộ cho rằng: “Tạm giam là biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự mà theo đó Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát,Tòa án trong những trường hợp nhất định có thể tước tự do đối với bị can, bị cáo nhằm ngăn chặn tội phạm hoặc bảo đảm việc điều tra, truy tố, xét xử”.
Theo quan điểm này, biện pháp tạm giam được áp dụng để tước tự do đối với bị can, bị cáo. Tác giả không đồng tình với quan điểm này bởi ba lý do sau đây: Thứ nhất là, theo quy định pháp luật tố tụng hình sự thì một người chỉ có thể bị tước tự do khi họ phạm tội và bị Tòa án kết án với hình thức phạt tù bằng một bản án đã có hiệu lực pháp luật. Đồng thời, tạm giam không phải là hình phạt tù mà đơn thuần chỉ là biện pháp ngăn chặn. Mặc dù tạm giam là biện pháp ngăn chặn nghiêm khắc nhất, nhưng chỉ dừng lại bằng việc hạn chế sự tự do đi lại, cư trú của người bị áp dụng, tạm thời cách ly họ với bên ngoài trong khoảng thời gian cần thiết theo luật định, nhằm phục vụ cho hoạt động tố tụng nhưng không nhất thiết phải tước tự do đối với họ.
Thứ hai là, tùy từng giai đoạn tố tụng mà chủ thể có thẩm quyền áp dụng biện pháp tạm giam đối với bị can, bị cáo có thể là Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án; còn hình thức kết án phạt tù để tước tự do đối với bị cáo chỉ do một cơ quan duy nhất áp dụng đó là Tòa án. 4 Thứ ba là, chế độ tạm giam của bị can, bị cáo khác với chế độ chấp hành hình phạt tù. Do vậy, việc hạn chế một số quyền của bị can, bị cáo đang bị tạm giam khác với việc tước quyền tự do của người bị kết án đang chấp hành hình phạt tù. Tiến sĩ Trần Quang Tiệp cho rằng: “Tạm giam là biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự do người có thẩm quyền của Cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát, Tòa án áp dụng; hạn chế tự do cá nhân với mức độ rất nghiêm khắc trong thời hạn tương đối dài đối với bị can, bị cáo nhằm ngặn chặn tội phạm, bảo đảm cho hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án được tiến hành thuận lợi”.
Theo quan điểm này, tạm giam là biện pháp ngăn chặn nghiêm khắc nhất nhưng không phải là tước tự do mà chỉ hạn chế quyền tự do, đi lại của cá nhân đang bị áp dụng trong khoảng thời gian nhất định. Thời gian này có thể dài hơn thời hạn áp dụng hình phạt tù của khung hình phạt thấp nhất. Tác giả hoàn toàn đồng tình với quan điểm này, bởi vì quan điểm này có nội hàm bao quát và chặt chẽ nhất đồng thời cũng khái quát được bản chất của biện pháp ngăn chặn tạm giam. Như vậy: “Tạm giam là biện pháp ngăn chặn trong pháp luật Tố tụng Hình sự được Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án áp dụng đối với bị can, bị cáo trong những trường hợp luật định nhằm ngăn chặn tội phạm, ngăn chặn sự cản trở hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự”.2 Cơ sở của việc quy đinh biện pháp tạm giam trong pháp luật tố tụng hình sự.1 Thực hiện nhiệm vụ của Bộ luật tố tụng hình sự Bộ luật tố tụng hình sự là công cụ để Nhà nước quản lý xã hội, bảo vệ các thiết chế xã hội, duy trì trật tự xã hội; điều chỉnh cách xử sự của công dân; thể hiện ý chí, quyền lực của nhân dân mà Nhà nước là người đại diện.
Để thực hiện nhiệm vụ này, Điều 1 Bộ luật tố tụng hình sự đã quy định: “Bộ luật tố tụng hình sự quy định trình tự, thủ tục khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và mối quan hệ giữa các cơ quan tiến hành tố tụng; nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của người tiến hành tố tụng; quyền và nghĩa vụ của người tham gia tố tụng, của các cơ quan, tổ chức và 5 công dân; hợp tác quốc tế trong hình sự, nhằm chủ động phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm, phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội. Bộ luật tố tụng hình sự góp phần bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, bảo vệ trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa đồng thời giáo dục mọi người ý thức tuân theo pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm”. Tình hình tội phạm ngày càng gia tăng, hành vi phạm tội xâm hại rất lớn đến quyền và lợi ích của công dân. Do vậy, nhiệm vụ đấu tranh có hiệu quả với tình hình tội phạm và việc bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân phải được kết hợp và thực hiện một cách chặt chẽ.