CHƯƠNG 1. CO SỞ KHOA HOC VE KHÔNG GIAN CÔNG CÔNG ĐÔ THỊ VÀ CHÁT LƯỢNG CỦA CUỘC SÓNG NGƯỜI DÂN ĐÔ THỊ 1. Tổng quan về không gian công cộng 1. Khái niệm của không gian công cộng Khái niệm KGCC là là một khái niệm phức tạp, đa chiều và không có một định nghĩa chung, phổ quát toàn cầu về nó.
Theo quan điểm phương Tây, KGCC liên quan đến khái niệm “quyên tiếp cận và loại trừ” tới các không gian đó. Mặc dù KGCC bao gồm khía cạnh về không gian và xã hội nhưng khía cạnh xã hội được nhắn mạnh trong các định nghĩa và khái niệm. Irvin và Erwin lập luận rằng KGCC là không gian mà mọi người đều có quyền sử dụng bat kế địa vị xã hội hay điều kiện kinh tế, không liên quan về tuổi tác, giới tinh, sắc tộc và quyền này được hiến pháp và pháp luật bảo vệ. Đó là những không gian thực sự là của chung, của tất cả mọi người.
Từ thập niên 60 của thế kỷ trước, Hannah Arendt cho rằng KGCC là nơi mà mọi người gặp gỡ, giao lưu, tiếp xúc và trò chuyện, đây là điều kiện cần thiết đối với một xã hội dân chủ. Có nghĩa là, KGCC là nơi mà bắt kỳ ai cũng có thể đến, là nơi hầu hết các hoạt động được diễn ra tự phát chứ không phải được lên kế hoạch trước, và nơi mọi người có thé giao tiếp, kết nối hoặc đơn giản là đi qua hoặc ngôi và quan sát những người khác. đã nhấn mạnh vai trò xã hội của KGCC và nhận định rằng KGCC là một lĩnh vực thiết yếu mang lại cơ hội cho các cá nhân và cộng đồng phát triển, đồng thời làm phong phú đời sống của họ. Ông xác định bốn vai trò xã hội của KGCC: (1) là diễn đàn cho đời sống công cộng; (2) là nơi gặp gỡ của các nhóm xã hội khác nhau; (3) là nơi hiển thị các biểu tượng và hình ảnh trong xã hội; (4) là một phần của hệ thống truyền thông về các hoạt động đô thị.
KGCC tốt tạo ra một sân chơi để người dân tham gia và đối thoại, tạo ra môi trường lý tưởng cho các cuộc gặp gỡ tự phát hoặc được định trước, có được trải nghiệm đa dạng về các cách ứng xử, tương tác, sự tin cậy. Theo Jan Gehl, thì một KGCC tốt cần có 4 tiêu chí bao trùm: Khả năng tương tác xã hội (sociability); công năng và hoạt động (uses and activities); sự tiện nghi và hình anh đô thi (comfort and image); và cuối cùng là khả năng tiếp cận, kết nối (accessibility and connectivity). KGCC luôn gắn với thiên nhiên, là không gian mở và không gian giao tiếp có liên quan đến sự thay đổi về văn hóa thị dân trong thời kỳ hậu hiện đại, mang tầm quan trọng của xã hội nhân văn với con người đô thị cởi mở hơn, sáng tạo hơn và sống tốt hơn, do Vậy có sức hấp dẫn các nhà đầu tư, những người tài năng đến tương tác. Không gian công cộng được hiểu theo nghĩa này là hoàn toàn ngược lại với không gian riêng tư nơi có tính sở hữu, bi giới hạn bởi quyên lực hoặc sự kiêm soát nào đó.
Đồng thời, không gian công cộng cũng ngụ ý chỉ những không gian cộng đồng, thuộc về một khu vực cộng đồng nào đó và được sử dụng thường xuyên bởi nhóm cộng đồng cư dân nào đó. Ví dụ như là các khu chung cư không có hoặc có cổng rào; không gian đình, chia của nhóm cộng đồng người trong cùng một khu vực làng, xã,.hoặc khu vườn dao của một khu vực đơn vi ở nào đó đều là không gian công cộng được dùng chung bởi một cộng đồng nào đó. Khái niện KGCC trong các cơ sở pháp lý về quy hoạch, thiết kế và quản lý do thị ở Việt Nam Xem xét trên góc độ quản lý nhà nước, KGCC chưa được chính thức định nghĩa, đề cập hay quy định cu thé gì trong hiến pháp, pháp luật nói chung va các quy chuẩn quy phạm kỹ thuật về quy hoạch kiến trúc nói riêng. Khái niệm KGCC đầu tiên xuất hiện trong Nghị định số 38/2010/NĐ-CP của Chính phủ (Trích dẫn vào Tài liệu tham khảo) về quản lý không gian, kiến trúc, cảnh quan đô thị (gọi tắt là Nghị định 38/2010).
Nghị định 38/2010, tại Điều 9 Mục 1 có đề cập tỷ lệ tối thiểu về cây xanh, đất dành cho không gian công cộng, và tại Điều 11: Quy định đối với cảnh quan tuyến phố, trục đường, quảng trường, Mục | có đề cập đến tạo lập các không gian công cộng, cảnh quan đô thị và nâng cao chất lượng, môi trường đô thị. Tuy nhiên, KGCC là những loại hình không gian nào thì lại không được định nghĩa và mô tả trong Nghị định 38 này. Thông tư số 22/2019/TT-BXD ban hành Quy chuẩn kỹ thuật Quốc Gia về Quy hoạch xây dựng, tại mục 1. Đất cây xanh đô thị, có chú thích Đất cây xanh sử dụng công cộng trong đô thị là đất công viên, vườn hoa, sân chơi, đảm bảo tiếp cận của người dân.
Như vậy, trong Quy chuẩn Quốc Gia về QHXD, KGCC không được định nghĩa trực tiếp mà được gián tiếp đề cập là các không gian xanh sử dụng công cộng như công viên, vườn hoa, sân chơi. Tiếp cận từ góc độ xã hội, KGCC được xem là các không gian cho phép thoả mãn nhu cầu tương tác, chia sẻ, gặp gỡ, giải trí, tìm kiếm sự thư giãn thoải mái của các cá thé trong xã hội trong sự hoà mình vào xã hội. Các KGCC này có thể nhận bất cứ hình thức gì, nó có thé là một công viên, một quán trà hoặc café dân dã hay thậm chí là một vỉa hè, một khoảng trống giữa các công trình và không liên quan đến hình thức sở hữu cũng như hình hài của không gian đó. Với loại KGCC này, yếu tố “xã hội” trở thành cốt tủy của không gian: là môi trường cho các sinh hoạt, tương tác của đời sống xã hội được diễn ra.
Tại Việt Nam, các KGCC này được gọi là các KGCC phi chính quy, nhưng lại có vai trò quan trọng trong đời sống đô thị. Không gian đường phố là KGCC phi chính quy phổ biến nhất tại các đô thị lớn tại Việt Nam, thé hiện rõ nét nhất lối sống, văn hoá, đặc trưng kiến trúc cảnh quan đô thị của thành phố. - Đôi tượng và mục tiêu của không gian công cộng Không gian công cộng mở cửa cho tất cả mọi người, bất kể nguồn gốc dân tộc, tuổi hoặc giới tính, và như vậy chúng đại diện cho một nên dân chủ diễn dan cho công dân và xã hội. Khi được thiết kế hợp lý và được chăm sóc, chúng kết nối mọi người lại với nhau thành một cộng đồng, cung cấp nơi gặp gỡ và thúc day các mối quan hệ xã hội thuộc loại có đang biến mất ở nhiều khu đô thị.
Những không gian này định hình bản sắc văn hóa của một khu vực, là một phần của nhân vật độc đáo và cung cấp một cảm giác về vị trí cho địa phương các cộng đồng. Quy định về thiết kế đô thị và không gian công cộng Hiện nay chất lượng của các không gian công cộng (KGCC) giữ vai trò không nhỏ trong việc quyết định chất lượng cuộc sống của mọi người dân trong khu đô thị. Những không gian này là một trong các thành phần chức năng thiết yếu, quan trọng dé đáp ứng nhu cầu nghỉ ngơi thư giãn, vui chơi, giải trí, sinh hoạt cộng đồng và tương tác xã hội. Theo Thông tư 01/2021/TT-BXD Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về Quy hoạch xây dựng: Mục 1.4 Giải thích từ ngữ.
Khái nệm KGCC không được nhắc đến trực tiếp, nhưng có mục “Đất cây xanh đô thị” là một trong các loại “khu chức năng” trong đô thi. Điều này ám chỉ các KGCC, nhưng thé hiện là các KGCC có tính chat thiên nhiên (cây xanh vườn hoa) hơn là các KGCC mang tính chất xã hội.3 Yêu cầu về các công trình dịch vụ - công cộng 2.1 Phân cấp các công trình dịch vụ - công cộng - Hệ thống công trình dịch vụ - công cộng được phân thành 3 cấp: cấp vùng, cấp đô thị, cấp đơn vi ở. Tùy theo vi trí, quy mô, tính chất từng đô thị, việc quy hoạch các đô thị phải đảm bảo bố trí các công trình dịch vụ - công cộng cấp vùng, cấp đô thị, cap đơn vi ở; - Quy mô các công trình dịch vụ - công cộng phải xét đên nhu câu của các khu vực lân cận và các đôi tượng là dân sô vãng lai.2 Quy định về hệ thống công trình dịch vụ - công cộng cấp đô thị Hệ thống công trình dịch vụ - công cộng cấp đô thị phải phù hợp với quy định trong Bảng 2.3: Quy mô tối thiểu của các công trình dịch vụ - công cộng cấp đô thị Chỉ tiêu sử dụng công trình| Chỉ tiêu sử dụng đất tối Loại công trình tối thiểu A. Trường trung học | học sinh /1 000.
40 m”/1 hoc sinh phô thông người ˆ " giường/1000 "¬ ˆ 2. Bệnh viện đa khoa và m”/giường bệnh người C. Văn hóa - Thể dục thé thao m”/người 3. Sân thể thao cơ bản ha/công trình 5.
Trung tâm Văn hóa - Thé thao ha/công trình 6. Nhà văn hóa (hoặc x vẻ `. a, chd/1 000 người ha/công trình Cung văn hóa) 7. Nhà thiếu nhi (hoặc chỗ/ 1 000 người ha/công trình Cung thiếu nhi) D.
Thương mại CHÚ THÍCH 2: Khuyến khích bó trí kết hợp các thiết chế văn hóa - thé dục thé thao trong một công trình hoặc cụm công trình. Quy mô các công trình dịch vụ - công cộng cấp đô thị khác (bé bơi, thư viện, bảo tàng, rạp xiếc, rạp chiếu phim, nh hát. ) được tính toán phù hợp với nhu cầu của từng đô thị.3 Quy định về hệ thông công trình dịch vụ - công cộng cấp đơn vị ở - Các công trình dịch vụ - công cộng cấp đơn vị ở cần đảm bảo bán kính phục vụ không quá 500 m. Riêng đối với khu vực có địa hình phức tạp, mật độ dân cư thấp bán kính phục vụ của các loại công trình này không quá 1 000 m; - Hệ thống công trình dịch vụ - công cộng cấp đơn vị ở phải phù hợp với Bảng 2.4: Quy mô tối thiểu của các công trình dịch vụ - công cộng cấp đơn vị ở Chỉ tiêu sử dụng công trình|Chỉ tiêu sử dụng đất tối 1.
Trường mầm non A oi {50 12 ?/1 cháu 4. Trạmy tế trạm 1 Im”/trạm 500 D. Thương mai CHÚ THÍCH 1: Các đô thị miền núi, khu vực trung tâm các đô thị có quỹ dat hạn| chế cho phép áp dụng chỉ tiêu sử dụng đất trung tâm văn hóa - thé thao tối thiểu là 2 500 m”/công trình.