chương 1 của khóa luận đã trình bày những vấn đề lý luận liên quan tới việc xử lý TSBĐ tại NHTM như sau: 14 1. Làm rõ khái niệm về TSBĐ và xử lý TSBĐ, từ đó nêu ra một số cách phân loại, nguyên tắc; đồng thời khẳng định vai trò của hoạt động này đối với hoạt động cho vay của NHTM. Làm rõ khái niệm pháp luật về xử lý TSBĐ đồng thời khẳng định sự cần thiết phải điều chỉnh bằng pháp luật đối với hoạt động này; nêu ra các nội dung chính của pháp luật về xử lý TSBĐ. Nghiên cứu, tìm tòi những quy định pháp luật của các quốc gia trên thế giới có kinh nghiệm trong việc xử lý TSBĐ, từ đó rút ra một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong việc xử lý TSBĐ giai đoạn hiện nay.
15 CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ TÀI SẢN BẢO ĐẢM TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 2. Thực trạng pháp luật về xử lý tài sản bảo đảm trong hoạt động cho vay tại ngân hàng thương mại 2. Thực trạng pháp luật về xử lý tài sản bảo đảm 2. Thực trạng pháp luật về tài sản bảo đảm Hiện nay, pháp luật chưa quy định cụ thể TSBĐ là gì mà chỉ dùng phương pháp liệt kê để định nghĩa trong các quy định tại Điều 295 BLDS 2015 được cụ thể hóa tại các quy định của Nghị định 21/2021/NĐ-CP.
Thứ nhất, theo quy định tại khoản 1 Điều 295 BLDS 2015, có thể hiểu TSBĐ là “tài sản phải thuộc quyền sở hữu của bên bảo đảm, trừ trường hợp cầm giữ tài sản, bảo lưu quyền sở hữu”. Đây được coi là một nguyên tắc mở và là điểm mới của BLDS 2015 so với các quy định cũ, cụ thể: Bộ luật không quy định rằng cấm chủ sở hữu dùng tài sản của mình để bảo đảm nghĩa vụ cho người khác. Theo đó, bên bảo đảm có thể là bên có nghĩa vụ hoặc người thứ ba, tức là pháp luật cho phép việc người thứ ba dùng tài sản của mình để bảo đảm thực hiện cho nghĩa vụ của người khác. Trong thực tiễn, có rất nhiều trường hợp khách hàng cần vay tiền nhưng lại không có tài sản để bảo đảm nên họ đã nhờ bên thứ ba (đó có thể là người thân, bạn bè,.) dùng tài sản của họ để bảo đảm cho nghĩa vụ của khách hàng.
Trước đây, quan điểm về vấn đề này gặp rất nhiều tranh cãi, một số giao dịch bị tuyên là vô hiệu do Tòa án cho rằng việc bảo đảm bằng tài sản của bên thứ ba là bảo lãnh chứ không phải cầm cố, thế chấp như Bản án kinh tế sơ thẩm số 26/2011/KT-ST ngày 05/08/2011 và Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 48/2011/KDTM-ST ngày 22/09/2011 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi. Ngày nay, nhận thức được bất cập trong BLDS 2015, Nghị định 21/2021/NĐ-CP của Chính phủ đã kịp thời bổ sung, quy định chi tiết việc bên thứ ba sử dụng tài sản của mình là hoàn toàn hợp pháp, cụ thể: Tại khoản 3 Điều 3 Nghị định 21/2021/NĐ-CP quy định“ Người có nghĩa vụ được bảo đảm có thể đồng thời hoặc không đồng thời là bên bảo đảm” và cũng tại khoản 3 Điều 4 Nghị định 16 này nêu rõ “Trường hợp chủ sở hữu tài sản và bên nhận bảo đảm thỏa thuận dùng tài sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của người khác thì áp dụng quy định về cầm cố tài sản, thế chấp tài sản”. Những quy định này đã tạo cơ sở cho việc áp dụng vào thực tiễn được rõ ràng hơn, ví dụ như trong Bản án số 1523/2015/DSPT ngày 10/12/2015 của Tòa án nhân dân TP. HCM, Hội đồng xét xử đã tuyên bố “Đến hạn thanh toán nợ mà ông Trình và bà Tâm không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ số nợ nêu trên thì ngân hàng Thương mại cổ phần Đông Á có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý, phát mãi một phần hai tài sản bảo đảm là: 50.000 cổ phiếu do công ty cổ phần vàng bạc đá quý Phú Nhuận phát hành thuộc sở hữu của bà Ngọ theo hợp đồng cầm cố giấy tờ có giá”.
Tuy nhiên, thực tế cho thấy, quy định về việc dùng tài sản của người thứ ba để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ vẫn còn điểm hạn chế. Đối với bảo lãnh, pháp luật đã có những quy định tương khá hoàn thiện về cơ chế hoàn lại cho bên bảo lãnh sau khi đã thực hiện các nghĩa vụ như tại Điều 340 BLDS 2015. Còn trong trường hợp bên thứ ba sử dụng tài sản của mình để cầm cố lại chưa có các quy định tương tự này, điều này tạo ra sự thiệt thòi cho bên thứ ba trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi thực hiện bảo đảm nghĩa vụ cho người khác. Do đó, pháp luật nên bổ sung thêm các quy định chi tiết về vấn đề này.
Bên cạnh đó, đối chiếu với quy định ở Điều 320 của BLDS 2005 về vật bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự, có điểm mới đó là tại Điều 295 BLDS 2015 không còn đề cập đến điều kiện tài sản phải “được phép giao dịch”. Lý do cho việc thay đổi này là để tạo điều kiện thuận lợi hơn trong việc giao dịch và phát triển kinh tế, đây được xem là một cách để tăng cường tính linh hoạt và khả thi trong thị trường tài chính và bất động sản. Tuy nhiên, quy định này cũng có khả năng gây ra một số rủi ro, đặc biệt là trong việc quản lý rủi ro tài chính và bảo vệ quyền lợi của các bên liên quan. Do đó, việc loại bỏ quy định này cần phải đòi hỏi sự thận trọng quản lý rủi ro hơn nữa đến từ phía các NHTM.
Thứ hai, tại khoản 2 Điều 295 BLDS 2015 quy định “tài sản bảo đảm có thể được mô tả chung, nhưng phải xác định được”. Việc pháp luật quy định như vậy nhằm đảm bảo tính công bằng, rõ ràng trong quan hệ pháp lý giữa các bên. Đồng thời, đảm bảo sự minh bạch và khả thi của hệ thống pháp lý bởi tính chất của TSBĐ dễ 17 biến động và thay đổi. Giả sử trường hợp pháp luật không có quy định như vậy các bên liên quan sẽ phải tiến hành thỏa thuận lại mỗi khi TSBĐ có sự biến động, từ đó gây ra rất nhiều bất cập trong việc thực hiện xử lý.
Việc mô tả chung như thế nào cũng đã được cụ thể hóa tại Điều 9 Nghị định 21/2021/NĐ-CP: “1. Việc mô tả tài sản bảo đảm do bên bảo đảm và bên nhận bảo đảm thỏa thuận, phù hợp với quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này, các Điều 12, 13, 18 và 19 Nghị định này; 2. Trường hợp tài sản bảo đảm là bất động sản, động sản mà theo quy định của pháp luật phải đăng ký thì thông tin được mô tả theo thỏa thuận phải phù hợp với thông tin trên Giấy chứng nhận; 3. Trường hợp tài sản bảo đảm là quyền tài sản thì thông tin được mô tả theo thỏa thuận phải thể hiện được tên, căn cứ pháp lý phát sinh quyền tài sản.
Qua những quy định của pháp luật cho thấy, mặc dù cho phép có sự mô tả chung nhưng pháp luật cũng yêu cầu xác định cụ thể về TSBĐ như loại tài sản, giá trị và các điều kiện liên quan khác để đảm bảo tính khả thi, chắc chắn rằng có thể sử dụng được để bảo đảm cho nghĩa vụ của khách hàng. Thứ ba, tại khoản 3 Điều 295 BLDS 2015, “tài sản bảo đảm có thể là tài sản hiện có hoặc tài sản hình thành trong tương lai”. Quy định này cũng được BLDS 2015 giải thích chi tiết tại Điều 108 của Luật này và các quy định tại Nghị định 21/2021/NĐ-CP, theo đó, có thể phân biệt hai loại tài sản này như sau: Tài sản hình thành trong Tiêu chí Tài sản hiện có tương lai Là tài sản đã hình thành và chủ - Tài sản chưa hình thành; thể đã xác lập quyền sở hữu, - Tài sản đã hình thành Định quyền khác đối với tài sản trước nhưng chủ thể xác lập nghĩa hoặc tại thời điểm giao dịch. quyền sở hữu tài sản sau thời điểm xác lập giao dịch.
Thời điểm Trước hoặc tại thời điểm giao Sau thời điểm giao dịch. 18 quyền sở hữu Là tài sản hiện có trừ trường hợp Không áp dụng đối với quyền Bộ luật Dân sự, luật khác liên sử dụng đất. quan cấm mua bán, cấm chuyển Điều kiện nhượng hoặc cấm chuyển giao của TSBĐ khác về quyền sở hữu tại thời điểm xác lập hợp đồng bảo đảm, biện pháp bảo đảm. Rủi ro khi Ít Nhiều sử dụng làm TSBĐ Bảng 2.1: Sự khác nhau giữa tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai theo quy định của pháp luật Việt Nam.
Qua những tiêu chí trên có thể thấy cách tiếp cận về tài sản hình thành trong tương lai của BLDS 2015 và Nghị định 21/2021/NĐ-CP có sự rộng mở hơn so với các quy định cũ, cụ thể là đã loại bỏ những quy định chi tiết về tài sản hình thành trong tương lai phải bao gồm những gì tại Điều 1 Nghị định 11/2012/NĐ-CP và pháp điển hóa quy định tại Điều 4 Nghị định 163/2006/NĐ-CP về các điều kiện trong các giao dịch bảo đảm mà tài sản hình thành trong tương lai được phép sử dụng. Qua những quy định này cho thấy sự tiến bộ của pháp luật nhằm đảm bảo tính linh hoạt, tăng khả năng thích ứng của pháp luật với các nhu cầu khác nhau của các chủ thể tham gia giao dịch. Theo đó, việc cho phép TSBĐ “có thể là tài sản hiện có hoặc tài sản hình thành trong tương lai” tạo điều kiện cho các bên khi tham gia giao dịch có thể linh hoạt trong việc lựa chọn và sử dụng tài sản để đảm bảo cho nghĩa vụ của khách hàng vay vốn. Thêm nữa, một số tài sản có thể được hình thành hoặc tăng giá trị trong tương lai như các khoản thu nhập từ dự án đầu tư hay các tài sản khác như cổ phiếu, chứng khoán,.
nên việc cho phép các tài sản này được dùng làm TSBĐ tạo ra khả năng tài chính cho các giao dịch mà tài sản hiện tại có thể không đủ. 19 Tuy nhiên, cũng có khá nhiều những ý kiến trái chiều cho rằng quy định về tài sản hình thành trong tương lai vẫn có khá nhiều lỗ hổng, “dường như mở rộng loại hình tài sản này có vẻ hơi quá mức cần thiết khi không hề có bất kỳ điều kiện nào để xác định giới hạn cho tài sản hình thành trong tương lai” (Đỗ Văn Đại, 2016).