Chương 1: Lý luận chung về các nhân tố tác động tới nợ xấu của các ngân hàng thương mại Chương 2: Phương pháp nghiên cứu Chương 3: Thực trạng nợ xấu và các nhân tố tác động đến nợ xấu của các ngân hàng thương mại Việt Nam Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 5: Khuyến nghị chính sách 7 CHƢƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG TỚI NỢ XẤU CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Cơ sở lý thuyết về nợ xấu 1. Khái niệm Nợ xấu là thuật ngữ đƣợc sử dụng phổ biến trên thế giới với các từ nhƣ ―Non-performing loans‖ (NPL), ―bad debt‖, ―doubtful debt‖ chỉ các khoản nợ khó đòi (Fofack, 2005) hoặc các khoản vay có vấn đề (Berger & De Young, 1997) hoặc khoản nợ không trả đƣợc (defaulted loans) mà ngân hàng không thể thu lợi từ nó (Ernst & Young, 2004) hay các khoản cho vay bắt đầu đƣợc đƣa vào nợ xấu khi đã quá hạn trả nợ gốc và lãi 90 ngày trở lên (Rose, 2004). Hiện tại không có một quy tắc hay chuẩn mực thống nhất khi thảo luận về vấn đề nợ xấu.
Một số quan điểm về nợ xấu: Theo tổ chức Tiền tệ Thế giới (IMF, 2004), nợ xấu đƣợc định nghĩa: ―Một khoản vay đƣợc xem là nợ xấu khi nó quá hạn thanh toán gốc lãi trong 90 ngày hoặc hơn; khi các khoản lãi suất đã quá hạn 90 ngày hoặc hơn đã đƣợc vốn hóa, cơ cấu lại hoặc gia hạn nợ theo thỏa thuận; khi các khoản thanh toán đến hạn dƣới 90 ngày nhƣng có thể nhân thấy những dấu hiệu rõ ràng cho thấy ngƣời vay sẽ không thể hoàn trả nợ đầy đủ (ví dụ ngƣời vay phá sản). Sau khi khoản vay đƣợc xếp vào danh mục nợ xấu, nó hoặc bất cứ khoản vay thay thế nào cũng nên đƣợc xếp vào danh mục nợ xấu cho tới thời điểm phải xóa nợ hoặc thu hồi đƣợc lãi và gốc của khoản vay đó hoặc thu hồi đƣợc khoản vay thay thế‖. Theo quan điểm của Ngân hàng Trung ƣơng Châu Âu (ECB, 2001) thì nợ xấu đƣợc định nghĩa qua hai yếu tố: quá hạn trên 90 ngày, hoặc khả năng trả nợ bị nghi ngờ. Quan điểm nợ xấu của ECB đƣợc xác định dựa trên kết quả thu hồi nợ của ngân hàng.
Ủy ban Basel về giám sát Ngân hàng (BCSC) không đƣa ra định nghĩa 8 cụ thể về nợ xấu. Nhƣng trong các hƣớng dẫn về thông lệ chung tại nhiều quốc gia, BCSC xác định nợ xấu đƣợc xác định là khoản nợ bị xem là không có khả năng trả khi một trong hai hoặc cả hai điều kiện sau xảy ra: (i) Ngân hàng đánh giá ngƣời vay không có khả năng trả đầy đủ khi ngân hàng chƣa thực hiện hành động nào để cố gắng thu hồi; (ii) Ngƣời vay đã bị quá hạn thanh toán 90 ngày. Nhƣ vậy theo BCDS, nợ xấu bao gồm các khoản cho vay đã quá hạn 90 ngày và có dấu hiệu ngƣời đi vay không thể trả đƣợc nợ. Theo quỹ tiền tệ quốc tế (IMF, 2004) một khoản vay đƣợc coi là nợ xấu khi quá hạn thanh toán gốc hoặc lãi 90 ngày hoặc hơn; khi các khoản lãi suất đã quá hạn 90 ngày hoặc hơn đã đƣợc vốn hóa, cơ cấu lại, hoặc trì hoãn theo thỏa thuận; khi các khoản thanh toán đến hạn dƣới 90 ngày nhƣng có thể nhận thấy các dấu hiệu rõ ràng cho thấy ngƣời vay sẽ không thể hoàn trả nợ đầy đủ.
Định nghĩa nợ xấu theo tiêu chuẩn của Việt Nam đƣợc NHNN quy định tại khoản 6 Điều 2 Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22 tháng 4 năm 2005, nợ xấu (NPL) là các khoản nợ thuộc các nhóm 3, 4 và 5. Trong đó, nợ nhóm 3 là các khoản nợ quá hạn từ 90 đến 180 ngày; nợ nhóm 4 đƣợc gọi là các khoản nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày; nợ nhóm 5 là các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày. Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dƣ nợ là tỷ lệ để đánh giá chất lƣợng tín dụng của tổ chức tín dụng. Nhƣ vậy, nợ xấu có thể hiểu là các khoản nợ khó đòi, và khi đến hạn phải thanh toán ngƣời vay không thể trả nợ nhƣ đã cam kết trong hợp đồng tín dụng, thời gian quá hạn thanh toán trên 3 tháng (90 ngày) thì bị coi là nợ xấu.
Tổng hợp rút ra từ các định nghĩa trên, nợ xấu đƣợc hiểu là các khoản nợ dƣới chuẩn mà ngân hàng thƣơng mại cho vay không thu hồi đƣợc gốc và lãi đúng thời hạn cam kết, quá hạn trả nợ gốc và lãi từ 90 ngày trở lên. Chỉ tiêu đo lƣờng nợ xấu Từ định nghĩa về nợ xấu tại mục 1.1, có thể đƣa ra chỉ tiêu đo lƣờng nợ xấu nhƣ sau: Tỷ lệ nợ xấu = Tổng nợ xấu/ Tổng dƣ nợ 9 Trong đó: Tổng nợ xấu: Tổng nợ nhóm 3, 4, 5 Tổng dƣ nợ: Tổng nợ nhóm 1, 2, 3, 4, 5 Theo thông tƣ của ngân hàng nhà nƣớc Việt Nam số 22/2019/TT-NHNN ngày 15/11/2019 về việc quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nƣớc ngoài, có quy định điều kiện về tỷ lệ nợ xấu của các ngân hàng thƣơng mại là dƣới 3%. Cho thấy, đây là ngƣỡng tỷ lệ nợ xấu mà các ngân hàng thƣơng mại Việt Nam phải đảm bảo tuân thủ. Nguyên nhân dẫn đến nợ xấu 1.
Nguyên nhân khách quan Thứ nhất, nguyên nhân từ môi trƣờng kinh tế. (i) Chu kỳ phát triển kinh tế. Khi nền kinh tế tăng trƣởng và ổn định thì hoạt động tín dụng cũng sẽ tăng trƣởng theo và ít rủi ro hơn. Ngƣợc lại, khi nền kinh tế rơi vào suy thoái thì sản xuất kinh doanh của khách hàng bị thu hẹp hoặc đình trệ, dẫn tới thua lỗ và bị phá sản.
Nếu ngân hàng vẫn mạo hiểm tăng trƣởng tín dụng ở mức cao thì khả năng rủi ro không thu đƣợc nợ sẽ tăng lên. (ii) Rủi ro do quá trình tự do hóa tài chính, hội nhập quốc tế. Rủi ro do quá trình tự do hóa tài chính, hội nhập quốc tế xu hƣớng toàn cầu hóa đang diễn ra sôi động trên toàn thế giới có thể làm cho nợ xấu ngày càng gia tăng khi tạo ra một môi trƣờng cạnh tranh gay gắt, khốc liệt, khiến những khách hàng của ngân hàng phải đối mặt với nguy cơ thua lỗ và quy luật đào thải khắc nghiệt của thị trƣờng. Thêm vào đó, sự cạnh tranh của các ngân hàng nƣớc ngoài cũng khiến cho các ngân hàng trong nƣớc nếu không quản trị rủi ro tín dụng hiệu quả thì ngân hàng bị lép vế và mất dần các khách hàng có tiềm lực tài chính lớn.
Thứ hai, nguyên nhân từ môi trƣờng xã hội. Những biến động lớn về kinh tế chính trị trên thế giới luôn có ảnh hƣởng tới công việc kinh doanh của các 10 doanh nghiệp cũng nhƣ các ngân hàng. Ngày nay, cùng với sự mở rộng giao lƣu kinh tế, văn hóa, chính trị giữa các nƣớc đời sống kinh tế thế giới cũng có nhiều biến đổi. Muốn phát triển kinh tế một cách toàn diện cần thực hiện mở cửa nền kinh tế để tiếp thu những thành tựu khoa học kĩ thuật hiện đại của những nƣớc phát triển, trao đổi, xuất nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ với nƣớc ngoài.
Tất cả các hoạt động tạo nên mối quan hệ kinh tế đối ngoại của mỗi quốc gia. Những thay đổi về chính trị rất có thể dẫn tới sự biến động cán cân thƣơng mại quốc tế, tỷ giá hối đoái giá các đồng tiền làm biến động thị trƣờng trong nƣớc nhƣ giá cả nguyên vật liệu, hàng hóa, dịch vụ, mức lãi suất thị trƣờng, mức cầu tiền tệ làm trực tiếp ảnh hƣởng đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp và ngƣời chịu tác động là các ngân hàng thƣơng mại. Thứ ba, nguyên nhân từ môi trƣờng pháp lý. Còn tồn tại nhiều khe hở trong áp dụng thi hành luật pháp.
Luật và các văn bản có liên quan của nƣớc ta không đồng bộ, còn nhiều khe hở, điển hình là việc quy định NHTM có quyền xử lý tài sản bảo đảm nợ vay khi khách hàng không trả đƣợc nợ. Thực tế, các NHTM không làm đƣợc điều này vì ngân hàng là một tổ chức kinh tế, không phải là cơ quan quyền lực nhà nƣớc nên không có chức năng cƣỡng chế, do đó phải đƣa ra tòa án xử lý qua con đƣờng tố tụng, dẫn đến thời gian thu hồi đƣợc nợ là khá lâu, phức tạp và tốn không ít chi phí cũng nhƣ nhân lực. Thứ tư, nguyên nhân từ ngƣời đi vay. (i) Sử dụng vốn sai mục đích, không có thiện chí trong việc trả nợ.
Đối với các doanh nghiệp, khi hồ sơ vay vốn trình lên các cán bộ tín dụng thì đều có mục đích rõ ràng, phƣơng án kinh doanh cụ thể và khả thi; còn các cá nhân thì kê khai đầy đủ mục đích và khả năng tài chính có thể trả nợ đúng hạn. Tuy nhiên, không ít khách hàng sau khi vay lại sử dụng vốn sai mục đích, không có thiện chí trả nợ sẽ làm cho các ngân hàng bị tổn thất và rủi ro trong vấn đề thu hồi nợ. (ii) Khả năng quản lý hoạch định chiến lược kinh doanh kém. Nếu chiến lƣợc 11 kinh doanh không đƣợc quản lý hoạch định tốt sẽ ảnh hƣởng đến nguồn trả nợ.
Ngân hàng cho vay dựa trên kế hoạch, chiến lƣợc kinh doanh vì đấy là nguồn trả nợ tốt nhất, tuy nhiên nếu sự quản lý hoạch định yếu kém, sẽ làm cho phƣơng án kinh doanh có thể đi vào phá sản, ảnh hƣởng đến khả năng trả nợ của khách hàng. (iii) Tình hình tài chính doanh nghiệp yếu kém, thiếu minh bạch. Hiện nay, các báo cáo tài chính (BCTC) của các doanh nghiệp cung cấp vẫn chƣa phải là nguồn thông tin xác thực, bởi chúng đƣợc xử lý sao cho đẹp để tiếp cận vốn vay. Mặc dù có những báo cáo tốt, có lợi nhuận nhƣng bên trong lại tiềm ẩn, chứa đựng nhiều vấn đề, rủi ro.
Do đó ngân hàng không có căn cứ chính xác đáng tin cậy dựa vào thông tin doanh nghiệp cung cấp mà phải dùng tài sản làm chỗ dựa để phòng chống rủi ro tín dụng. Nguyên nhân chủ quan Thứ nhất, nguyên nhân từ chính sách tín dụng của ngân hàng. Các khoản vay có vấn đề và các thiệt hại cho vay có thể xảy ra do sơ hở về thủ tục trong nội bộ ngân hàng. Chính sách tín dụng không rõ ràng làm cho hoạt động tín dụng trở nên lệch lạc, dẫn đến việc cấp tín dụng sai lầm, tạo ra những kẽ hở cho ngƣời sử dụng vốn lách luật và cuối cùng thì ngân hàng lại phải chịu thiệt thòi.
Thứ hai, nguyên nhân từ phía con ngƣời.