Chương 1: Giới thiệu đề tài Giới thiệu đối tượng nghiên cứu, tính cấp thiết của đề tài, mục tiêu tổng quát và cụ thể của công trình, tìm ra câu hỏi để nghiên cứu, xác định ra chủ thể và khuôn khổ công trình nghiên cứu, cách thức tiến hành nghiên cứu và cách trình bày của khóa luận. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu Trình bày khái niệm nợ xấu và quy định về phân loại nợ xấu ở Việt Nam và các nước khác. Giới thiệu các nhân tố nghi ngờ gây ra nợ xấu dựa và các công trình thực tiễn đã được nghiên cứu trong và ngoài nước về các nhân tố ảnh hưởng đến nợ xấu của hệ thống ngân hàng tại Việt Nam. Chương 3: Phương pháp tiến hành nghiên cứu Đề xuất mô hình đùng để nghiên cứu dựa trên các công trình thực nghiệm và đưa ra các giả thuyết cùng các phân tích về ảnh hưởng của các biến tác động nợ xấu tại các ngân hàng ở Việt Nam.
Chương 4: Kết quả sau nghiên cứu và thảo luận Qua các mô hình nghiên cứu từ chương trước, tác giả thống kê diễn giải các biến trong mô hình, sau đó chỉ ra mối quan hệ giữa các mô hình, đồng thời xem xét 6 các giả thuyết hồi quy, kiểm tra bằng cá kiểm định để tìm ra mô hình thích hợp. Các thảo luận sẽ được đưa ra, từ đó mô hình xác định và đánh giá mức độ tác động của các nhân tố đến nợ xấu. Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách Các hàm ý chính sách cùng với ý kiến khuyến nghị của tác giả sau khi tiến hành nghiên cứu mô hình. Những hạn chế phát sinh sau nghiên cứu mô hình và tìm kiếm hướng nghiên cứu tiếp theo.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ NỢ XẤU 2. LÝ THUYẾT VỀ NỢ XẤU Mục tiêu bài nghiên cứu xác minh các yếu tố ảnh hưởng đến nợ xấu trong hệ thống ngân hàng thương mại và nêu ra một số ý kiến chính sách và đề nghị để quản lý và giảm thiểu nợ xấu trong hệ thống các ngân hàng thương mại ở Việt Nam. Định nghĩa nợ xấu Vấn đề nợ xấu luôn là vần đề đau đầu của các quốc gia nhất là đối với giới điều hành ngân hàng, các nhà làm luật và giới học thuật trên toàn thế giới. Non- Performing loans, hay gọi là “nợ xấu” có thể định nghĩa bằng nợ khó đòi (Fofack, 2005), hoặc các khoản tín dụng có vấn đề (Berger và De Young, 1997).
Các khoản nợ không có khả năng trả (trong tiếng anh là defaulted loans) cũng có thể được định nghĩa là nợ xấu, ngân hàng không thể thu được lợi nhuận từ các khoản cho vay này. Định nghĩa của AEG (2014) cùng với Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) và Liên hợp quốc cho rằng “ một khoản nợ được coi là nợ xấu khi quá hạn trả lãi và/hoặc gốc trên 90 ngày hoặc các khoản lãi chưa trả từ 90 ngày trở lên đã được nhập gốc, tái cấp vốn hoặc chậm trả theo thỏa thuận; hoặc các khoản phải thanh toán đã quá hạn dưới 90 ngày nhưng có lý do chắc chắn để nghi ngờ về khả năng khoản vay sẽ được thanh toán đầy đủ”. Trung Quốc và các quốc gia khác đều áp dụng định nghĩa này của IMF. Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng (BCBS) định nghĩa về nợ xấu không đề cập đến thời gian chậm trả nợ, ở một số quốc gia áp dụng thời gian từ 30-89 ngày, 90-179 ngày hoặc trên 180 ngày.
Thay vào đó là định nghĩa “khoản nợ đã quá hạn và ngân hàng thấy người vay không có khả năng trả nợ đầy đủ khi ngân hàng chưa thực hiện hành động gì để cố gắng thu hồi”. Trên thế giới, nhiều quốc gia có khái niệm nợ xấu không hoàn toàn thống nhất. Hiện nay, có nhiều quan điểm về khái niệm này của các tổ chức bên cạnh quan niệm của riêng các nước. IMF (2014) quan niệm về nợ xấu được theo tiêu chí 8 đó là thời gian quá hạn hơn 90 ngày hoặc khả năng trả nợ kém, nghĩa là nợ xấu được tính theo thời gian chậm trả và tiềm lực thanh toán của khách hàng suy giảm.
Khách hàng không trả đủ hoặc hoàn toàn không trả được nợ cũng được định nghĩa như trên. Như vậy, IMF nêu quan điểm về nợ xấu dựa trên thời gian chậm trả cùng với hiệu quả thu nợ của ngân hàng. Trên thế giới, đây cũng được cho rằng là định nghĩa phổ biến nhất. Theo Chuẩn mực Kế toán quốc tế (IAS), nợ xấu định nghĩa là các khoản nợ bị giảm giá trị (impaired), thay vì sử dụng thuật ngữ nợ xấu (non-performing).
Quy định kế toán IAS 39 được sử dụng ở các nước có nền kinh tế lớn từ 2005, cho rằng phải có dấu hiệu rõ ràng để có thể nói rằng giá trị một khoản tín dụng bị giảm. Khi giá trị một khoản tín dụng bị suy giảm, thì cũng bị giảm giá trị tài sản do chất lượng bị thiệt hại của khoản vay đó. Nhìn chung, chuẩn IAS tập trung vào khả năng có thể trả nợ của các khoản tín dụng, chứ không cần chúng phải quá hạn hơn 90 ngày hay chưa bị quá hạn. Để biết được khả năng trả nợ của khách hàng phải xem xét dòng tiền lưu động hoặc đánh giá theo xếp hạng tín dụng của khách hàng.
Kỹ thuật này về mặt lý thuyết được coi là chính xác, nhưng vấp phải nhiều khó khăn khi đưa vào áp dụng thực tế. Thông tư 02/2013/TT-NHNN do Ngân hàng nhà nước ban hành ngày 21/01/2013 có các quy định chi tiết quy định trích lập dự phòng rủi ro, mức trích, phân loại tài sản và dùng khoản dự phòng để xử lý các khoản rủi ro. quy định các khoản nợ mà một phần hoặc toàn bộ nợ gốc và/hoặc lãi đã quá hạn được gọi là các khoản nợ quá hạn. Theo thông tư trên, các khoản vay được chia làm 5 nhóm nợ, trong đó nợ nhóm 3 (còn gọi là nợ dưới tiêu chuẩn) gọi là nợ xấu (NPL), nhóm 4 gọi là là nợ nghi ngờ, nhóm 5 được gọi là nợ có khả năng mất vốn.
Thông tư 02 định nghĩa nợ xấu theo 2 ý là nợ bị chậm trả trên 90 ngày và khả năng tài chính của chủ thể vay vốn. Chỉ tiêu đo lường nợ xấu thông dụng của một NHTM là tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ. Vì vậy, nghiên cứu này sử dụng khái niệm nợ xấu của Việt Nam và giá trị 9 nợ xấu, cũng như tổng dư nợ trong các báo cáo chính thức của các NHTM để tính tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ trong việc thực hiện nghiên cứu định lượng. Phân loại các nhóm nợ Các ngân hàng có những quy định riêng về phân loại nợ.
Đó là quá trình ngân hàng xem xét các khoản tín dụng và xếp chúng vào các danh mục khác nhau, nhóm khác nhau nhưng có chung dạng rủi ro và tương thích với nhau. Điều này cho phép các ngân hàng quản lý chất lượng danh mục cho vay của họ và, nếu cần, thực hiện các bước để xử lý các vấn đề xảy ra khi chất lượng các khoản vay sụt giảm. Trong thực tế có nhiều bất cập xảy ra khi tiến hành phân loại nên hiện nay các nước trên thế giới sở hữu nhiều cách phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro. Để thống nhất về cách phân loại và trích dự phòng giữa các quốc gia, Ủy ban Basel đưa ra các hướng dẫn và nguyên tắc quan trọng, nhưng không phải là một hệ thống phân loại hoặc một phương pháp tiêu chuẩn hóa để đánh giá nợ hoặc rủi ro tín dụng.
Các quốc gia khác nhau có tiêu chí phân loại nợ khác nhau. Để so sánh các quốc gia phát triển, tác giả đã thu thập các quy định phân loại nợ của từng nước. Một số nước như Đức, Hoa Kỳ có cách phân loại nợ rõ ràng, Nếu các quốc gia không có sự quản lý chi tiết, sẽ lập ra các cơ quan giám sát ngân hàng để tạo ra chuẩn mực quy tắt cho toàn hệ thống khi phân loại nợ. Ở Anh và Hà Lan, không có quy định phân loại nợ cụ thể nào, các ngân hàng tự xây dựng quy định quản trị rủi ro, và tự cải thiện bộ tiêu chí xếp hạng tín dụng.
Các cơ quan kiểm toán có trách nhiệm giám sát quá trình phân loại nợ của các ngân hàng và can thiệp kịp thời khi phát hiện có dấu hiệu rủi ro. Đối với Pháp và cả Ý đã xây dựng hệ thống quy định chung để phân loại các khoản nợ nguy cơ trở xấu, nhưng nhìn chung vẫn chưa có chi tiết về phân loại nợ cụ thể.1 Quy định về phân loại nợ và tỷ lệ trích lập dự phòng ở các nước Số nhóm Quốc gia Quy định dự phòng Chi tiết nợ Gồm có bốn nhóm: nợ xấu, cho Dự phòng chi Đức 4 vay không có rủi ro, nợ đã có dấu tiết333333333333333 hiệu không thu hồi, cho vay có 10 dấu hiệu rủi ro Không ban hành qui định chi tiết Ý 5 về trích lập dự phòng Chỉ trích lập tỷ lệ dự phòng cho 3 Nhật Bản 5 Dự phòng chi tiết nhóm cuối với tỷ lệ: 15%, 70%, 100% Xây dựng 9 nhóm nợ và tỉ lệ dự phòng tương ứng, gồm: AA (0%), Brazin 9 Dự phòng chi tiết A (0,5%), B (1%), C (3%), D (10%), E (30%), F(50%), G (70%), H (100%) Chỉ có quy định chung, không có Hoa Kỳ 5 quy định cụ thể về trích lập dự phòng Xây dựng 5 nhóm nợ và tỉ lệ dự Dự phòng tổng quát Achentina 5 phòng tương ứng, gồm là 1%, và dự phòng chi tiết 3%, 12%, 25%, 50% Chỉ có quy định chung, không có Australia 5 quy định cụ thể về trích lập dự phòng Xây dựng 5 nhóm nợ và tỉ lệ dự Dự phòng tổng quát Trung Quốc 5 phòng tương ứng, gồm là 1%, và dự phòng chi tiết 3%, 25%, 75%, 100% Xây dựng 2 loại gồm có bảo đảm Dự phòng tổng quát hoặc không có bảo đảm với các Ấn Độ 4 và dự phòng chi tiết yêu cầu dự trữ linh hoạt khác nhau. Xây dựng 7 nhóm theo mức độ rủi ro của ngành và quá trình thanh toán, rủi ro tài chính, rủi ro Mehico 7 quốc gia. Chia làm 7 nhóm A-1 (0,5%); A-2 (0,99%), B (1-20%); C-1 (20%-40%), C-2 (40%-60%); D (60-90%); và nhóm E (100%) Quy định tỷ lệ dự phòng cho các Singapo 5 Dự phòng chi tiết hạng thấp nhất là 10%, 50%, 100% 11 Quy định tỷ lệ dự phòng cho các Dự phòng tổng quát Nga 4 hạng thấp nhất là 20%, 50%, và dự phòng cụ thể 100%.