mở đầu của giai đoạn điều tra. Tuy nhiên không phải bất cứ trường hợp nào sau khi có tin báo, tố giác về tội phạm, Cơ quan điều tra cũng đều ra quyết định khởi tố vụ án hình sự. Nhiều trường hợp sau khi kiểm tra xác minh, Cơ quan điều tra xác định không có tội phạm xảy ra nên đã ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự. Đây cũng là văn bản kết thúc giai đoạn khởi tố vụ án hình sự nhưng với văn bản này sẽ không có giai đoạn tiếp theo của quá trình tiến hành tố tụng, tức không có giai đoạn điều tra vụ án vì không có vụ án xảy ra.
Giai đoạn khởi tố vụ án hình sự được bắt đầu từ khi Cơ quan điều tra nhận được tin báo, tố giác về tội phạm. Các tin báo, tố giác về tội phạm có thể được gửi đến các cơ quan chức năng để báo cho Cơ quan điều tra hoặc gửi trực tiếp cho Cơ quan điều tra. Theo quy định của BLTTHS năm 2003 thì Cơ 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com quan điều tra là cơ quan duy nhất có thẩm quyền kiểm tra xác minh tin báo, tố giác về tội phạm. Viện kiểm sát sau khi tiếp nhận tin báo, tố giác về tội phạm do công dân hoặc cơ quan, tổ chức chuyển đến hoặc kiến nghị khởi tố do cơ quan nhà nước chuyển đến phải có trách nhiệm chuyển đến Cơ quan điều tra có thẩm quyền.
Trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày nhận được tin báo, tố giác về tội phạm hoặc kiến nghị khởi tố, Cơ quan điều tra trong phạm vi trách nhiệm của mình phải kiểm tra, xác minh nguồn tin và quyết định việc khởi tố hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự. Trong trường hợp có nhiều tình tiết phức tạp hoặc phải kiểm tra, xác minh tại nhiều địa điểm thì thời hạn để giải quyết tố giác và tin báo có thể dài hơn, nhưng không quá hai tháng. Như vậy thời hạn kiểm tra xác minh của giai đoạn khởi tố vụ án hình sự là không quá 2 tháng và giai đoạn này được kết thúc khi Cơ quan điều tra ra quyết định khởi tố hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự. Việc khởi tố vụ án hình sự không phải thuộc thẩm quyền duy nhất của Cơ quan điều tra mà có thể do các cơ quan chức năng khác cũng có quyền ra quyết định khởi tố.
Cụ thể là: - Khi phát hiện những hành vi phạm tội đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự trong lĩnh vực quản lý của mình thì Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển có thẩm quyền ra quyết định khởi tố vụ án hình sự để tiến hành điều tra. - Các cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, trong khi làm nhiệm vụ của mình nếu phát hiện sự việc có dấu hiệu của tội phạm thì cũng có quyền khởi tố vụ án và tiến hành những hoạt động điều tra ban đầu trong thời hạn nhất định. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Viện kiểm sát ra quyết định khởi tố vụ án hình sự trong trường hợp Viện kiểm sát huỷ bỏ quyết định không khởi tố vụ án hình sự của các cơ quan có chức năng khởi tố vụ án hình sự và trong trường hợp Hội đồng xét xử yêu cầu khởi tố vụ án. - Hội đồng xét xử ra quyết định khởi tố hoặc yêu cầu Viện kiểm sát khởi tố vụ án hình sự nếu qua việc xét xử tại phiên toà mà phát hiện được tội phạm hoặc người phạm tội mới cần phải điều tra.
Từ những nội dung đã phân tích trên đây dưới góc độ chức năng nhiệm vụ của Cơ quan điều tra có thể đưa ra khái niệm về giai đoạn khởi tố vụ án hình sự như sau: “Giai đoạn khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn đầu tiên của quá trình tiến hành tố tụng, được bắt đầu từ khi có tin báo, tố giác về tội phạm gửi đến Cơ quan điều tra và được kết thúc khi Cơ quan điều tra ra quyết định khởi tố hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự”. Ngay sau khi có quyết định khởi tố vụ án hình sự, giai đoạn điều tra vụ án hình sự được bắt đầu. Nói cách khác, giai đoạn điều tra vụ án hình sự được bắt đầu sau khi có quyết định khởi tố vụ án hình sự. Trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự, Cơ quan điều tra được phép tiến hành các biện pháp điều tra cần thiết đã được quy định tại BLTTHS để phát hiện, thu thập, củng cố, bảo vệ và đánh giá chứng cứ, chứng minh tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội.
Các biện pháp điều tra mà BLTTHS quy định bao gồm: hỏi cung bị can; lấy lời khai người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án; đối chất; nhận dạng; khám xét (khám người, khám chỗ ở, chỗ làm việc, địa điểm); thu giữ thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm tại bưu điện; tạm giữ đồ vật, tài liệu khi khám xét; kê biên tài sản; khám nghiệm hiện trường; khám nghiệm tử thi; xem xét dấu vết trên thân thể; thực nghiệm điều tra; trưng cầu giám định. Không nhất thiết trong quá trình điều tra một vụ án, Cơ quan điều tra phải tiến hành tất cả 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com các biện pháp điều tra đã nêu trên. Tuỳ theo yêu cầu điều tra từng vụ án cụ thể, Cơ quan điều tra có thể áp dụng một vài biện pháp điều tra cần thiết trong tổng số các biện pháp điều tra nêu trên. Việc áp dụng biện pháp điều tra nào trước, biện pháp điều tra nào sau cũng tuỳ thuộc vào tình huống điều tra từng vụ án cụ thể.
Đối với từng biện pháp điều tra, khi tiến hành phải tuân theo đúng trình tự và thủ tục mà BLTTHS đã quy định, như chủ thể tiến hành, thành phần tham gia bắt buộc, trình tự các hoạt động khi tiến hành, việc lập biên bản về hoạt động điều tra … Vi phạm các trình tự, thủ tục nói trên đều có thể bị khiếu nại hoặc bị tố cáo. Các biện pháp điều tra nêu trên chỉ được tiến hành trong thời hạn nhất định tuỳ thuộc vào loại án, nói cách khác là tuỳ thuộc vào loại tội phạm mà Cơ quan điều tra đang tiến hành điều tra. Cụ thể là: Thời hạn không quá hai tháng đối với tội phạm ít nghiêm trọng, không quá ba tháng đối với tội phạm nghiêm trọng, không quá bốn tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng kể từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc điều tra. Trong trường hợp do tính chất phức tạp của vụ án cần phải gia hạn điều tra thì chậm nhất là 10 ngày trước khi hết hạn điều tra, Cơ quan điều tra phải có văn bản đề nghị Viện kiểm sát gia hạn điều tra.
Việc gia hạn điều tra cũng phải tuân thủ quy định của BLTTHS về thời hạn nhất định tuỳ theo từng loại tội phạm. Cụ thể là: Đối với tội phạm ít nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra một lần không quá hai tháng; đối với tội phạm nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra hai lần, lần thứ nhất không quá ba tháng và lần thứ hai không quá hai tháng; đối với tội phạm rất nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra hai lần, mỗi lần không quá bốn tháng; đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra ba lần, mỗi lần không quá bốn tháng. Việc xác định loại tội phạm đang điều tra được dựa trên cơ sở dấu hiệu 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tội phạm được thể hiện ở mặt khách quan theo quy định tại các điều cụ thể trong phần các tội phạm của Bộ luật hình sự. Mọi trường hợp vi phạm về thời hạn điều tra đều có thể bị cơ quan, tổ chức hoặc công dân khiếu nại hoặc tố cáo.
Trong quá trình điều tra vụ án hình sự, Cơ quan điều tra có quyền áp dụng, thay đổi hoặc huỷ bỏ các biện pháp ngăn chặn đối với các đối tượng cụ thể. Việc áp dụng, thay đổi hoặc huỷ bỏ các biện pháp ngăn chặn phải tuân thủ đúng quy định của BLTTHS như đối tượng áp dụng, thời hạn áp dụng, căn cứ, điều kiện áp dụng, trình tự, thủ tục áp dụng. Chẳng hạn, tạm giữ chỉ có thể được áp dụng đối với một trong 4 đối tượng, đó là người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt khi phạm tội quả tang, người bị bắt theo quyết định truy nã và người phạm tội ra tự thú hoặc đầu thú; tạm giam chỉ có thể được áp dụng đối với bị can, bị cáo phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, phạm tội rất nghiêm trọng hoặc bị can, bị cáo phạm tội nghiêm trọng, phạm tội ít nghiêm trọng mà Bộ luật hình sự quy định hình phạt tù trên hai năm và có căn cứ cho rằng người đó có thể trốn hoặc cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội. Khi áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam cần lưu ý một số đối tượng được hưởng chính sách nhân đạo của Đảng và nhà nước ta, đó là: bị can, bị cáo là phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi; bị can, bị cáo là người già yếu, người bị bệnh nặng mà nơi cư trú rõ ràng.
Đối với những người này mặc dù đủ điều kiện tạm giam theo quy định chung nhưng vẫn không bị tạm giam mà chỉ bị áp dụng biện pháp ngăn chặn khác. Họ chỉ có thể bị tạm giam nếu bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã của Cơ quan điều tra hoặc được áp dụng biện pháp ngăn chặn khác nhưng tiếp tục phạm tội hoặc cố ý gây cản trở nghiêm trọng đến việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc họ phạm tội xâm phạm an ninh quốc gia và có đủ căn cứ 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cho rằng nếu không tạm giam đối với họ thì sẽ gây nguy hại đến an ninh quốc gia. Mọi trường hợp áp dụng hoặc huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn không đúng đối tượng, không đúng thời hạn, không có căn cứ theo luật định đều có thể bị khiếu nại hoặc tố cáo.