Tổng quan luận án
Hoạt động ngân hàng có lịch sử hình thành lâu đời từ nghiệp vụ đổi tiền của thương nhân, từng bước phát triển thành các tổ chức nhận tiền gửi, cấp tín dụng, thanh toán và chuyển tiền. Cùng với sự mở rộng quy mô tín dụng trong nền kinh tế thị trường, vấn đề quản trị rủi ro và xử lý nợ, đặc biệt là nợ xấu, trở thành yêu cầu mang tính sống còn đối với sự phát triển bền vững của hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM). Trong các biện pháp xử lý nợ như cơ cấu lại thời hạn trả nợ, trích lập và sử dụng dự phòng rủi ro, xử lý tài sản bảo đảm, chuyển nợ thành vốn góp cổ phần hoặc tái cơ cấu khách nợ, hoạt động mua bán nợ được xác định là phương thức xử lý nợ phổ biến, mang lại hiệu quả cao trong việc thu hồi vốn và làm sạch bảng cân đối tài chính.
Tại Việt Nam, cơ sở pháp lý ban đầu ghi nhận hoạt động mua bán nợ được thiết lập thông qua Quyết định số 140/1999/QĐ-NHNN14 ngày 19 tháng 04 năm 1999 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) ban hành quy chế mua, bán nợ của tổ chức tín dụng. Mặc dù khuôn khổ pháp lý tiếp tục được bổ sung qua các giai đoạn, thực tiễn thi hành vẫn bộc lộ nhiều điểm bất cập. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh còn tản mát, thiếu tính đồng bộ và xuất hiện những quy định chồng chéo giữa pháp luật dân sự chung và pháp luật chuyên ngành ngân hàng. Quy định về điều kiện năng lực tài chính, phạm vi hoạt động kinh doanh của các định chế tham gia thị trường như Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC), Công ty Trách nhiệm hữu hạn Mua bán nợ Việt Nam (DATC), các công ty quản lý nợ và khai thác tài sản của NHTM (AMC) cũng như các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ mua bán nợ, sàn giao dịch nợ còn nhiều hạn chế, chưa thu hút được đông đảo chủ thể tham gia.
Bên cạnh đó, áp lực nợ xấu gia tăng qua các thời kỳ đặt ra yêu cầu cấp thiết về mặt lập pháp. Thực tế diễn biến nợ xấu được ghi nhận qua các giai đoạn với các số liệu cụ thể:
| Giai đoạn / Thời điểm |
Quy mô nợ xấu |
Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ |
Nguồn dữ liệu |
| Năm 2010 |
Khoảng 38 tỷ đồng |
2,1% |
Giám sát của NHNN |
| Năm 2011 |
Khoảng 78 nghìn tỷ đồng |
3,2% |
Giám sát của NHNN |
| Cuối tháng 9/2017 |
Khoảng 566.000 tỷ đồng |
8,61% |
Báo cáo Thống đốc NHNN Lê Minh Hưng tại Quốc hội ngày 07/11/2017 |
| Quý IV/2019 |
Nội bảng |
1,6% |
Website chính thức NHNN (sbv.vn) |
| Cuối quý III/2020 |
Nội bảng |
2,4% |
Website chính thức NHNN (sbv.vn) |
Trước tình hình này, Quốc hội khóa XIII tại Kỳ họp thứ tám ngày 10 tháng 11 năm 2014 đã thông qua Nghị quyết số 77/2014/QH13 về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2015, trong đó tại Mục III.2 nhấn mạnh nhiệm vụ: "Tập trung đẩy nhanh tiến độ xử lý nợ xấu gắn với cơ cấu lại các tổ chức tín dụng theo hướng sớm hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho thị trường mua bán nợ". Tuy nhiên, các định hướng chính sách lớn này chưa được cụ thể hóa đầy đủ bằng các hướng dẫn chi tiết ở cấp độ luật và dưới luật. Vì vậy, nghiên cứu sinh Trần Thị Thanh Thủy thực hiện luận án tiến sĩ với đề tài: "Mua bán nợ của các ngân hàng thương mại theo pháp luật Việt Nam hiện nay" nhằm cung cấp một công trình nghiên cứu toàn diện, có hệ thống về phương diện lý luận và thực chứng pháp lý.
Mục đích nghiên cứu của luận án là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về hoạt động mua bán nợ của NHTM; phân tích, luận giải và đánh giá thực trạng các quy định pháp luật cùng thực tiễn thi hành pháp luật về mua bán nợ của NHTM ở Việt Nam; từ đó xác lập các định hướng và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả vận hành thị trường mua bán nợ của NHTM. Để đạt được mục đích trên, luận án xác định và giải quyết bốn nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài pháp luật về mua bán nợ của các NHTM tại Việt Nam; đánh giá kết quả của các công trình đó và xác định những vấn đề cần tiếp tục giải quyết trong luận án.
- Làm sáng tỏ cơ sở lý luận của pháp luật về mua bán nợ của các NHTM.
- Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về mua bán nợ của các NHTM tại Việt Nam.
- Luận chứng, xây dựng hệ thống quan điểm và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật về mua bán nợ của các NHTM tại Việt Nam.
Đối tượng nghiên cứu của luận án bao gồm các vấn đề lý luận về mua bán nợ; hệ thống quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam về hoạt động mua bán nợ và thực tiễn áp dụng các quy định này tại các NHTM.
Phạm vi nghiên cứu được xác định rõ:
- Về không gian: Tập trung nghiên cứu pháp luật về mua bán nợ của NHTM tại Việt Nam, đồng thời đối chiếu, tham khảo kinh nghiệm lập pháp và thực tiễn thực hiện của một số quốc gia trên thế giới.
- Về thời gian: Trọng tâm nghiên cứu từ thời điểm Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 được ban hành cho đến nay, có sự kết nối phân tích tiến trình lập pháp từ Luật Các tổ chức tín dụng năm 1997 và Luật sửa đổi, bổ sung năm 2004.
- Về nội dung: Luận án chỉ giới hạn phạm vi trong hoạt động mua bán nợ của các NHTM, không nghiên cứu hoạt động mua bán nợ của các tổ chức tín dụng phi ngân hàng, tổ chức tài chính vi mô hay quỹ tín dụng nhân dân. Đồng thời, đối tượng nợ được phân tích là các khoản nợ phát sinh từ hợp đồng cho vay giữa NHTM và khách hàng vay, loại trừ các khoản nợ trái phiếu doanh nghiệp và trái phiếu chính phủ.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã tiến hành rà soát, hệ thống hóa và đánh giá chi tiết các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế theo từng mảng nội dung chuyên sâu:
| Nhóm nội dung |
Tác giả và công trình tiêu biểu |
Nội dung tiếp cận chính |
| Lý luận về nợ, nợ xấu và phân loại nợ |
Khúc Thị Phương Nhung (Luận án TS); Nguyễn Thu Hương (Luận án TS); Lê Trọng Dũng (Luận văn ThS); Ngô Huy Cương; Nguyễn Thị Hoài Phương (Luận án TS); Nguyễn Thị Tú (Luận văn ThS); Tôn Thanh Tâm; Hoàng Văn Thành (Luận án TS); Đinh Thị Thanh Vân; Trà Đình Thứ; Nguyễn Thị Hồng Lê; Corinne Renault Brahinsky; Andoh Ludovie; Ủy ban Basel; Ủy ban Thống kê Cán cân Thanh toán IMF. |
Xác định bản chất nợ là nghĩa vụ tài sản; phân loại nợ dựa trên phương pháp định tính và định lượng (tiêu chí quá hạn 90 ngày của Basel và IMF); nhận diện nợ xấu từ giác độ suy giảm khả năng thu hồi vốn và rủi ro tín dụng. |
| Bản chất và vai trò của mua bán nợ |
Lê Thị Thu Thủy; Lê Trọng Dũng; Nguyễn Thị Hồng Lê; Luật Tiền tệ và Tài chính Pháp (Điều L 313-23); Bộ luật Dân sự Pháp (Điều 1689). |
Xem xét mua bán nợ là sự chuyển giao quyền đòi nợ/chuyển giao quyền tài sản có đền bù; phân tích vai trò xử lý nợ xấu và cơ chế vận hành của DATC, VAMC. |
| Pháp luật về hợp đồng mua bán nợ, chủ thể và tài sản bảo đảm |
Trà Đình Thứ; Lê Thị Thu Thủy; Hoàng Văn Thành; Nguyễn Thị Hồng Lê; Bạch Trần Quý Nhi; Phạm Văn Đàm. |
Phân tích nguồn luật (Bộ luật Dân sự, Luật Các TCTD), hình thức hợp đồng bằng văn bản, các chủ thể tham gia (NHTM, AMC, VAMC, DATC), công cụ thanh toán bằng tiền, cơ chế xử lý tài sản bảo đảm và giải quyết tranh chấp. |
Mặc dù các công trình nêu trên đã đạt được nhiều kết quả có giá trị khoa học, luận án chỉ ra các khoảng trống học thuật cần tiếp tục giải quyết:
- Thứ nhất, các công trình trước đây chưa làm rõ một cách thấu đáo bản chất pháp lý của các khái niệm "nợ", "nợ xấu" và "mua bán nợ" dưới góc độ kết hợp đầy đủ cả hai chiều quan hệ nghĩa vụ (quyền yêu cầu của chủ nợ và nghĩa vụ của bên nợ).
- Thứ hai, nhiều nghiên cứu tiếp cận hoạt động mua bán nợ dưới giác độ kinh tế tài chính thuần túy hoặc chỉ giới hạn ở quy chế hợp đồng mua bán nợ, chưa xây dựng được hệ thống lý luận hoàn chỉnh về các đặc thù của pháp luật điều chỉnh quan hệ mua bán nợ của NHTM, bao gồm nguồn luật, chủ thể đặc thù và các yếu tố kinh tế - xã hội tác động.
- Thứ ba, việc phân tích thực trạng pháp luật còn tản mát, chưa bao quát đầy đủ tính đặc thù của các công cụ thanh toán chuyên biệt (như trái phiếu đặc biệt của VAMC) so với công cụ tiền tệ truyền thống; cơ chế xác định giá mua bán nợ, chuyển giao và xử lý tài sản bảo đảm gắn liền với khoản nợ được bán cho bên thứ ba chưa được đánh giá sâu sắc.
- Thứ tư, các giải pháp và định hướng hoàn thiện lập pháp ở các công trình trước thường mang tính khái quát chung, thiếu tính cụ thể cho hoạt động của khối NHTM và chưa gắn liền với việc xây dựng cơ chế bảo đảm thực thi trên thực tế.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Về mặt cơ sở lý thuyết, luận án dựa trên hệ thống lý thuyết về nghĩa vụ dân sự và quyền tài sản được ghi nhận trong luật thực định Việt Nam (đặc biệt là Điều 115 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về quyền tài sản và chế định chuyển giao quyền yêu cầu). Theo đó, quyền đòi nợ phát sinh từ hợp đồng cho vay được nhìn nhận là một dạng quyền tài sản có giá trị kinh tế, có thể trở thành đối tượng của các giao dịch dân sự, thương mại. Luận án vận dụng lý thuyết về quản trị rủi ro tín dụng ngân hàng, kết hợp các chuẩn mực của Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng (Basel Committee on Banking Supervision) và quy định tại Thông tư số 02/2013/TT-NHNN của Thống đốc NHNN về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của TCTD. Khung phân tích lý luận gắn kết giữa bản chất của quan hệ tín dụng, rủi ro vỡ nợ, sự suy giảm khả năng thanh toán của khách nợ với sự dịch chuyển pháp lý của tư cách chủ nợ thông qua cơ chế thế quyền.
Về phương pháp nghiên cứu, luận án sử dụng kết hợp sáu phương pháp nghiên cứu pháp lý và liên ngành:
- Phương pháp luận biện chứng: Xem xét các hiện tượng pháp lý và quan hệ mua bán nợ trong sự vận động, ràng buộc tương hỗ với các yếu tố kinh tế, thị trường và quản lý nhà nước; làm cơ sở xác định định hướng sửa đổi pháp luật.
- Phương pháp thống kê, thu thập số liệu: Tập hợp và xử lý các dữ liệu, báo cáo thực tiễn về nợ xấu, dư nợ tín dụng và quy mô giao dịch mua bán nợ từ các nguồn chính thức của NHNN, báo cáo của Chính phủ tại Quốc hội nhằm đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật.
- Phương pháp chuyên gia: Tiếp cận, chắt lọc và kế thừa quan điểm học thuật của các nhà khoa học, chuyên gia ngân hàng về khái niệm nợ, nợ xấu và các cơ chế xử lý tài sản nợ.
- Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết: Chia nhỏ các cấu phần của quan hệ pháp luật mua bán nợ (đối tượng, chủ thể, hợp đồng, tài sản bảo đảm) để nghiên cứu chuyên sâu, sau đó liên kết thành một chỉnh thể lý thuyết mạch lạc.
- Phương pháp phân loại và hệ thống hóa lý thuyết: Sắp xếp các nguồn tài liệu, các nhóm quy phạm pháp luật và văn bản lập quy theo các tiêu chí bản chất nhằm xây dựng khung lý thuyết toàn diện về mua bán nợ của NHTM.
- Phương pháp nghiên cứu lịch sử: Lần tìm nguồn gốc, quá trình hình thành các quy định từ Quyết định số 140/1999/QĐ-NHNN14, qua các giai đoạn phát triển của Luật Các tổ chức tín dụng (1997, 2004, 2010), từ đó rút ra quy luật và xu hướng hoàn thiện thể chế.
Nguồn dữ liệu và tư liệu nghiên cứu được trích xuất trực tiếp từ các văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam, văn bản lập pháp nước ngoài (như Bộ luật Dân sự Pháp, Luật Tiền tệ và Tài chính Pháp), các số liệu thống kê công bố chính thức trên cổng thông tin NHNN (sbv.vn), các báo cáo của Thống đốc NHNN và các ấn phẩm khoa học của các tổ chức tài chính quốc tế như IMF, Basel.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết nghiên cứu
Chương 1 tập trung rà soát toàn diện lịch sử nghiên cứu về hoạt động mua bán nợ của TCTD và NHTM tại Việt Nam cũng như trên thế giới. Tác giả phân chia tình hình nghiên cứu thành các mảng: các nghiên cứu về khái niệm, đặc điểm và phân loại nợ; các nghiên cứu về bản chất, vai trò và nguyên tắc mua bán nợ; các nghiên cứu về lý luận pháp luật mua bán nợ (chủ thể, nguồn luật, hợp đồng, xử lý tài sản bảo đảm); và các nghiên cứu về thực trạng pháp luật thực định. Chương này làm rõ việc phân loại nợ của hệ thống ngân hàng quốc tế theo Basel và Ngân hàng Thanh toán Quốc tế (BIS) gồm năm nhóm nợ, trong đó xác lập tỷ lệ trích lập dự phòng cụ thể: nợ nhóm 3 (dưới chuẩn) trích 10%, nợ nhóm 4 (nghi ngờ) trích 50%, nợ nhóm 5 (có khả năng mất vốn) trích 100%. Luận án chỉ ra tính chất hai mặt của hai phương pháp phân loại nợ hiện hành theo Thông tư số 02/2013/TT-NHNN: phương pháp định lượng bảo đảm sự chuẩn xác khách quan dựa trên số ngày quá hạn nhưng thiếu tính linh hoạt đón đầu rủi ro; ngược lại, phương pháp định tính khắc phục được độ trễ thông tin nhưng đòi hỏi sự chấp thuận bằng văn bản của NHNN cùng hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ chuẩn mực.
Chương 2: Lý luận về mua bán nợ của ngân hàng thương mại và pháp luật về mua bán nợ của ngân hàng thương mại
Nội dung Chương 2 tập trung xây dựng cơ sở lý luận nền tảng cho luận án. Tác giả luận giải nợ của NHTM là hệ quả tất yếu từ hoạt động cấp tín dụng và chỉ rõ bốn đặc trưng cơ bản: (i) phát sinh từ quan hệ hợp đồng cho vay, (ii) mang bản chất là quan hệ tài sản mà đối tượng hoàn trả là tiền, (iii) cấu thành gồm nợ gốc, lãi vay và các khoản chi phí phát sinh, (iv) luôn đi kèm rủi ro tín dụng tiềm ẩn. Về bản chất mua bán nợ, chương này bác bỏ quan điểm cho rằng mua bán nợ là hoạt động cấp tín dụng; thay vào đó, khẳng định đây là giao dịch chuyển quyền sở hữu quyền đòi nợ (quyền tài sản) có tính chất đền bù. Quan hệ này làm phát sinh sự thế quyền của bên mua nợ mà không làm thay đổi nội dung nghĩa vụ của khách nợ ban đầu, đồng thời pháp luật Việt Nam hiện hành không cho phép bên bán thực hiện quyền truy đòi (chuộc lại nợ). Chương 2 cũng hệ thống hóa các nguyên tắc đặc thù của hoạt động mua bán nợ, các yếu tố tác động đến pháp luật mua bán nợ (điều kiện kinh tế - xã hội, định hướng tái cơ cấu ngân hàng, sự kết nối thị trường tài chính và chuẩn mực quốc tế), cùng cấu trúc các chế định pháp luật cơ bản: tư cách chủ thể, đối tượng nợ, giá bán, công cụ thanh toán, hợp đồng và cơ chế xử lý tài sản bảo đảm.
Chương 3: Thực trạng pháp luật mua bán nợ của ngân hàng thương mại ở Việt Nam hiện nay
Chương 3 đi sâu mổ xẻ các văn bản quy phạm pháp luật thực định và đánh giá thực tiễn thi hành. Về mặt pháp luật, luận án phân tích các điều kiện để khoản nợ được phép đưa vào giao dịch; quy chế pháp lý về các chủ thể mua nợ đặc thù như VAMC, DATC và các AMC trực thuộc NHTM; đồng thời làm rõ sự khác biệt giữa hai phương thức mua nợ của VAMC (mua nợ theo giá trị thị trường và mua nợ thanh toán bằng trái phiếu đặc biệt). Về thực tiễn, luận án chỉ ra các vướng mắc nghiêm trọng:
- Tình trạng bất cân xứng thông tin và thiếu vắng các tổ chức định giá, định hạng tín nhiệm độc lập dẫn đến việc định giá khoản nợ thiếu chính xác, giá nợ thường neo ở mức cao không tương thích với rủi ro thực tế.
- Công cụ thanh toán còn hạn chế, các NHTM nắm giữ trái phiếu đặc biệt của VAMC bị đóng băng vốn và vẫn phải trích lập dự phòng rủi ro 20%/năm cho mệnh giá trái phiếu.
- Hợp đồng mua bán nợ còn thiếu các quy định chi tiết về chuyển giao quyền xử lý tài sản bảo đảm gắn liền với quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất đối với bên mua không phải là TCTD (đặc biệt là nhà đầu tư nước ngoài).
- Thủ tục thu giữ, xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ vấp phải nhiều rào cản hành chính và tố tụng dân sự, khiến quyền năng của bên mua nợ bị suy giảm nghiêm trọng.
Chương 4: Định hướng và đề xuất hoàn thiện, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về mua bán nợ của ngân hàng thương mại
Trên cơ sở nhận diện các điểm nghẽn, Chương 4 đưa ra hệ thống quan điểm, định hướng và các nhóm giải pháp hoàn thiện thể chế mang tính đồng bộ:
- Nhóm giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật: Cụ thể hóa điều kiện và tiêu chí các khoản nợ được phép mua bán; mở rộng phạm vi chủ thể tham gia thị trường (tháo gỡ rào cản về vốn và điều kiện kinh doanh cho các doanh nghiệp tư nhân và nhà đầu tư nước ngoài); đa dạng hóa công cụ thanh toán bên cạnh tiền mặt; hoàn thiện các điều khoản bắt buộc trong hợp đồng mua bán nợ; xác lập cơ chế pháp lý minh bạch cho việc chuyển giao nguyên trạng các biện pháp bảo đảm và quyền xử lý tài sản bảo đảm cho chủ nợ mới.
- Nhóm giải pháp hoàn thiện cơ chế thực thi: Bổ sung và chuẩn hóa hình thức mua bán nợ theo lô (portfolio sales) để xử lý nhanh khối lượng nợ xấu lớn; khắc phục tình trạng "cung thừa, cầu thiếu" trên thị trường nợ xấu; thúc đẩy sự hình thành và cấp phép cho các tổ chức xếp hạng tín nhiệm độc lập; thành lập Hiệp hội các công ty mua bán nợ nhằm tạo liên kết ngành; sớm tổ chức sàn giao dịch nợ tập trung; và tăng cường năng lực giám sát, thanh tra của cơ quan quản lý nhà nước (NHNN và các bộ ngành liên quan).
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án xác lập năm đóng góp mới về phương diện khoa học pháp lý và thực tiễn:
- Hoàn thiện khái niệm nợ và nợ xấu của NHTM: Luận án đưa ra định nghĩa nợ của NHTM là một khoản tiền bao gồm gốc, lãi và các chi phí khác mà khách hàng vay phải thanh toán cho NHTM tại một hoặc nhiều thời điểm xác định gọi là hạn thanh toán được thỏa thuận trong hợp đồng. Nợ xấu được định nghĩa là những khoản nợ có rủi ro tín dụng cao, khả năng thu hồi vốn thấp, có khả năng gây thiệt hại cho NHTM, được nhận diện dựa trên thời gian quá hạn thực tế kết hợp với sự đánh giá thấp của NHTM về khả năng trả nợ của khách hàng. Luận án làm rõ bốn đặc điểm pháp lý cơ bản của nợ ngân hàng và phân tích sâu sắc tác động của hoạt động phân loại nợ đối với việc trích lập dự phòng và quyết định bán nợ.
- Hoàn thiện khái niệm và bản chất pháp lý của mua bán nợ: Luận án định nghĩa mua bán nợ của NHTM là giao dịch dựa trên sự tự nguyện thỏa thuận giữa bên bán nợ và bên mua nợ, trong đó đối tượng giao dịch là quyền yêu cầu khách hàng vay nợ thực hiện nghĩa vụ thanh toán khi đến hạn cùng các quyền yêu cầu khác được chuyển giao toàn bộ hoặc một phần cho bên mua nợ có đền bù. Luận án xác lập hệ thống các nguyên tắc đặc thù của hoạt động mua bán nợ của NHTM so với các giao dịch mua bán tài sản thông thường.
- Hệ thống hóa lý luận pháp luật về mua bán nợ: Luận án chỉ ra các đặc điểm đặc thù về nguồn luật điều chỉnh, chủ thể và đối tượng điều chỉnh; đồng thời bổ sung phân tích toàn diện về các yếu tố kinh tế - xã hội, xu thế hội nhập và sự tương thích trong hệ thống pháp luật quốc gia tác động đến quá trình xây dựng luật.
- Đánh giá toàn diện thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành: Luận án làm rõ các khoảng trống pháp lý về điều kiện khoản nợ, địa vị pháp lý của các chủ thể mua nợ (VAMC, DATC, AMC), tính chất pháp lý của công cụ thanh toán bằng trái phiếu đặc biệt, cơ chế định giá nợ, hiệu lực hợp đồng và các vướng mắc trong khâu xử lý tài sản bảo đảm sau khi chuyển giao quyền yêu cầu.
- Đề xuất hệ thống giải pháp lập pháp và cơ chế thi hành đồng bộ: Luận án đưa ra các kiến nghị cụ thể sửa đổi luật chuyên ngành và luật chung; đề xuất giải pháp áp dụng hình thức bán nợ theo lô, phát triển các tổ chức định mức tín nhiệm, thành lập hiệp hội nghề nghiệp mua bán nợ và xây dựng mô hình thị trường mua bán nợ có tổ chức.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của luận án gắn liền với phạm vi nghiên cứu được xác lập ban đầu:
- Luận án chỉ tập trung vào các khoản nợ phát sinh từ hoạt động cho vay giữa NHTM và khách hàng vay vốn, chưa nghiên cứu sâu các khoản nợ phát sinh từ các nghiệp vụ cấp tín dụng khác (như bảo lãnh ngân hàng, chiết khấu công cụ chuyển nhượng, bao thanh toán, cho thuê tài chính).
- Chưa mở rộng phạm vi điều chỉnh sang các khoản nợ xấu phát sinh từ việc nắm giữ trái phiếu doanh nghiệp của NHTM hoặc nợ của các tổ chức tín dụng phi ngân hàng và các định chế tài chính vi mô.
- Do các hạn chế về mặt thời gian và nguồn tư liệu tại thời điểm nghiên cứu (năm 2021), các phân tích thực tiễn chưa bao quát hết những biến động nợ xấu mới phát sinh từ đại dịch COVID-19 trong các năm tiếp theo.
Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể phát triển từ luận án:
- Mở rộng phân tích cơ chế pháp lý xử lý các khoản nợ xấu phát sinh từ danh mục đầu tư trái phiếu doanh nghiệp của các NHTM.
- Nghiên cứu mô hình pháp lý cho sàn giao dịch nợ quốc gia và cơ chế thu hút các quỹ đầu tư nợ xấu quốc tế tham gia thị trường nợ tại Việt Nam.
- Đánh giá tác động pháp lý của việc số hóa và ứng dụng công nghệ tài chính (Fintech) trong việc thẩm định, giao dịch và quản lý nợ ngân hàng.
Giá trị tham khảo
Luận án mang lại giá trị tham khảo rõ rệt đối với nhiều nhóm đối tượng:
- Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Luật Kinh tế, Luật Tài chính - Ngân hàng: Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật cao về mặt lý luận nghĩa vụ dân sự, bản chất quyền đòi nợ và cơ chế thế quyền trong quan hệ tín dụng ngân hàng.
- Đối với giảng viên và các nhà nghiên cứu: Cung cấp nguồn tổng hợp tài liệu chuyên khảo phong phú, hệ thống hóa các quan điểm lập pháp trong nước và quốc tế (pháp luật Pháp, các nguyên tắc Basel).
- Đối với các cơ quan quản lý nhà nước (Quốc hội, NHNN, Bộ Tài chính, Bộ Tư pháp): Các đề xuất tại Chương 4 cung cấp căn cứ thực chứng và lý luận hữu ích phục vụ quá trình sửa đổi, bổ sung Luật Các tổ chức tín dụng, các nghị định về kinh doanh dịch vụ mua bán nợ và các thông tư hướng dẫn về xử lý nợ xấu.
- Đối với các NHTM, VAMC, DATC và các công ty mua bán nợ: Giúp các cán bộ pháp chế và quản trị rủi ro nhận diện chuẩn xác các rủi ro pháp lý phát sinh từ hợp đồng mua bán nợ, quy trình thẩm định giá trị pháp lý của khoản nợ và các điều kiện chuyển giao biện pháp bảo đảm nợ.
Câu hỏi thường gặp
1. Hoạt động mua bán nợ của tổ chức tín dụng được pháp luật Việt Nam chính thức công nhận từ thời điểm nào?
Hoạt động này được pháp luật Việt Nam chính thức ghi nhận và bảo vệ lần đầu tiên thông qua việc Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành Quyết định số 140/1999/QĐ-NHNN14 ngày 19 tháng 04 năm 1999 quy định quy chế mua, bán nợ của tổ chức tín dụng.
2. Theo tác giả luận án, nợ của ngân hàng thương mại và nợ xấu được định nghĩa như thế nào?
Nợ của NHTM được định nghĩa là một khoản tiền bao gồm khoản gốc, lãi và các chi phí khác mà khách hàng vay phải thanh toán cho NHTM tại một hoặc nhiều thời điểm nhất định được gọi là hạn thanh toán do NHTM và khách hàng thoả thuận trong hợp đồng. Nợ xấu được định nghĩa là những khoản nợ có rủi ro tín dụng cao, khả năng thu hồi vốn thấp, có khả năng gây thiệt hại cho NHTM cho vay, dựa trên sự đánh giá về lượng thời gian quá hạn mà chưa thanh toán nợ và sự đánh giá thấp của NHTM về khả năng trả nợ của khách hàng.
3. Bản chất pháp lý của hoạt động mua bán nợ của ngân hàng thương mại là gì và có phải là hoạt động cấp tín dụng không?
Bản chất pháp lý của mua bán nợ là giao dịch chuyển quyền sở hữu đối với quyền đòi nợ (một loại quyền tài sản) từ bên bán nợ sang bên mua nợ theo nguyên tắc có đền bù, mang tính chất thế quyền trong quan hệ nghĩa vụ dân sự. Luận án khẳng định mua bán nợ không phải là hoạt động cấp tín dụng, vì bên mua trả tiền để nhận quyền yêu cầu mà không có nghĩa vụ hoàn trả vốn, đồng thời pháp luật Việt Nam hiện hành không cho phép bên bán chuộc lại (truy đòi) khoản nợ đã bán.
4. Luận án ghi nhận tỷ lệ và quy mô nợ xấu của hệ thống ngân hàng qua các mốc thời gian cụ thể nào?
Luận án dẫn chứng số liệu giám sát của NHNN: năm 2010 nợ xấu khoảng 38 tỷ đồng (chiếm 2,1% tổng dư nợ), năm 2011 khoảng 78 nghìn tỷ đồng (chiếm 3,2% tổng dư nợ). Đến cuối tháng 9/2017, theo báo cáo của Thống đốc NHNN Lê Minh Hưng tại Quốc hội, tổng nợ xấu khoảng 566.000 tỷ đồng (chiếm 8,61%). Giai đoạn tiếp theo, theo website sbv.vn, tỷ lệ nợ xấu nội bảng tăng từ mức 1,6% tại quý IV/2019 lên mức 2,4% tại cuối quý III/2020.
5. Luận án đề xuất những giải pháp trọng tâm nào để hoàn thiện cơ chế thực thi pháp luật mua bán nợ?
Luận án đề xuất bổ sung hình thức mua bán nợ theo lô, khắc phục tình trạng mất cân đối cung cầu trên thị trường nợ, hình thành và cấp phép hoạt động cho các tổ chức xếp hạng tín nhiệm độc lập, thành lập Hiệp hội các công ty mua bán nợ, tổ chức thị trường mua bán nợ tập trung và nâng cao năng lực quản lý nhà nước của các cơ quan có thẩm quyền.
Kết luận
Luận án tiến sĩ "Mua bán nợ của các ngân hàng thương mại theo pháp luật Việt Nam hiện nay" của tác giả Trần Thị Thanh Thủy là công trình nghiên cứu chuyên sâu thuộc chuyên ngành Luật học, giải quyết một cách toàn diện các vấn đề lý luận và thực tiễn pháp lý về xử lý nợ qua thị trường mua bán nợ. Bằng việc vận dụng linh hoạt sáu phương pháp nghiên cứu khoa học, luận án đã làm sáng tỏ bản chất chuyển giao quyền đòi nợ, đánh giá khách quan các hạn chế của khung pháp luật thực định và thực tiễn thi hành tại Việt Nam. Các giải pháp lập pháp và cơ chế thực thi được luận án đề xuất có tính đồng bộ, cung cấp cơ sở học thuật và thực tiễn tin cậy cho việc hoàn thiện thể chế ngân hàng và thúc đẩy sự phát triển minh bạch của thị trường mua bán nợ.