Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp "Hoạt động mua bán và xử lý nợ xấu của VAMC cho hệ thống ngân hàng Việt Nam" do sinh viên Chu Thị Như Ngọc (Lớp K17NHL, Khoa Ngân hàng, Học viện Ngân hàng) thực hiện dưới sự hướng dẫn của ThS. Trần Hữu Tuyến vào tháng 5 năm 2018.

Đề tài được xây dựng trên cơ sở thực tiễn về công tác quản lý nợ tại các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước và hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam sau giai đoạn khủng hoảng tài chính toàn cầu. Gánh nặng nợ quá hạn và nợ xấu gia tăng nhanh chóng, được ví như "cục máu đông" làm suy giảm năng lực tài chính của các tổ chức tín dụng (TCTD), cản trở chu chuyển dòng vốn đầu tư và đe dọa an toàn hệ thống tài chính quốc gia. Trước đòi hỏi cấp bách về một định chế trung gian chuyên trách để xử lý nợ xấu theo thông lệ quốc tế, ngày 26/07/2013, Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) chính thức ra đời. Sau hơn 4 năm vận hành, việc đánh giá toàn diện các nghiệp vụ mua bán, xử lý nợ xấu của đơn vị này là cơ sở khoa học để tìm ra giải pháp tháo gỡ khó khăn về mặt thể chế và nghiệp vụ.

Văn bản xác định 3 mục tiêu nghiên cứu cụ thể:

  1. Hệ thống hóa, tổng hợp, phân tích những vấn đề lý luận liên quan đến công ty quản lý tài sản (AMC) và hoạt động của AMC.
  2. Phân tích thực trạng hoạt động thực tiễn của VAMC từ khi thành lập (năm 2013) đến thời điểm nghiên cứu.
  3. Đưa ra các kiến nghị, đề xuất và giải pháp đối với các cơ quan quản lý chức năng và nội bộ VAMC nhằm nâng cao hiệu quả xử lý nợ xấu.
  • Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề lý luận tổng quát về định chế AMC; thực trạng nghiệp vụ mua, bán, xử lý nợ xấu của VAMC; các kết quả đạt được, hạn chế còn tồn tại và hệ thống văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động này.
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Không gian: Hoạt động mua bán và xử lý nợ xấu của VAMC đối với các TCTD trong hệ thống ngân hàng Việt Nam.
    • Thời gian: Dữ liệu thứ cấp và số liệu hoạt động thực tế được thu thập từ khi VAMC thành lập (tháng 7/2013) đến hết năm 2017.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận tiếp cận vấn đề xử lý nợ xấu thông qua khung lý luận về định chế AMC tập trung và hệ thống cơ chế điều hành tiền tệ - xử lý nợ đặc thù tại các nền kinh tế đang phát triển.

Khung lý thuyết và cơ sở pháp lý

  • Lý thuyết về định chế AMC: Khóa luận xác định AMC là một định chế có mục tiêu, trách nhiệm và thẩm quyền đặc thù nhằm mua lại và xử lý các khoản nợ khó đòi từ hệ thống ngân hàng để phục hồi sức khỏe tài chính cho các TCTD. AMC hoạt động mang tính đặc thù phi lợi nhuận theo nguyên tắc lấy thu bù chi, phân tán rủi ro và bảo toàn nguồn vốn công.
  • Cơ chế vận hành: Khóa luận phân tích 5 mô hình tổ chức AMC trên thế giới, tập trung so sánh hai cấu trúc chính là mô hình AMC tập trung (do Chính phủ thành lập, có cơ chế pháp lý đặc biệt) và mô hình AMC phân tán (do từng ngân hàng tự thiết lập).
  • Văn bản pháp lý áp dụng trong văn bản:
    • Nghị định số 53/2013/NĐ-CP ngày 18/05/2013 của Chính phủ về thành lập, tổ chức và hoạt động của VAMC.
    • Quyết định số 843/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án xử lý nợ xấu của hệ thống các TCTD.
    • Quyết định số 1459/QĐ-NHNN ngày 27/06/2013 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) về việc thành lập VAMC.
    • Nghị định số 34/2015/NĐ-CP ngày 31/03/2015 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 53/2013/NĐ-CP (nâng vốn điều lệ VAMC lên 2.000 tỷ đồng).
    • Thông tư số 19/2013/TT-NHNN ngày 06/09/2013 của NHNN quy định về việc mua, bán và xử lý nợ xấu của VAMC.
    • Thông tư số 20/2013/TT-NHNN của NHNN quy định về tái cấp vốn trên cơ sở trái phiếu đặc biệt (TPĐB).
    • Thông tư số 01/2017/TT-BTC của Bộ Tài chính hướng dẫn chế độ tài chính đối với VAMC.

Phương pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu

  • Phương pháp luận: Dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng.
  • Phương pháp thu thập và xử lý thông tin: Sử dụng kết hợp các phương pháp định tính và định lượng bao gồm: phương pháp thống kê mô tả, tổng hợp dữ liệu, phương pháp phân tích kinh tế và phương pháp so sánh đối chiếu số liệu qua các giai đoạn.
  • Nguồn dữ liệu:
    • Dữ liệu thứ cấp công bố từ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Tổng cục Thống kê.
    • Báo cáo tài chính, báo cáo thường niên đã kiểm toán của các NHTM (Agribank, BIDV, VietinBank, Vietcombank, SCB, Sacombank, VIB, VPBank, LienVietPostBank, ACB, SHB, PGBank...).
    • Báo cáo kết quả hoạt động nghiệp vụ của VAMC qua các năm 2013, 2014, 2015, 2016, 2017.
    • Tư liệu nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế về các mô hình: TAMC (Thái Lan), 4 AMC trực thuộc Bộ Tài chính Trung Quốc (Cinda, Huarong, Orient, Great Wall), KAMCO (Hàn Quốc) trích dẫn từ các công trình nghiên cứu của Sohn (2002), Xu (2005).

Nội dung chính theo từng chương

Chương I: Những vấn đề cơ bản về công ty quản lý tài sản

Chương này tập trung xây dựng cơ sở lý luận về AMC và phân tích kinh nghiệm quốc tế:

  • Bản chất và vai trò của AMC: AMC được thành lập nhằm ngăn chặn sự sụp đổ của hệ thống ngân hàng khi tỷ lệ nợ quá hạn vượt ngưỡng an toàn (thông lệ quốc tế là trên 3% hoặc trên 5%). Hoạt động của AMC giúp khơi thông thanh khoản, tách nợ xấu ra khỏi bảng cân đối kế toán của ngân hàng, giảm chi phí trích lập dự phòng và tái cấu trúc nguồn vốn doanh nghiệp.
  • Cơ cấu vốn và phương thức định giá: Nguồn vốn của AMC thường hình thành từ tài trợ trực tiếp của Chính phủ (chiếm tỷ trọng nhỏ từ 0,4% đến 20%) và phát hành trái phiếu (chiếm khoảng 60%). Định giá mua nợ gồm hai phương pháp: theo giá trị sổ sách (book value) và theo giá trị thị trường (fair market value). Các kỹ thuật xử lý nợ và tài sản bảo đảm (TSBĐ) bao gồm: cơ cấu lại kỳ hạn/lãi suất, hoán đổi nợ thành vốn góp cổ phần (debt-to-equity swap), chứng khoán hóa tài sản nợ (Asset-Backed Securities - ABS) và phát mại/bán đấu giá tài sản.
  • Kinh nghiệm xử lý nợ quốc tế:
    • Thái Lan: Sau khủng hoảng 1997, tỷ lệ nợ xấu đạt đỉnh 46%. Thử nghiệm AMC phân tán thất bại do ngân hàng tư nhân không xử lý được nợ. Năm 2001, Thái Lan thành lập TAMC theo Nghị định khẩn cấp (B.E. 2544), vốn hoạt động 96% từ phát hành trái phiếu 10 năm được Quỹ Phát triển các định chế tài chính (FIDF) bảo lãnh. Cơ chế cốt lõi là chia sẻ lời - lỗ (ngân hàng bán nợ nhận 80% lãi hoặc chịu 20% lỗ phát sinh). Đến tháng 6/2003, TAMC đã giải quyết 784,4 tỷ Baht (73,46% tổng nợ xấu), kéo tỷ lệ nợ xấu toàn ngành xuống 12,9% (2003), 10% (2004) và kết thúc sứ mệnh vào năm 2011.
    • Trung Quốc: Nợ xấu phát sinh từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung và cho vay chỉ định các doanh nghiệp nhà nước (DNNN). Năm 1999, Chính phủ lập 4 AMC (Cinda, Huarong, Great Wall, Orient) tương ứng xử lý nợ cho 4 NHTM quốc doanh lớn. Mỗi đơn vị được cấp 10 tỷ Nhân dân tệ (NDT) từ Bộ Tài chính; vốn mua nợ gồm 40% vay NHTW và 60% phát hành trái phiếu. Tính đến cuối năm 2004, 4 AMC thu hồi được 675 tỷ NDT (đạt dưới 40% giá trị chuyển giao), tỷ lệ thu hồi tiền mặt chỉ đạt khoảng 20% do mua theo giá trị sổ sách và tài sản bảo đảm bằng bất động sản chỉ chiếm 7%.
    • Hàn Quốc: Năm 1997, tỷ lệ nợ/vốn chủ sở hữu của 30 tập đoàn lớn (Chaebol) vượt 500%, nợ xấu đạt 7,4% (1997) và tăng lên 8,3% (1998). KAMCO được tái cơ cấu để mua lại nợ xấu, chia tài sản thành nhóm thông thường và nhóm đặc biệt. Chính phủ hỗ trợ thông qua ưu đãi thuế (giảm 50% thuế thặng dư vốn, cho phép bù trừ nợ xấu vượt mức dự phòng vào chi phí chịu thuế), ban hành Luật Chứng khoán hóa tài sản và thành lập các Công ty tái cơ cấu doanh nghiệp (CRC). Tỷ lệ nợ xấu còn lại trên tổng nợ xấu của Hàn Quốc giảm từ 88,7% (1997) xuống còn 24% (2001).
  • Bài học cho Việt Nam: Cần sự hỗ trợ vốn mạnh mẽ từ Chính phủ; xây dựng cơ chế xử lý nợ ngoài tòa án (tương tự điều khoản Martian tại Ý); trao thẩm quyền pháp lý đặc biệt cho AMC; xử lý nợ xấu gắn liền với tái cơ cấu DNNN; và đa dạng hóa các công cụ thị trường (chứng khoán hóa, đấu giá quốc tế).

Chương II: VAMC và thực trạng mua bán nợ xấu

Chương này đánh giá chi tiết quá trình hình thành và kết quả triển khai nghiệp vụ của VAMC giai đoạn 2013 - 2017:

  • Bối cảnh ra đời và vị thế pháp lý: 6 tháng đầu năm 2013, tăng trưởng GDP Việt Nam đạt 4,9%, lạm phát 2,4%. Nợ xấu nội bảng toàn hệ thống tăng từ 4,08% (cuối 2012) lên đỉnh điểm 4,67% (tháng 4/2013) và ghi nhận 4,46% (tháng 6/2013). Nợ nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn) tăng vọt, chiếm tới gần 50% tổng nợ xấu (13.725 tỷ đồng tại quý 2/2013). VAMC được thành lập với số vốn điều lệ ban đầu 500 tỷ đồng (sau đó tăng lên 2.000 tỷ đồng theo Nghị định 34/2015/NĐ-CP). Bộ máy gồm 8 đơn vị trực thuộc (Ban 1, Ban 2, Ban Bán và Xử lý nợ, Ban Pháp chế, Ban Kiểm tra - Giám sát, Ban Công nghệ thông tin, Ban Tài chính - Kế toán, Ban Hành chính - Nhân sự) và Văn phòng Hội đồng thành viên.
  • Quy trình mua nợ bằng trái phiếu đặc biệt (TPĐB): Thực hiện theo Thông tư 19/2013/TT-NHNN. Các mốc thời gian thẩm định, kiểm tra hồ sơ, phê duyệt và ký kết hợp đồng mua bán nợ được chuẩn hóa (kiểm tra hồ sơ trong 5 ngày làm việc; thẩm định trong 10 ngày làm việc; ký hợp đồng trong 5 ngày làm việc; thông báo cho khách hàng vay trong 10 ngày làm việc). TPĐB có kỳ hạn 5 năm, lãi suất 0%, được dùng để vay tái cấp vốn tại NHNN với lãi suất ưu đãi (thời điểm 2013 là 5%, thấp hơn 2% so với thông thường), hệ số rủi ro tính toán CAR là 20%, và ngân hàng phải trích lập dự phòng rủi ro 20%/năm.
  • Diễn biến số liệu mua bán nợ qua các năm:
    • Năm 2013: Có 7 ngân hàng có nợ xấu trên 3% bắt buộc phải bán nợ (PGBank 9,5%, Navibank 8,78%, SHB 5,93%, PNB 3,79%, Saigonbank 3,72%, ACB 3,34%). Agribank là đơn vị đầu tiên ký hợp đồng bán 2.534 tỷ đồng dư nợ gốc (11 khách hàng) với giá mua 1.723 tỷ đồng thanh toán bằng TPĐB. Kết thúc năm 2013, VAMC mua được 38.900 tỷ đồng nợ xấu từ 35 TCTD.
    • Năm 2014: Nợ xấu nội bảng tháng 7/2014 là 162,2 nghìn tỷ đồng (4,11%). VAMC mua 82.000 tỷ đồng nợ xấu với giá mua 77.000 tỷ đồng. Lũy kế từ tháng 10/2013 đến 31/12/2014, VAMC mua 133.555 tỷ đồng nợ gốc với giá mua 108.652 tỷ đồng từ 39 TCTD. Tỷ lệ nợ xấu hệ thống giảm về mức 3,25%. Các ngân hàng bán nợ lớn gồm BIDV (6.600 tỷ đồng), SCB (6.125 tỷ đồng, lũy kế 11.000 tỷ đồng), Sacombank (4.349 tỷ đồng), VIB (2.506 tỷ đồng), LienVietPostBank (1.232,5 tỷ đồng).
    • Năm 2015: Nợ có khả năng mất vốn tăng nhanh tại nhiều ngân hàng lớn (Vietcombank có nợ nhóm 5 chiếm 73% nợ xấu với 5.672 tỷ đồng; BIDV đạt 5.193 tỷ đồng; Sacombank đạt 3.029 tỷ đồng). Trong năm 2015, VAMC mua nợ xấu với tổng giá mua đạt 82.155 tỷ đồng từ 38 TCTD (VietinBank bán 6.219 tỷ đồng, Techcombank bán 761 tỷ đồng).
  • Đánh giá hoạt động: VAMC đã làm giảm áp lực nợ xấu trước mắt, hỗ trợ thanh khoản ngân hàng qua kênh tái cấp vốn của NHNN. Tuy nhiên, việc xử lý thực chất còn chậm do phần lớn nợ xấu mới chỉ được "lưu kho" dưới dạng TPĐB; việc mua bán nợ theo giá thị trường chưa đạt kết quả; năng lực tài chính của VAMC còn mỏng so với quy mô nợ xấu cần xử lý.

Chương III: Giải pháp nâng cao năng lực xử lý nợ xấu cho VAMC

Chương này đề xuất hệ thống giải pháp và kiến nghị chính sách căn cứ trên dự báo bối cảnh kinh tế và xu hướng nợ xấu năm 2018:

  • Dự báo xu hướng nợ xấu: Căn cứ báo cáo kinh tế vĩ mô và dự báo của Ngân hàng Thế giới (WB), nợ xấu tiềm ẩn xu hướng gia tăng nếu các điều kiện tín dụng bất động sản và sản xuất không cải thiện triệt để.
  • Nhóm giải pháp nâng cao năng lực:
    • Về phía VAMC: Nâng cao năng lực thẩm định giá, hoàn thiện đề án mua bán nợ theo giá thị trường; nâng cao năng lực tài chính và quản trị nhân sự chuyên nghiệp.
    • Về phía NHTM: Phối hợp chặt chẽ trong việc rà soát hồ sơ nợ, chủ động trích lập dự phòng 20%/năm đúng hạn, không ỷ lại vào việc bán nợ lấy TPĐB.
    • Phát triển thị trường mua bán nợ: Đẩy nhanh tiến độ phát mại và xử lý TSBĐ; tháo gỡ điểm nghẽn trong công tác thi hành án dân sự; xác định và đa dạng hóa các nguồn tiền tham gia xử lý nợ (thu hút nhà đầu tư tư nhân và nước ngoài); xúc tiến thành lập Hiệp hội các công ty mua bán nợ.
  • Kiến nghị với các cơ quan quản lý nhà nước:
    • Quốc hội: Hoàn thiện khuôn khổ pháp luật về xử lý nợ xấu và quyền thu giữ TSBĐ của chủ nợ.
    • Chính phủ: Bổ sung nguồn vốn điều lệ thực tế cho VAMC, chỉ đạo các bộ ngành phối hợp đồng bộ.
    • Tòa án nhân dân tối cao: Áp dụng thủ tục rút gọn trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng và xử lý tài sản thế chấp.
    • Các Bộ, ngành liên quan (Bộ Tư pháp, Bộ Tài chính, Bộ Công an): Rút ngắn thời gian kê biên, bán đấu giá và chuyển quyền sở hữu tài sản bảo đảm.

Kết quả và đóng góp

Số liệu thực nghiệm tổng hợp từ văn bản

Tiêu chí / Giai đoạn Năm 2013 Năm 2014 Năm 2015
Tỷ lệ nợ xấu toàn hệ thống 4,46% (tháng 6/2013) 3,25% (cuối năm 2014) Duy trì phân hóa giữa các nhóm ngân hàng
Quy mô nợ VAMC mua trong năm 38.900 tỷ đồng (dư nợ gốc) 82.000 tỷ đồng (giá mua 77.000 tỷ) Tổng giá mua đạt 82.155 tỷ đồng
Số lượng TCTD bán nợ 35 TCTD 39 TCTD (tính lũy kế) 38 TCTD
Quy mô mua nợ lũy kế 38.900 tỷ đồng 133.555 tỷ đồng nợ gốc (giá mua 108.652 tỷ) Tiếp tục gia tăng qua TPĐB
Ngân hàng bán nợ tiêu biểu Agribank (2.534 tỷ đồng gốc; giá bán 1.723 tỷ) BIDV (6.600 tỷ), SCB (6.125 tỷ), Sacombank (4.349 tỷ) VietinBank (6.219 tỷ), Techcombank (761 tỷ)

Nguồn: Tổng hợp từ số liệu trích xuất trong Chương II của khóa luận

Bên cạnh đó, văn bản ghi nhận số liệu so sánh quốc tế phản ánh tính hiệu quả của các mô hình AMC:

Quốc gia / Định chế Thời kỳ / Cơ chế chính Tỷ lệ nợ xấu đỉnh điểm Kết quả xử lý thực tế
Thái Lan (TAMC) 2001 - 2011; mô hình tập trung; cơ chế chia sẻ lời/lỗ 80/20 46% (cuối năm 1997) Xử lý 784,4 tỷ Baht (73,46% nợ xấu) tính đến 6/2003; nợ xấu giảm còn dưới 4% (quý 4/2011)
Trung Quốc (4 AMC) Thành lập 1999; xử lý 4 NHTM quốc doanh; mua theo giá sổ sách Khoản nợ tích tụ từ kinh tế kế hoạch Đến cuối 2004 thu hồi 675 tỷ NDT (<40% giá trị chuyển giao); tỷ lệ thu tiền mặt ~20%
Hàn Quốc (KAMCO) Sau khủng hoảng 1997; phát hành ABS, thành lập CRC, ưu đãi thuế 8,3% (năm 1998) Lượng nợ KAMCO mua năm 2001 gấp gần 10 lần năm 1997; tỷ lệ nợ xấu tồn đọng giảm từ 88,7% xuống 24%

Các đề xuất và đóng góp khoa học

  • Hệ thống hóa kinh nghiệm quốc tế: Đưa ra bức tranh so sánh chi tiết giữa các mô hình AMC thành công và thất bại tại khu vực Đông Á, rút ra nguyên nhân hạn chế của mô hình phân tán và khẳng định sự phù hợp của mô hình AMC tập trung trong điều kiện khung pháp lý xử lý nợ còn yếu.
  • Phân tích cơ chế trái phiếu đặc biệt: Khóa luận chỉ rõ TPĐB là công cụ kỹ thuật tạm thời giúp ngân hàng "làm sạch" bảng cân đối kế toán và hỗ trợ thanh khoản ngắn hạn thông qua tái cấp vốn tại NHNN, nhưng việc giải quyết triệt để phụ thuộc vào năng lực xử lý tài sản bảo đảm và nguồn lực tài chính thực tế của nền kinh tế.
  • Đóng góp giải pháp thực tiễn: Khóa luận đề xuất các nhóm giải pháp đa chiều: từ kiện toàn bộ máy VAMC, tăng tính thị trường trong định giá mua bán nợ, thúc đẩy thành lập Hiệp hội các công ty mua bán nợ đến việc kiến nghị Quốc hội và các cơ quan tư pháp tháo gỡ quyền thu giữ, bán đấu giá tài sản bảo đảm.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của công trình:
    • Về nguồn dữ liệu: Số liệu thực nghiệm của khóa luận tập trung chủ yếu trong giai đoạn 2013 - 2015 và các ước tính đến năm 2017; các phân tích về thu hồi nợ bằng tiền mặt và kết quả tài chính giai đoạn 2016 - 2017 chưa được trình bày chi tiết bằng số liệu chuỗi thời gian hoàn chỉnh trong các bảng trích xuất.
    • Về phạm vi nghiệp vụ: Hoạt động mua bán nợ của VAMC trong giai đoạn nghiên cứu gần như phụ thuộc hoàn toàn vào công cụ trái phiếu đặc biệt; nghiệp vụ mua nợ theo giá trị thị trường chưa diễn ra phổ biến nên các phân tích về thị trường mua bán nợ thứ cấp chủ yếu mang tính định hướng lý thuyết.
    • Tác giả tự nhận định do giới hạn kiến thức và kinh nghiệm thực tế, đề tài không tránh khỏi những thiếu sót trong việc đánh giá chuyên sâu các vấn đề pháp lý phức tạp liên quan đến tố tụng và thi hành án dân sự.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo:
    • Nghiên cứu thực trạng xử lý nợ xấu sau khi Nghị quyết số 42/2017/QH14 của Quốc hội về thí điểm xử lý nợ xấu của các TCTD có hiệu lực thi hành đầy đủ trong thực tế.
    • Đánh giá tác động tài chính lên các NHTM khi các khoản trái phiếu đặc biệt kỳ hạn 5 năm của VAMC đến ngày đáo hạn và hoàn tất trích lập dự phòng rủi ro 100%.
    • Nghiên cứu mô hình vận hành và định giá mua bán nợ xấu theo giá trị thị trường có sự tham gia của các nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng thụ hưởng:
    • Sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng, Quản trị Ngân hàng, Luật Kinh tế cần tài liệu tổng quan về cơ chế tái cấu trúc hệ thống tín dụng và xử lý nợ tồn đọng.
    • Cán bộ làm việc tại phòng quản lý rủi ro, phòng xử lý nợ của các ngân hàng thương mại, các công ty AMC của NHTM và VAMC.
    • Các nhà nghiên cứu và cơ quan hoạch định chính sách tiền tệ quan tâm đến việc so sánh các mô hình công ty quản lý tài sản trên thế giới.
  • Nội dung có giá trị tham khảo cao:
    • Chương I cung cấp tư liệu tổng hợp về khung vận hành của TAMC (Thái Lan) và KAMCO (Hàn Quốc), các cơ chế ưu đãi thuế và cơ chế chia sẻ lời - lỗ có thể ứng dụng trong chính sách.
    • Chương II cung cấp hệ thống quy trình nghiệp vụ mua nợ bằng trái phiếu đặc biệt theo quy định của Thông tư 19/2013/TT-NHNN và Thông tư 01/2017/TT-BTC, hữu ích cho việc nghiên cứu hồ sơ và trình tự pháp lý ngân hàng.

Câu hỏi thường gặp

1. Vốn điều lệ của VAMC được hình thành và điều chỉnh qua các văn bản pháp lý nào?

Theo Nghị định số 53/2013/NĐ-CP và Quyết định số 1459/QĐ-NHNN ngày 27/06/2013, VAMC được thành lập là Công ty TNHH MTV do Nhà nước sở hữu 100% vốn với số vốn điều lệ ban đầu là 500 tỷ đồng. Đến ngày 31/03/2015, Chính phủ ban hành Nghị định số 34/2015/NĐ-CP điều chỉnh tăng vốn điều lệ của VAMC lên 2.000 tỷ đồng (gấp 4 lần). Mức vốn 2.000 tỷ đồng này tiếp tục được Bộ Tài chính ghi nhận tại Thông tư số 01/2017/TT-BTC hướng dẫn chế độ tài chính đối với VAMC.

2. Trái phiếu đặc biệt do VAMC phát hành có các đặc tính tài chính và pháp lý gì?

Theo Thông tư số 19/2013/TT-NHNN, trái phiếu đặc biệt (TPĐB) được VAMC phát hành để mua nợ xấu của các TCTD có các đặc tính sau: kỳ hạn thông thường là 5 năm; lãi suất coupon 0%; giá mua nợ bằng mệnh giá trái phiếu phát hành. TCTD sở hữu TPĐB được sử dụng trái phiếu này để vay tái cấp vốn tại NHNN (với lãi suất thấp hơn thông thường 2%, tại năm 2013 là 5%), xác định hệ số rủi ro là 20% khi tính tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu (CAR), và có nghĩa vụ trích lập dự phòng rủi ro 20%/năm (hoặc tối đa 10 năm đối với trường hợp đặc biệt như SCB được cơ cấu).

3. Tổ chức tín dụng nào đầu tiên ký hợp đồng bán nợ xấu cho VAMC và quy mô giao dịch là bao nhiêu?

Mặc dù không thuộc nhóm 7 ngân hàng bắt buộc phải bán nợ do có tỷ lệ nợ xấu trên 3% tại thời điểm tháng 9/2013, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam (Agribank) là ngân hàng đầu tiên đăng ký và ký hợp đồng bán nợ cho VAMC vào ngày 01/10/2013. Hợp đồng bao gồm khoản nợ xấu của 11 khách hàng doanh nghiệp với tổng giá trị dư nợ là 2.534 tỷ đồng, giá bán nợ thanh toán bằng TPĐB là 1.723 tỷ đồng (tương đương khoảng 70% giá trị sổ sách), giúp Agribank giảm được 7,56% tổng nợ xấu của mình.

4. Mô hình TAMC của Thái Lan áp dụng nguyên tắc chia sẻ tài chính nào giữa AMC và ngân hàng bán nợ?

Theo Nghị định khẩn cấp TAMC (B.E. 2544) của Thái Lan năm 2001, việc xử lý nợ xấu giữa TAMC và các TCTD bán nợ được thực hiện trên nguyên tắc chia sẻ lời - lỗ (gain/loss sharing). Cụ thể: nếu khoản nợ xấu sau khi thu hồi hoặc xử lý tài sản tạo ra lợi nhuận thì ngân hàng bán nợ được hưởng 80% phần lợi nhuận đó; ngược lại, nếu quá trình xử lý nợ phát sinh lỗ thì ngân hàng bán nợ phải gánh chịu 20% giá trị khoản lỗ.

5. Đến hết năm 2014, kết quả mua nợ xấu lũy kế của VAMC đạt quy mô như thế nào?

Theo số liệu thống kê trong Chương II, lũy kế từ khi bắt đầu mua nợ (tháng 10/2013) đến ngày 31/12/2014, VAMC đã thực hiện mua 133.555 tỷ đồng tổng dư nợ gốc với giá mua đạt 108.652 tỷ đồng từ 39 tổ chức tín dụng. Riêng trong năm 2014, VAMC đã mua được 82.000 tỷ đồng nợ xấu với giá mua 77.000 tỷ đồng, góp phần đưa tỷ lệ nợ xấu toàn hệ thống ngân hàng tại thời điểm cuối năm 2014 giảm xuống còn 3,25%.

Kết luận

Khóa luận của tác giả Chu Thị Như Ngọc là một công trình nghiên cứu hệ thống về cơ chế hoạt động và thực tiễn xử lý nợ xấu của VAMC trong giai đoạn bản lề 2013 - 2017. Tác phẩm đã làm rõ vai trò của công cụ trái phiếu đặc biệt trong việc giải tỏa áp lực thanh khoản và giảm tỷ lệ nợ xấu nội bảng của các ngân hàng thương mại, đồng thời tổng hợp các bài học kinh nghiệm quốc tế giá trị từ Thái Lan, Hàn Quốc và Trung Quốc. Các giải pháp và kiến nghị được tác giả đề xuất bám sát các rào cản thực tế về vốn, thẩm quyền định giá và cơ chế pháp lý thu giữ tài sản bảo đảm, mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho công tác nghiên cứu và hoạch định chính sách ngân hàng.