Luận án tiến sĩ luật học: Mua bán nợ của các ngân hàng thương mại theo pháp luật Việt Nam hiện nay

Luận án tiến sĩ luật học phân tích mua bán nợ của các ngân hàng thương mại theo pháp luật việt nam hiện nay, xây dựng cơ sở lý luận, kiểm chứng thực nghiệm, đóng góp tri thức mới

Trường đại học

Học viện Ngân hàng

Chuyên ngành

Luật học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2021

177
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU

1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.2. Đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu

1.3. Cơ sở lý thuyết nghiên cứu

1.4. KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

2. CHƯƠNG 2: LÝ LUẬN VỀ MUA BÁN NỢ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ PHÁP LUẬT VỀ MUA BÁN NỢ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

2.1. Những vấn đề lý luận về mua bán nợ của ngân hàng thương mại

2.2. Những vấn đề lý luận pháp luật về mua bán nợ của ngân hàng thương mại

2.3. KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

3. CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT MUA BÁN NỢ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

3.1. Thực trạng pháp luật mua bán nợ của ngân hàng thương mại ở Việt Nam hiện nay

3.2. Phân tích, đánh giá thực tiễn mua bán nợ của ngân hàng thương mại theo pháp luật Việt Nam hiện nay

3.3. KẾT LUẬN CHƯƠNG 3

4. CHƯƠNG 4: ĐỊNH HƯỚNG VÀ ĐỀ XUẤT HOÀN THIỆN, NÂNG CAO HIỆU QUẢ THI HÀNH PHÁP LUẬT VỀ MUA BÁN NỢ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

4.1. Định hướng hoàn thiện pháp luật về mua bán nợ của ngân hàng thương mại tại Việt Nam

4.2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về mua bán nợ của ngân hàng thương mại

4.3. Hoàn thiện cơ chế thực thi pháp luật mua bán nợ của ngân hàng thương mại tại Việt Nam

4.4. KẾT LUẬN CHƯƠNG 4

DANH MỤC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Tóm tắt

I. Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết

Chương này tập trung vào việc tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến mua bán nợ của ngân hàng thương mại theo pháp luật Việt Nam. Nghiên cứu sinh đã đánh giá các kết quả nghiên cứu trước đó và xác định những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu. Cơ sở lý thuyết được xây dựng dựa trên các khái niệm về nợ, nợ xấu, và các quy định pháp lý liên quan. Chương này cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc hoàn thiện pháp luật để phát triển thị trường tài chínhquản lý nợ hiệu quả.

1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu

Phần này phân tích các công trình nghiên cứu trước đây về mua bán nợ của ngân hàng thương mại. Các nghiên cứu chủ yếu tập trung vào khía cạnh pháp lý và thực tiễn áp dụng. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều khoảng trống cần được điền đầy, đặc biệt là về hợp đồng mua bánquy định pháp lý cụ thể.

1.2. Cơ sở lý thuyết nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết được xây dựng dựa trên các khái niệm về nợ, nợ xấu, và các nguyên tắc pháp lý liên quan. Nghiên cứu sinh đã làm rõ các đặc điểm của nợ ngân hàng, bao gồm rủi ro tín dụng và các biện pháp quản lý. Phần này cũng đề cập đến vai trò của pháp luật trong việc điều chỉnh hoạt động mua bán nợ.

II. Lý luận về mua bán nợ của ngân hàng thương mại

Chương này đi sâu vào lý luận về mua bán nợ của ngân hàng thương mại. Nghiên cứu sinh đã định nghĩa và phân tích các khái niệm liên quan, bao gồm nợ, nợ xấu, và các đặc điểm pháp lý của hoạt động mua bán nợ. Chương này cũng làm rõ vai trò của hợp đồng mua bán và các nguyên tắc pháp lý đặc thù trong hoạt động này.

2.1. Khái niệm và đặc điểm của mua bán nợ

Phần này định nghĩa mua bán nợ là giao dịch dựa trên sự tự nguyện giữa bên bán và bên mua, với đối tượng là quyền yêu cầu thanh toán nợ. Nghiên cứu sinh cũng phân tích các đặc điểm pháp lý của hoạt động này, bao gồm tính chất tự nguyện và sự tuân thủ các quy định pháp luật.

2.2. Vai trò của mua bán nợ trong quản lý tài chính

Hoạt động mua bán nợ đóng vai trò quan trọng trong việc quản lý rủi ro tín dụng và tối ưu hóa nguồn vốn của ngân hàng thương mại. Phần này cũng đề cập đến tác động của hoạt động này đối với thị trường tài chính và nền kinh tế quốc gia.

III. Thực trạng pháp luật mua bán nợ của ngân hàng thương mại

Chương này phân tích thực trạng pháp luật về mua bán nợ của ngân hàng thương mại tại Việt Nam. Nghiên cứu sinh đã chỉ ra những thành tựu và hạn chế trong các quy định hiện hành, đồng thời đánh giá thực tiễn áp dụng các quy định này. Chương này cũng đề cập đến các vấn đề pháp lý chưa được điều chỉnh đầy đủ.

3.1. Thực trạng quy định pháp luật

Phần này phân tích các quy định hiện hành về mua bán nợ, bao gồm điều kiện đối với khoản nợ, chủ thể tham gia, và các công cụ thanh toán. Nghiên cứu sinh cũng chỉ ra những bất cập trong hệ thống pháp luật, đặc biệt là sự thiếu đồng bộ và chồng chéo giữa các văn bản quy phạm.

3.2. Đánh giá thực tiễn áp dụng

Phần này đánh giá thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật về mua bán nợ. Nghiên cứu sinh đã chỉ ra những khó khăn trong việc thực thi pháp luật, bao gồm sự thiếu hụt các cơ chế giám sát và quản lý hiệu quả.

IV. Định hướng và đề xuất hoàn thiện pháp luật

Chương này đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật về mua bán nợ của ngân hàng thương mại. Nghiên cứu sinh đã đưa ra các định hướng cụ thể, bao gồm việc hoàn thiện các quy định về hợp đồng mua bán, chủ thể tham gia, và công cụ thanh toán. Chương này cũng đề xuất các biện pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật.

4.1. Định hướng hoàn thiện pháp luật

Phần này đề xuất các định hướng hoàn thiện pháp luật, bao gồm việc xây dựng hệ thống quy định đồng bộ và rõ ràng. Nghiên cứu sinh cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc hài hòa các quy định pháp luật với thực tiễn kinh tế - xã hội.

4.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi

Phần này đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật, bao gồm việc thành lập các tổ chức giám sát và quản lý chuyên nghiệp. Nghiên cứu sinh cũng đề xuất việc phát triển thị trường tài chính để hỗ trợ hoạt động mua bán nợ.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ luật học mua bán nợ của các ngân hàng thương mại theo pháp luật việt nam hiện nay

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết nghiên cứu; - Chương 2: Lý luận về mua bán nợ của ngân hàng thương mại và pháp luật về mua bán nợ của ngân hàng thương mại; - Chương 3: Thực trạng pháp luật mua bán nợ của ngân hàng thương mại ở Việt Nam hiện nay; - Chương 4: Định hướng và đề xuất hoàn thiện, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về mua bán nợ của ngân hàng thương mại. 9 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Các công trình nghiên cứu những vấn đề lý luận về mua bán nợ của ngân hàng thương mại Một là, các nghiên cứu về khái niệm, đặc điểm và phân loại nợ của ngân hàng thương mại Khái niệm nợ nói chung và nợ của NHTM nói riêng được một số công trình tại Việt Nam nghiên cứu cụ thể như sau: Tại luận án tiến sĩ về “Pháp luật về hoạt động mua bán nợ của tổ chức tín dụng ở Việt Nam” của tác giả Khúc Thị Phương Nhung cho rằng khái niệm nợ (khoản nợ) có thể được biểu hiện bằng một khoản tiền nhất định hoặc dưới dạng khác (dịch vụ phải cung ứng, công việc phải thực hiện) mà theo đó nghĩa vụ này được phát sinh trên cơ sở hợp đồng hoặc theo quy định của pháp luật và bên nợ có nghĩa vụ phải thực hiện theo yêu cầu của bên có quyền.

Ngoài ra, công trình còn đưa ra khái niệm nợ của TCTD, theo đó, nợ của TCTD là một khoản tiền bao gồm khoản gốc, lãi, phí và/hoặc chi phí khác có liên quan mà khách hàng (tổ chức, cá nhân) có nghĩa vụ phải trả cho TCTD tại một thời điểm nhất định theo thỏa thuận được xác lập trong hợp đồng giữa TCTD và khách hàng [[31], tr. Theo luận án tiến sĩ kinh tế về “Phát triển thị trường mua bán nợ tại Việt Nam” của tác giả Nguyễn Thu Hương, cho rằng nợ là nghĩa vụ phải trả bằng tiền hoặc tài sản của cá nhân hoặc tổ chức này (gọi là khách nợ) đối với cá nhân hoặc tổ chức khác (chủ nợ). Nợ có thể có tài sản bảo đảm hoặc không có tài sản bảo đảm [22]. Luận văn thạc sĩ luật học về “Hợp đồng mua bán nợ theo pháp luật Việt Nam” của tác giả Lê Trọng Dũng cũng đề cập đến khái niệm nợ, theo đó, nợ là nghĩa vụ của cá nhân, tổ chức phải trả tài sản cho cá nhân, tổ chức khác phát sinh từ hợp đồng hoặc theo quy định của pháp luật [[18], tr.

Theo định nghĩa này, nợ được 10 hiểu là một mối quan hệ pháp lý của một bên phải hoàn trả cho một bên khác, mà đối tượng được giới hạn trong phạm vi tài sản, phát sinh do thoả thuận của các bên hoặc do sự điều tiết của pháp luật trong những trường hợp cụ thể. Theo bài viết “Nghĩa vụ dân sự và quan niệm nghĩa vụ dân sự ở Việt Nam” của Phó giáo sư Tiến s Ngô Huy Cương, các định nghĩa nợ thông thường chỉ đứng dưới góc nhìn của bên có nghĩa vụ phải thực hiện vì lợi ích của người khác mà chưa xem xét góc độ từ phía người có quyền, theo đó một bên có quyền yêu cầu, còn bên kia phải thực hiện hành vi nhất định theo yêu cầu đó, có nghĩa là chỉ mối quan hệ giữa trái chủ và người thụ trái xác định. Khi nói hợp đồng là căn cứ phát sinh ra nghĩa vụ, thì có nghĩa là hợp đồng làm phát sinh ra quan hệ giữa trái chủ và người thụ trái xác định [17]. Do vậy, cần lưu ý trong quan hệ nghĩa vụ luôn có hai chủ thể trái ngược nhau: một bên có quyền yêu cầu thực hiện nghĩa vụ, bên còn lại phải thực hiện yêu cầu của bên kia để quan tâm đầy đủ các khía cạnh.

Bên cạnh các công trình nghiên cứu về nợ nói chung của NHTM, cũng có nhiều công trình nghiên cứu về nợ xấu nói chung và nợ xấu của NHTM, cụ thể như sau: Theo Luận án tiến sĩ kinh tế của tác giả Nguyễn Thị Hoài Phương về “Quản lý nợ xấu tại ngân hàng thương mại Việt Nam”, tác giả cho rằng nếu đứng dưới góc nhìn của các NHTM thì nợ xấu có thể hiểu là những khoản nợ cho vay không có khả năng sinh lời hay những khoản vay không còn hoạt động, liên quan tới tính hiệu quả của khu vực ngân hàng. Những khoản vay trở nên không sinh lời khi người vay dừng việc thanh toán và khoản cho vay này bắt đầu bị vỡ nợ. Cụ thể, theo quan điểm của tác giả, nợ xấu phải được tiếp cận dựa vào khả năng trả nợ của khách hàng. Có nghĩa là một khoản vay trong hạn, hoặc thậm chí mới cho vay, nhưng có dấu hiệu chứng tỏ rằng khả năng trả nợ của khoản vay là đáng nghi ngờ thì cũng có thể coi là một khoản nợ xấu [34].

Việc nghiên cứu khái niệm nợ xấu cũng được đề ra trong nhiều công trình nghiên cứu, bài viết khác. Như trong luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Tú về “Pháp luật về mua bán nợ xấu của Ngân hàng thương mại ở Việt Nam”, tác giả đã đưa ra khái niệm về nợ xấu, hay còn gọi là nợ khó đòi hoặc các khoản vay có vấn đề, là 11 khái niệm được sử dụng phổ biến nhằm ám chỉ các khoản nợ bị suy giảm khả năng thu hồi hoặc mất khả năng thu hồi [43]. Khái niệm này cho thấy về bản chất nợ xấu là khoản nợ mà người vay không trả nợ đến hạn bao gồm cả trường hợp không trả nợ và mất khả năng trả nợ. Hay quan điểm của Tiến sĩ Tôn Thanh Tâm trong bài viết “Bàn về xử lý nợ xấu” chỉ ra rằng, dấu hiệu nhận biết nợ xấu là nếu bên vay trả nợ không sòng phẳng, không đầy đủ cả gốc và lãi cho ngân hàng khi đến hạn thì nó trở thành nợ xấu [36].

“Pháp luật về hoạt động mua bán nợ của tổ chức tín dụng ở Việt Nam” của tác giả Khúc Thị Phương Nhung đã đề cập một số vấn đề về đặc điểm nợ và phân loại nợ của TCTD trong đó bao gồm NHTM thông qua góc độ phân tích đặc điểm nợ và phân loại nợ của TCTD nói chung. Qua đó, thể hiện nợ mang một số đặc điểm như phát sinh trên cơ sở hợp đồng giữa TCTD và khách hàng, thường đi kèm với sự bảo đảm khả năng thanh toán thông qua các biện pháp bảo đảm tiền vay, thường được các bên xác định trước thời điểm trả nợ, bao gồm số tiền vay gốc, lãi, phí và chi phí khác nếu có, và là kết quả của quá trình mà TCTD thực hiện quyền định đoạt đối với tài sản của chính mình thông qua hợp đồng tín dụng. Đồng thời, công trình này cũng chỉ ra được phương pháp phân loại nợ định lượng và định tính, và khoản nợ xấu (nợ nhóm 3, 4, 5) có tỷ lệ trích lập dự phòng cao hơn các nhóm nợ khác [31]. Luân án tiến s luật học “Pháp luật về mua bán nợ xấu từ hoạt động cho vay của các tổ chức tín dụng ở Việt Nam” của Hoàng văn Thành đã đưa ra khái niệm “nợ xấu từ hoạt động cho vay của các TCTD là một loại quyền tài sản hình thành khi nghĩa vụ trả nợ của khách hàng đối với TCTD không được thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ sau một khoảng thời gian luật định hoặc được TCTD nhận định khách hàng rất có thể không còn khả năng thực hiện nghĩa vụ trả nợ” [[37], tr.446] Tại một số công trình nghiên cứu khác như “Pháp luật về hoạt động mua, bán nợ của các tổ chức tín dụng ở Việt Nam” của tác giả Trà Đình Thứ [41], “Hợp đồng mua bán nợ theo pháp luật Việt Nam” của tác giả Lê Trọng Dũng [18], “Nợ xấu, phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng theo quy định Việt Nam và thông 12 lệ quốc tế” của tác giả Đinh Thị Thanh Vân [46], “Hợp đồng mua bán nợ của các ngân hàng thương mại ở Việt Nam” của tác giả Nguyễn Thị Hồng Lê [24], cũng chỉ ra được các phương pháp phân loại nợ phổ biến tại Việt Nam theo phương pháp định lượng và định tính.

Ngoài những công trình nghiên cứu trong nước kể trên, ở nước ngoài cũng có những công trình nghiên cứu về khái niệm nợ, nợ xấu, phân loại nợ của NHTM. Cụ thể là: Trong Fundamentals of contract law (Đại cương về pháp luật hợp đồng) của Corinne Renault Brahinsky [[59], tr. 11], tác giả khẳng định bản chất pháp lý của nợ là một nghĩa vụ tài sản của bên nợ đối với chủ nợ. Trong bài viết Régime juridique du transfert de créances (dịch là: Chế độ pháp lý về chuyển giao quyền đòi nợ) của Andoh Ludovie [99], tác giả cũng cho rằng, nợ với bản chất là nghĩa vụ của chủ thể này với chủ thể khác.

Đồng thời, tác giả cũng khẳng định, thực chất chuyển giao quyền đòi nợ là quá trình chuyển giao quyền tài sản của chủ thể có quyền cho một bên thứ ba theo thỏa thuận. Tiếp đến, có một số công trình khoa học khác cũng đã đề cập đến khái niệm nợ xấu và cách phân loại nợ như The Treatment of Nonperforming Loans (dịch là: Xử lý các khoản vay không hiệu quả) của Eighteenth Meeting of the IMF Committee on Balance of Payments Statistics Washington (June 27–July 1 (2005) [60]; International Convergence of Capital Measurement and Capital Standards (Tập hợp các tiêu chuẩn quốc tế về vốn và đo lường vốn) (A Revised Framework) của Basel Committee on Banking Supervision [62]. Trong các công trình nghiên cứu này, nợ xấu được xác định dựa trên cả hai dấu hiệu định lượng (các khoản nợ đã quá hạn từ 90 ngày trở lên) và định tính (dấu hiệu khách hàng không trả được nợ). Hai là, các công trình nghiên cứu về mua bán nợ của ngân hàng thương mại Về khái niệm, đặc điểm mua bán nợ của NHTM hiện nay có một số công trình tiêu biểu tại Việt Nam nghiên cứu đến vấn đề này có thể kể đến như: Công trình “Pháp luật về các biện pháp hạn chế rủi ro trong hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng ở Việt Nam và một số nước trên thế giới” của tác giả Lê Thị Thu Thủy [40] đã đưa ra khái niệm về mua bán nợ.

Qua đó, có thể hiểu mua 13 bán nợ là hoạt động mà bên bán chuyển giao quyền đòi nợ cho bên mua nợ để sớm thu hồi vốn của mình, bản chất của mua bán nợ là chuyển giao quyền sở hữu đối với khoản nợ từ bên bán sáng bên mua nợ.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ luật học về mua bán nợ ngân hàng thương mại theo pháp luật Việt Nam là một nghiên cứu chuyên sâu về các quy định pháp lý liên quan đến hoạt động mua bán nợ trong lĩnh vực ngân hàng thương mại tại Việt Nam. Tài liệu này không chỉ phân tích các khía cạnh pháp lý mà còn đưa ra những giải pháp nhằm cải thiện hiệu quả quản lý nợ, đặc biệt là nợ xấu. Đọc giả sẽ hiểu rõ hơn về cơ chế pháp lý, thách thức và cơ hội trong việc mua bán nợ, từ đó có cái nhìn toàn diện về vấn đề này trong bối cảnh pháp luật Việt Nam.

Để mở rộng kiến thức về xử lý nợ xấu, bạn có thể tham khảo Luận án tiến sĩ xử lý nợ xấu tại ngân hàng thương mại trách nhiệm hữu hạn một thành viên đại dương, nghiên cứu này tập trung vào các giải pháp cụ thể để xử lý nợ xấu tại một ngân hàng cụ thể. Ngoài ra, Khóa luận tốt nghiệp ngân hàng hoạt động mua bán và xử lý nợ xấu của VAMC cung cấp cái nhìn chi tiết về vai trò của VAMC trong việc mua bán và xử lý nợ xấu. Cuối cùng, Giải pháp xử lý nợ xấu tại ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam chi nhánh Quang Trung là một nghiên cứu thực tiễn về cách thức xử lý nợ xấu tại một chi nhánh ngân hàng cụ thể.

Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn đa chiều và sâu sắc hơn về các vấn đề liên quan đến nợ xấu và mua bán nợ trong hệ thống ngân hàng thương mại tại Việt Nam.