Mở đầu Chương 2 : Tổng quan nghiên cứu và cơ sở lý luận về các nhân tô ảnh hưởng tới nợ xấu tại các ngân hàng thương mại Chương 3 : Phương pháp nghiên cứu Chương 4 : Kết quả nghiên cứu Chương5 : Kết luận và một vài khuyên nghị nhằm nhằm nâng cao hiệu quả xử lý nợ xấu tại các ngân hàng thương mại Việt Nam 11 CHƯƠNG2 : TONG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VE CAC NHÂN TO ANH HUONG TỚI NO XAU TẠI CÁC NGAN HÀNG THƯƠNG MẠI 2.1: Tổng quan nghiên cứu 2.1: Tổng quan nghiên cứu nước ngoài Các nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ giữa các nhân tố tác động (bao gồm các nhân tố vĩ mô và/hoặc vi mô ) đến nợ xấu tại các NHTM hoặc tại 01 NHTM cụ thể đã được thực hiện tại nhiều nước trên thế giới , phương pháp nghiên cứu bao gồm định tính hoặc định lượng. Tac giả lược khảo một vài nghiên cứu liên quan dén đê tài như sau : ¢ _ Trong nghiên cứu về các yếu tố quyết định đến nợ xấu ở Khu vực Eurozone đã xác định các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ nợ xấu của các hệ thống ngân hàng Eurozone trong giai đoạn 2000 — 2008 trước khi bắt đầu suy thoái. Nghiên cứu đã chỉ ra các nhân tô vĩ mô ( tỷ lệ tăng trưởng theo ty lệ phan trăm hàng năm của tong sản phẩm quốc nội , nợ công tính theo phần trăm tổng sản phẩm quốc nội và tỷ lệ thất nghiệp ) , các nhân tô vi mô (ty lệ cho vay trên tiền gửi , tỷ suất lợi nhuận trên tài sản và ty suất sinh lời )_. Tác gia chỉ ra rằng có mối tương quan chặt chẽ giữa nợ xấu và các yếu tố vĩ mô và các yếu tố ngân hàng.
Các nhân tố tỷ lệ nợ xấu của năm trước, tỷ lệ vốn và ROE có ảnh hưởng mạnh mẽ đến tỷ lệ nợ xấu. Đồng thời, các nhân tố vi mô , nợ công, GDP và tỷ lệ thất nghiệp là ba yếu tố bổ sung ảnh hưởng đến chỉ số nợ xấu, cho thấy tình trạng kinh tế của các nước Eurozone rõ rang có mối liên hệ với chất lượng danh mục cho vay. ¢ _ Nghiên cứu của Ahlem Selma Messai và Fathi Jouini ( 2013 ) xác định các nhân tố vĩ mô và vi mô về nợ xấu đối với 85 ngân hàng ở 3 quốc gia ( Ý , Hy Lạp và Tây Ban Nha ) giai đoạn 2004-2008. Các quốc gia này đã phải đối mặt với các vẫn đề tài chính sau cuộc khủng hoảng 2008.
Các nhân tố được xác định là các nhân tố vĩ mô và các nhân tô ngân hàng. Các nhân tố vĩ mô bao gồm tốc độ tăng tưởng GDP , tỷ lệ thất nghiệp và lãi suất thực tế đối với các biến cụ thể được lựa chọn cho ty 12 suất sinh lợi của tài sản , sự thay đổi trong các khoản vay và tỷ lệ dự phòng rủi ro cho vay / tổng các khoản cho vay. Kết quả đưa ra các khoản vay có vấn đề tỷ lệ nghịch với tốc độ tăng trưởng GDP , khả năng sinh lời của ngân hàng va nó cùng chiều với ty lệ thất nghiệp. Tỷ lệ thất nghiệp và lãi suất thực có ảnh hưởng cùng chiều đến các khoản vay bị suy giảm.
Hơn nữa nhóm tác giả nhận thấy rằng các quy định của các ngân hàng tăng lên cùng với các khoản nợ xấu. « _ Nghiên cứu của Bhattarai (2014) đã sử dung bảng câu hỏi cau trúc dé thu thập ý kiến đánh giá của cán bộ ngân hàng về tác động của các biến kinh tế vĩ mô và các biến cụ thể của ngân hàng đến nợ xấu, trong đó các câu hỏi liên quan đến từng biến số được đánh giá bằng thang đo Likert 05 mức độ. 140 cán bộ và cấp quản lý của 10 ngân hàng lớn tại Nepal được lựa chọn trả lời. Sau khi phân tích nghiên cứu chỉ ra rằng cuộc khủng hoảng năng lượng; thiếu chỉ ngân sách kịp thời do chính phủ và môi trường chính trị không 6n định làm gia tăng các khoản nợ xấu.
Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng người vay trung thực trong việc công khai thông tin, giám sát tốt hon và đánh giá khoản vay, có tác động tiêu cực đáng ké đến khoản nợ xấu. Tuy nhiên, các biến số kinh tế vĩ mô như tỷ lệ thất nghiệp tỷ lệ lạm phát, tỷ giá hối đoái và lãi suất không phải là những biến số quan trọng ảnh hưởng đến nợ xâu của các ngân hàng thương mại của Nepal và tốc độ tăng trưởng GDP làm giảm các khoản nợ xấu của các ngân hàng thương mại. ¢ _ Nghiên cứu của Hassan et al. (2014) xem xét về mối quan hệ giữa các nhân tô xã hội và các nhân tố nội tại ngân hàng với nợ xau của 12 ngân hàng có tổng tài sản lớn của Pakistan.
Bằng phương pháp định lượng - phát bảng câu hỏi khảo sát đến 150 người có it nhất 05 năm kinh nghiệm làm việc tại các vi trí liên quan hoạt động tín dụng (các cán bộ tín dụng, quan hệ khách hàng, trưởng/phó phòng, giám đốc, phó chủ tịch của 12 ngân hàng trên), tác giả rút ra kết luận: các yêu tố thuộc về ngân hàng như đánh giá tín dụng, giám sát tín dụng và tăng trưởng tín dụng nhanh chóng có ảnh hưởng đáng ké đến nợ xấu, trong khi lãi suất có ảnh hưởng yếu đến nợ xấu. Các yếu tố xã hội bao gồm can thiệp chính trị và sự thiếu năng lực của ngân hàng có ảnh hưởng đáng kê đên các khoản nợ xau. 13 ¢ _ Đối với nghiên cứu của N.Viswanadham and Nahid B (2015) về nợ xấu tại ngân hàng NBC Dodoma Tazania, thông qua đữ liệu thu thập được bằng phỏng vấn, bảng câu hỏi và số liệu thực tế từ 152 người (140 khách hàng vay và 12 nhân viên tín dụng) trả lời, tác giả kết luận mối quan hệ giữa các biến nội tại ngân hàng đến nợ xấu tương ứng là mức độ tập trung cho vay (-); khả năng giám sát không hiệu quả khoản vay (+), trong khi tác động của các yếu tố bên ngoài với nợ xấu lần lượt là GDP (-), điều kiện kinh tế (-) và lãi suất (+) 2.2: Tổng quan nghiên cứu trong nước Tại Việt Nam cũng đã có nhiều nghiên cứu phân tích các yếu tố tác động đến nợ xấu của NHTM : ‹ D6 Quỳnh Anh và Nguyễn Đức Hùng (2013) sử dụng mô hình hồi quy dit liệu bang với số liệu được thu thập từ 10 NHTM lớn trong giai đoạn từ 2005 đến 2011 dé xác định các yếu tố quyết định nợ xấu. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng các yếu tổ như lạm phát, tỷ lệ nợ xấu thời kỳ trước, quy mô ngân hàng, tỷ lệ cho vay/ tông tài sản tác động cùng chiều với nợ xấu, ngược lại tăng trưởng GDP, sự thiếu hiệu quả tác động ngược đến mức độ nợ xấu, trong khi biến tăng trưởng tín dụng của thời điểm hiện tại có quan hệ ngược chiều với nợ xấu nhưng tác động ngược lại sau 01 năm (tăng trưởng tín dụng cao chưa làm tăng nợ xấu ngay lập tức mà phải sau 01 năm), còn biến hiệu quả hoạt động kinh doanh không có ý nghĩa thống kê trong giai đoạn nghiên cứu.
‹ H6 Nguyễn Phương Thúy (2014) đã kết hợp nghiên cứu định tinh và nghiên cứu định lượng (dùng bảng câu hỏi khảo sát với thang do Likert 5 mức độ dé khảo sát ý kiến của các nhân viên tín dụng, kiểm định độ tin cậy của thang đo bằng hệ số Cronbach’s Alpha và phân tích nhân tố khám phá (EFA) dé kiểm định giá trị thang đo), kết quả cho thay nhân tố môi trường kinh tế (lạm phát, tăng trưởng GDP, lãi suất, khung pháp lý) có ảnh hưởng cùng chiều nhiều nhất đến nợ xấu tại Agribank giai đoạn 2009-2013 và kế đến là các nhân tố từ phía cán bộ tín dụng (trình độ 14 chuyên môn, đạo đức nghề nghiệp, tinh thần trách nhiệm, việc kiểm tra giám sát TSBD). Với cùng phương pháp nghiên cứu của tác giả Hồ Nguyễn Phương Thúy (2014), Nguyễn Thị Thanh Hà (2014) cũng rút ra kết luận tương đồng: nhân tố từ bản thân ngân hàng, nhân tố môi trường kinh doanh và chính sách của Nhà nước, nhân tổ từ phía khách hàng đi vay có quan hệ thuận chiều với nợ xấu tại ngân hàng Nam Á giai đoạn 2009-2013, mức độ tác động giảm dần theo thứ tự này. Nghiên cứu về các nhân tố nội tại tác động đến nợ xấu của các chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Khu vực TPHCM, tác giả Trần Thị Nguyệt Hồng (2014) rút trích được 06 nhân tố nội tại tác động đến nợ xấu tại Agribank 2009-2013 bao gồm Cơ chế kiểm soát tín dụng, Cơ chế đánh giá rủi ro tín dụng, Tăng trưởng tín dụng vượt mức, Định hướng tín dụng, Lãi suất và Điều khoản tín dụng. Kết quả phân tích hồi quy bội cho thấy mức độ tác động của các nhân tô này đến nợ xấu lần lượt tương ứng là 0,291; 0,259; 0,221; 0,182; 0,149; 0,135 Trong nghiên cứu của mình, nhóm tác giả Bùi Duy Tùng và Đặng Thị Bạch Vân (2015) đã sử dụng phương pháp đữ liệu bảng động dé đánh giá ảnh hưởng của các yếu tô nội tại đến nợ xấu của các NHTM Việt Nam (số lượng 25 ngân hàng) giai đoạn 2004-2014.
Sau khi xử lý GMM 02 bước với biến vĩ mô làm biến kiểm soát, kết quả cho thay nợ xâu của NHTM Việt Nam chịu tác động bởi các yêu tố nội tại như: chất lượng quản trị (-), rủi ro đạo đức (-), phù hợp với cơ sở lý thuyết. Riêng mức độ kiểm soát của chủ sở hữu, nghiên cứu phát hiện dấu của các hệ số ngược so với lý thuyết. Ngoài ra, tác giả chưa tìm thay bằng chứng cho thấy đa dang hóa hoạt động có thé làm giảm tỷ lệ nợ xấu. Cùng đối tượng nghiên cứu là nợ xấu tại các NHTM, Nguyễn Thị Hồng Vinh (2015) phân tích các yếu tố tác động đến nợ xấu của hệ thống NHTM Việt Nam (sốlượng 22 ngân hàng) giai đoạn 2007-2014 bằng 03 mô hình ước lượng đữ liệu bảng là hiệu ứng cố định FE, phương pháp momen tổng quát GMM dang sai phân va GMM dạng hệ thống.
Kết quả thu được cho thấy khả năng sinh lời và tăng trưởng kinh tế là 15 những yếu tố chính tác động ngược chiều đến nợ xấu. Ngoài ra, nợ xấu trong quá khứ, quy mô ngân hàng, tăng trưởng tín dụng thì tác động cùng chiều với nợ xấu.