Chương 1 Lý luận chung về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh và thỏa thuận sử dụng giá để hạn chế cạnh tranh I. THỊ TRƯỜNG CẠNH TRANH HOÀN HẢO VÀ THỊ TRƯỜNG ĐỘC QUYỀN 1. Thị trường cạnh tranh hoàn hảo Thị trường cạnh tranh (hoàn hảo) là thị trường có hai đặc tính cơ bản sau đây: • Có nhiều người mua và người bán trên thị trường; • Hàng hóa được bán bởi những người bán này về cơ bản là như nhau1. Trong quá trình kinh doanh, các doanh nghiệp luôn quan tâm đến hai yếu tố là doanh thu biên và chi phí biên.
Tuy vậy, tùy thuộc vào mô hình thị trường (là cạnh tranh hoàn hảo hay 1. Gregory Mankiw: Principles of Economics, 6th edition, Cengage Learning, 2011, p. 15 độc quyền) mà doanh nghiệp sẽ có điểm tối đa hóa lợi nhuận khác nhau. Trong thị trường cạnh tranh, có thể xem xét cách doanh nghiệp xác định điểm tối đa hóa lợi nhuận thông qua hình minh họa sau1: Hình 1: Đường chi phí của doanh nghiệp (cost curve) sẽ có ba yếu tố: Đường chi phí biên (The marginal cost curve - viết tắt là MC) là một đường dốc lên; đường chi phí bình quân (The average total cost curve - viết tắt là ATC) là một đường hình chữ U; đường chi phí biên sẽ cắt ngang đường chi phí bình quân tại điểm tối thiểu của ATC.
Hình 1 cũng biểu thị một đường nằm ngang tại giá thị trường (The market price – viết tắt là P). Đường giá nằm ngang vì doanh nghiệp cạnh tranh là “người chấp nhận giá”. Nguồn trích dẫn hình minh họa: N. Gregory Mankiw: Principles of Economics, 6th edition, Cengage Learning, 2011, p.
16 đầu ra của doanh nghiệp là như nhau bất kể sản lượng mà doanh nghiệp quyết định sản xuất là bao nhiêu. Cho nên, giá sẽ bằng doanh thu bình quân (Average revenue – viết tắt là AR) và bằng doanh thu biên của doanh nghiệp (Marginal Revenue – viết tắt là MR). Sử dụng Hình 1 để tìm mức sản lượng đầu ra mà ở đó lợi nhuận là tối đa. Giả định doanh nghiệp đang sản xuất tại mức sản lượng Q1.
Tại mức sản lượng này, đường doanh thu biên nằm trên đường chi phí biên, nên doanh thu biên lớn hơn chi phí biên. Vì vậy, nếu doanh nghiệp gia tăng sản lượng lên 1 đơn vị, thì doanh thu tăng thêm (MR1) sẽ vượt hơn chi phí tăng thêm (MC1). Lợi nhuận, bằng tổng doanh thu trừ tổng chi phí, sẽ tăng. Do đó, nếu doanh thu biên lớn hơn chi phí biên, như tại điểm Q1, doanh nghiệp có thể gia tăng lợi nhuận bằng cách gia tăng sản lượng.
Cũng tương tự khi áp dụng tại mức sản lượng Q2, chi phí biên lớn hơn doanh thu biên. Nếu doanh nghiệp sản xuất giảm đi 1 đơn vị sản lượng, chi phí tiết kiệm được (MC2) sẽ nhiều hơn doanh thu mất đi (MR2). Do đó, nếu doanh thu biên thấp hơn chi phí biên như tại Q2, thì doanh nghiệp có thể gia tăng lợi nhuận bằng cách giảm sản xuất. Vậy khi nào quá trình điều chỉnh sản lượng sẽ kết thúc? Cho dù doanh nghiệp bắt đầu với mức sản lượng thấp (như Q1) hay mức sản lượng cao (như Q2), thì cuối cùng doanh nghiệp sẽ điều chỉnh sản lượng sản xuất sao cho đến khi sản lượng đạt đến QMAX.
17 Tóm lại, ba quy tắc chung để tối đa hóa lợi nhuận là: • Nếu doanh thu biên lớn hơn chi phí biên, doanh nghiệp nên gia tăng sản lượng; • Nếu chi phí biên lớn hơn doanh thu biên, doanh nghiệp nên giảm sản lượng; • Tại mức sản lượng đạt lợi nhuận tối đa, doanh thu biên và chi phí biên hoàn toàn bằng nhau. Thị trường độc quyền Thị trường độc quyền là thị trường mà trong đó doanh nghiệp không có đối thủ cạnh tranh. Doanh nghiệp độc quyền là người quyết định giá. Điểm khác biệt cơ bản giữa doanh nghiệp cạnh tranh và doanh nghiệp độc quyền chính là khả năng tác động đến giá của hàng hóa.
Một doanh nghiệp cạnh tranh là quá nhỏ trong tương quan với thị trường hoạt động, cũng vì thế, nó không đủ năng lực để tác động đến giá của hàng hóa và phải chấp nhận mức giá của thị trường. Ngược lại, là nhà sản xuất duy nhất, nên doanh nghiệp độc quyền có thể thay đổi giá của hàng hóa bằng cách điều chỉnh sản lượng cung cấp ra thị trường. Có thể làm rõ vấn đề này dựa trên việc phân tích hình minh họa sau1: 1. Nguồn trích dẫn hình minh họa: N.
Gregory Mankiw: Principles of Economics, 6th edition, Cengage Learning, 2011, p. 18 Hình 2: Giả sử, ban đầu doanh nghiệp sản xuất ở mức sản lượng là Q1. Trong trường hợp này, chi phí biên nhỏ hơn doanh thu biên. Nếu doanh nghiệp tăng sản lượng lên 1 đơn vị sản phẩm, doanh thu tăng thêm sẽ nhiều hơn chi phí tăng thêm và lợi nhuận sẽ tăng.
Do đó, khi chi phí biên thấp hơn doanh thu biên, doanh nghiệp có thể gia tăng lợi nhuận bằng cách sản xuất nhiều hơn. Tương tự, áp dụng đối với mức sản lượng cao hơn như Q2. Trong trường hợp này, chi phí biên lớn hơn doanh thu biên. Nếu doanh nghiệp giảm sản lượng sản xuất đi 1 đơn vị, chi phí cắt giảm được sẽ nhiều hơn doanh thu bị mất đi.
Do đó, khi chi phí biên cao hơn doanh thu biên, doanh nghiệp có thể gia tăng lợi nhuận bằng cách giảm sản lượng. 19 Sau cùng, doanh nghiệp điều chỉnh quy mô sản xuất khi lượng cung đạt đến mức QMAX, tại đó doanh thu biên bằng chi phí biên. Như vậy, mức sản lượng để tối đa hóa lợi nhuận của doanh nghiệp độc quyền được xác định bởi giao điểm của đường doanh thu biên và đường chi phí biên. Trong Hình 2, giao điểm đó chính là điểm A.
Như đã trình bày ở mục 1 chương này, doanh nghiệp trong thị trường cạnh tranh cũng sẽ chọn mức sản lượng cung ứng ra thị trường mà tại đó doanh thu biên bằng chi phí biên. Như vậy, nguyên tắc để tối đa hóa lợi nhuận đối với doanh nghiệp cạnh tranh và doanh nghiệp độc quyền là như nhau. Nhưng có một điểm khác biệt căn bản giữa hai mô hình thị trường cạnh tranh và độc quyền đó là: Doanh thu biên của doanh nghiệp cạnh tranh bằng với giá, còn doanh thu biên của doanh nghiệp độc quyền nhỏ hơn giá. Có thể mô tả vấn đề này theo công thức sau: Doanh nghiệp cạnh tranh P = MR = MC Doanh nghiệp độc quyền P > MR = MC Trong đó: P: Giá MR: Doanh thu biên MC: Chi phí biên Vậy, làm thế nào để doanh nghiệp độc quyền có thể xác định được mức giá để tối đa hóa lợi nhuận? Đường cầu sẽ trả lời cho câu hỏi này, bởi vì, đường cầu liên quan đến số lượng hàng hóa mà người tiêu dùng sẽ mua ở các mức giá khác nhau.
Như vậy, sau khi đã xác định mức sản lượng mà tại đó doanh thu biên và chi phí biên bằng nhau, doanh nghiệp độc quyền sẽ dùng đường 20 cầu để xác định mức giá cao nhất có thể áp dụng đối với mức sản lượng đó. Trong Hình 2, mức giá tối đa hóa lợi nhuận là B. Doanh nghiệp độc quyền không có đường cung. Đường cung mô tả số lượng sản phẩm mà doanh nghiệp sẽ cung ứng ở bất kỳ mức giá nào.
Khái niệm này có ý nghĩa khi phân tích trong thị trường cạnh tranh, doanh nghiệp là “người chấp nhận giá”. Nhưng doanh nghiệp độc quyền lại là người quyết định giá. Hầu như là vô nghĩa khi đặt ra vấn đề số lượng sản phẩm mà doanh nghiệp độc quyền sẽ sản xuất ở bất kỳ mức giá nào. Thay vào đó, doanh nghiệp độc quyền quyết định mức sản lượng để cung cấp trên thị trường, quyết định này cùng với đường cầu sẽ quyết định giá.
LỢI NHUẬN ĐỘC QUYỀN VÀ ĐỘNG CƠ TIẾN HÀNH THỎA THUẬN HẠN CHẾ CẠNH TRANH 1. Lợi nhuận độc quyền Sức ảnh hưởng của doanh nghiệp trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo và thị trường độc quyền là khác nhau, qua đó lợi nhuận mà doanh nghiệp đạt được cũng sẽ không giống nhau. Sự khác biệt này, xét về bản chất, là xuất phát từ khả năng tác động đến sản lượng cung ứng trên thị trường liên quan. Nếu như doanh nghiệp sở hữu tuyệt đối hoặc phần lớn thị phần trên thị trường liên quan, doanh nghiệp sẽ quyết định hoặc tác động đến cạnh tranh/giá cả trên thị trường.
Trong khi đó, với thị phần nhỏ hơn, xét trong mối tương quan với phần còn lại của thị trường, doanh nghiệp trong thị trường cạnh tranh hầu như không có khả năng “găm hàng” để tăng giá hoặc tăng lượng cung để giảm giá. 21 Nhìn từ góc độ mục tiêu lợi nhuận, thì doanh nghiệp cạnh tranh và doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh (doanh nghiệp độc quyền) trên thị trường liên quan là giống nhau. Nói cách khác, đã là doanh nghiệp thì lợi nhuận là mục tiêu quan trọng. Nhưng các doanh nghiệp cạnh tranh không đạt được lợi nhuận tối ưu, thậm chí, trong nhiều trường hợp phải chịu thua lỗ vì sức ép cạnh tranh.
Cho nên, thị trường độc quyền và lợi nhuận độc quyền là đích đến, là mong muốn mà các doanh nghiệp trong thị trường cạnh tranh hướng đến1. Ta thấy, động cơ để doanh nghiệp cạnh tranh tham gia thỏa thuận hạn chế cạnh tranh là sự thống nhất hành động giữa các đối thủ cạnh tranh với mong muốn giả lập vị trí thống lĩnh hoặc vị trí độc quyền trên thị trường liên quan. Khi doanh nghiệp giả lập được vị trí của doanh nghiệp thống lĩnh hoặc độc quyền, họ sẽ đạt được hai lợi ích căn bản là: Giảm bớt sức ép hoặc thậm chí là loại bỏ cạnh tranh và độc quyền hành xử trên thị trường liên quan nhằm tối đa hóa lợi nhuận theo cách của một doanh nghiệp độc quyền2. Nhìn từ khía cạnh kinh tế, các hành vi lạm dụng của doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh hoặc vị trí độc quyền thường được thúc đẩy bởi các động cơ sau: Trục lợi khách hàng; Tiêu diệt hoặc kìm hãm đối thủ; Tạo ra các rào cản tư để duy trì sức mạnh thị trường.
Khái niệm độc quyền ở đây được hiểu theo nghĩa rộng, nghĩa là doanh nghiệp duy nhất hoặc doanh nghiệp bán phần lớn hàng hóa, cung ứng phần lớn dịch vụ trên thị trường liên quan. David Begg, Gianluigi Vernasca, Stanley Fischer, Rudiger Dornbusch: Economics 10th edition, McGraw-Hill Education, 2011, p. Động cơ tiến hành thỏa thuận hạn chế cạnh tranh 2. Trục lợi khách hàng Do cấu trúc thị trường khác nhau, các quyết định về giá và sản lượng của doanh nghiệp độc quyền và doanh nghiệp cạnh tranh là không giống nhau.
Các doanh nghiệp cạnh tranh không có quyền lực thị trường thường xuyên phải chịu áp lực từ sự gia nhập của các doanh nghiệp tiềm năng.