phần mở đầu của Luật các định chế tài chính và ngân hàng 11 Malaysia năm 1989 quy định một trong các hoạt động kinh doanh ngân hàng là nhận tiền gửi trên tài khoản vãng lai, tài khoản tiền gửi, tài khoản tiết kiệm hoặc một tài khoản tương tự khác. Pháp luật Việt Nam quy định hoạt động huy động vốn bằng hình thức nhận tiền gửi được quy định trong nhiều văn bản nhưng có hiệu lực pháp lý cao nhất là Luật các TCTD. Khoản 13 điều 4 Luật các Tổ chức tín dụng 2010 định nghĩa khái niệm nhận tiền gửi là “Nhận tiền gửi là hoạt động nhận tiền của tổ chức, cá nhân dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu và các hình thức nhận tiền gửi khác theo nguyên tắc có hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi cho người gửi tiền theo thỏa thuận”. Như vậy hoạt động nhận tiền gửi được hiểu là ngân hàng thực hiện hoạt động huy động vốn thông qua việc nhận tiền của các tổ chức, cá nhân vào NHTM dưới các hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm và các hình thức tiền gửi khác theo nguyên tắc có hoàn trả đầy đủ cả gốc lẫn lãi cho người gửi tiền theo quy định pháp luật.2 Đặc điểm hoạt động nhận tiền gửi của ngân hàng thương mại Trong quan hệ nhận tiền gửi gồm có hai chủ thể đặc trưng, đó là NHTM và người gửi tiền (cá nhân, tổ chức).
Ngân hàng thương mại được Ngân hàng nhà nước cho phép thực hiện nghiệp vụ nhận tiền gửi của công chúng. Người gửi tiền là tổ chức, cá nhân trong xã hội có nhu cầu gửi tiền và có tiền để gửi. Hình thức tiền gửi: mặc dù có nhiều ý kiến về nhiều loại tiền gửi nhưng theo pháp luật thực định thì NHTM và người gửi tiền có thể thỏa thuận với nhau về việc lựa chọn nhận tiền gửi không kỳ hạn, có kỳ hạn, hay tiền gửi tiết kiệm … Khi khách hàng gửi tiền tại NHTM, thì sẽ thiết lập một quan hệ tiền gửi giữa NHTM và khách hàng trên cơ sở hợp đồng tiền gửi mà thực chất là hợp đồng vay tiền của NHTM. Cả hai chủ thể đều hướng tới những mục đích khác nhau, NHTM muốn nhận tiền gửi để huy động vốn cho hoạt động kinh doanh của mình thông qua việc cấp tín dụng hoặc thực hiện các nghiệp vụ ngân hàng cho khách hàng.
Với người gửi tiền: việc tham gia quan hệ gửi tiền nhằm mục đích vừa để đảm bảo an toàn cho tiền vốn (tiền gửi vào sẽ được tổ chức nhận tiền gửi trông giữ, bảo quản hộ) vừa để đồng vốn sinh lời khi chưa có nhu cầu sử dụng hoặc để hưởng những tiện ích do tổ chức nhận tiền gửi cung ứng như dịch vụ thanh toán, chuyển tiền… Người gửi tiền có thể hướng 12 tới một, hai hoặc cả ba mục đích trên. Tuy nhiên, mục đích của họ được thể hiện rõ nhất thông qua hình thức gửi tiền hay loại tiền gửi mà họ lựa chọn. Đối tượng của hoạt động nhận tiền gửi chính là nguồn tiền gửi do khách hàng đồng ý gửi vào ngân hàng thương mại, đồng ý chuyển quyền sở hữu cho NHTM với điều kiện phải hoàn trả cho khách hàng sau một thời hạn nhất định, kèm theo khoản lãi do các bên thoả thuận. Đây là một nghiệp vụ ngân hàng đặc trưng, NHTM là một TCTD thực hiện nghiệp vụ huy động vốn bằng nhận tiền gửi được trọn vẹn nhất phạm vi rộng nhất so với các loại hình TCTD khác.
Chỉ ngân hàng thương mại được phép tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm và các loại tiền gửi khác (khoản 1 Điều 98 Luật các TCTD 2010) của mọi đối tượng chủ thể gồm cả cá nhân, tổ chức. Còn các loại hình TCTD khác như công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính… chỉ nhận tiền gửi của tổ chức, không được nhận tiền gửi của cá nhân và cung ứng các dịch vụ thanh toán qua tài khoản của khách hàng. Các loại hình doanh nghiệp khác không được phép huy động vốn bằng hình thức nhận tiền gửi trong khi họ vẫn có thể phát hành giấy tờ có giá hay vay vốn từ các TCTD. Thủ tục của việc huy động vốn bằng nhận tiền gửi giữa NHTM và khách hàng được thực hiện nhanh chóng, đơn giản, không nhất thiết phải thông qua quá trình thương lượng hay kiểm tra, thẩm định, đánh giá.
Bất kỳ ai có nhu cầu đều có thể tới NHTM mà mình lựa chọn để gửi tiền, lựa chọn hình thức gửi tiền phù hợp với mục đích của mình. Việc huy động vốn bằng nhận tiền gửi của NHTM được thực hiện dựa trên cơ sở là uy tín, khả năng tài chính của NHTM, có sự quản lý, giám sát của Nhà nước mà không cần thực hiện các biện pháp bảo đảm như cầm cố, thế chấp hay bảo lãnh bằng tài sản. như trong các quan hệ vay nợ khác. Người gửi tiền sẽ lựa chọn NHTM mà mình tin tưởng nhất để gửi tiền dưới bất kỳ hình thức nào.3 Vai trò của hoạt động nhận tiền gửi của ngân hàng thương mại Đối với người gửi tiền: Khách hàng là cá nhân, tổ chức gửi tiền vào NHTM thông qua mở tài khoản , ký gửi tiền tại ngân hàng.
Ngân hàng thực hiện hoạt động huy động vốn không chỉ đem lại lợi ích cho chính mình, mà người gửi tiền cũng có lợi trong việc gửi tiền tại NHTM. Đối với khách hàng là tổ chức thì sẽ được ngân hàng 13 cung ứng các dịch vụ ngân quỹ, thực hiện hoạt động thanh toán qua ngân hàng, Đối với khách hàng là cá nhân thuộc tầng lớp dân cư, việc gửi tiền tại NHTM đem lại lợi ích rất lớn. Họ có thể tích lũy vốn tại NHTM tương đối an toàn, được hưởng lãi suất do ngân hàng chi trả, có thể được NHTM thực hiện dịch vụ thanh toán qua ngân hàng nếu có nhu cầu. Đối với ngân hàng thương mại: Hoạt động huy động vốn bằng nhận tiền gửi có vai trò rất quan trọng trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại.
Cũng chính vì đặc trưng của ngân hàng thương mại là một doanh nghiệp kinh doanh một loại hàng hóa đặc biệt là “tiền tệ”, với đặc thù hoạt động kinh doanh là “đi vay để cho vay”. Nguồn vốn đối với ngân hàng thương mại có vai trò hết sức quan trọng, trong đó nguồn vốn mà NHTM đi huy động chiếm phần lớn trong tổng nguồn vốn kinh doanh. Tiền gửi huy động được của các cá nhân, tổ chức kinh tế chiếm tỷ trọng lớn nhất trong nguồn vốn huy động của NHTM. Ngân hàng thương mại nhận tiền gửi mục đích là tổ chức mọi hoạt động kinh doanh, quyết định quy mô hoạt động tín dụng và các hoạt động khác, quyết định năng lực thanh toán và bảo đảm uy tín của NHTM trên thương trường, quyết định năng lực cạnh tranh của NHTM v.
Hơn nữa huy động vốn bằng nhận tiền gửi là cơ sở để các NHTM cung ứng các dịch vụ khác cho khách hàng như dịch vụ thanh toán qua ngân hàng, dịch vụ ngân quỹ. Đây cũng là một yếu tố thu hút thêm nhiều khách hàng, làm tăng nguồn vốn huy động cho các NHTM. Cho nên hoạt động huy động vốn bằng nhận tiền gửi chính là tiền đề, cơ sở giúp cho hoạt động kinh doanh của NHTM được thông thoáng, thuận lợi và mang lại lợi nhuận cho bản thân NHTM, cho nền kinh tế. Đối với nền kinh tế: Thông qua hoạt động này mà ngân hàng có thể tập hợp được các khoản tiền nhàn rỗi, đang phân tán và tạm thời chưa sử dụng với các thời hạn khác nhau thành nguồn tiền lớn tài trợ cho nền kinh tế hoặc cho các cá nhân, tổ chức khác có nhu cầu sử dụng.
Nền kinh tế có thêm một kênh thu hút các nguồn vốn nhàn rỗi khác nhau trong dân cư nhằm đáp ứng nhu cầu vốn đầu tư cho phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng cơ sở hạ tầng, sự cung cầu vốn giữa các thành phần khác nhau trong xã hội gặp nhau được dễ dàng hơn. Điều khó khăn nhất mà ngân hàng phải thực hiện là sử dụng các khoản tiền gửi có thời hạn khác nhau để cho vay những “món” có thời hạn xác định. Vì thế, ngân hàng phải quản lí tốt thời hạn gửi tiền của các nguồn vốn 14 thì mới duy trì được hoạt động có hiệu quả, tránh được những rủi ro về khả năng thanh toán. Việc tập hợp được những nguồn tiền nhàn rỗi trong dân chúng để đưa vào kinh doanh đã góp phần tiết kiệm và sử dụng có hiệu quả nguồn lực của nền kinh tế.
Ngoài ra hoạt động nhận tiền gửi của ngân hàng cũng góp phần tiết kiệm chi phí lưu thông tiền tệ. Đặc biệt trong nền kinh tế phát triển nếu dân chúng có thói quen gửi tiền vào ngân hàng để sử dụng các dịch vụ do ngân hàng cung cấp thì điều này sẽ góp phần giúp chính phủ quản lí được thu nhập của người dân. Cũng thông qua hoạt động này, Nhà nước có thể kiểm soát, điều chỉnh chính sách tiền tệ, ổn định giá trị đồng tiền, thúc đẩy phát triển kinh tế. Với chính sách lãi suất huy động vốn hợp lý, hoạt động huy động vốn của các NHTM sẽ tăng khả năng kích thích tiết kiệm trong nhân dân.
Ngoài ra, chúng ta có thể đánh giá được trình độ phát huy nội lực của quốc gia, khai thác tiềm năng của mọi nguồn vốn đang còn tiềm ẩn, thu gom được một lượng tiền tương đối lớn trong nền kinh tế. Từ đó, các NHTM có thể tập trung được các nguồn vốn cho đầu tư phát triển kinh tế, góp phần nâng cao đời sống nhân dân.3 Bản chất pháp lý của hoạt động nhận tiền gửi của ngân hàng thương mại Hoạt động nhận tiền gửi của ngân hàng thương mại mang bản chất chính là hoạt động đi vay tiền của NHTM từ nền kinh tế, từ nhân dân. Đây là hoạt động đi vay tiền nhưng lại được gọi là hoạt động huy động vốn bằng nhận tiền gửi. Giải thích cho vấn đề này cần phân tích bản chất, nguồn gốc của hoạt động nhận tiền gửi.
Ngân hàng thương mại nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán là nội dung thường xuyên của hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ của các NHTM. Các hoạt động này nằm trong mối quan hệ liên hoàn, ràng buộc lẫn nhau, và có thể nói không thể tồn tại độc lập, cái này làm tiền đề cho cái kia tồn tại, nó là các giai đoạn của quá trình chu chuyển dòng tiền, tạo vốn và cấp vốn.