CHƯƠNG 1 Hình thức của GDDS là cách thức thé hiện ý chí ra bên ngoài đưới dang vật chat nhất định của các chủ thé, là phương tiện để các bên ghi nhận những nội dung đã thỏa thuận. Với nguyên tắc của pháp luật dan sư là tự do thỏa thuận thì các chủ thé có quyền. lựa chọn hình thức của GDDS. Tuy nhiên, trong bối cảnh ngày có nhiéu tranh chap về GDDS xảy ra, Nhà nước đã quy định một số GDDS bắt buộc phải tuân thủ theo các hình.
thức nhật định để dim bảo quyền lợi của các bên tham gia giao dich cũng nlư những. chủ thê khác liên quan. Các GDDS có thé được thê hiện bang hai loại hình thức: hình thức phi văn bản và hình thức văn ban. Mỗi loại hình thức đều có những ưu, nhược điểm riêng nhưng chúng đều có ý nghia quan trong trên nhiều phương điện Những phân tích vệ ý nghĩa của hình thức GDDS khẳng định chúng đóng vai tro quan trọng nhưng không phải là yêu tổ duy nhất thé hién bản chất của GDDS.
Bởi vay, cần có su dung hòa giữa yêu tô hình thức và ý chí đích thực của các bên. 15 CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH CUA PHÁP LUAT HIEN HANH VỀ GIAO DICH DÂN SU PHAI TUAN THEO QUY ĐỊNH BAT BUỘC VỀ HÌNH THỨC 2. Các giao dich dan sự phải tuân theo quy định bắt buộc về hình thức Dé GDDS có hiệu lực, nó phải tuân thủ một số quy định bat buộc trong điệu 117 BLDS 2015, trong đó khoản 2 điều này quy định: “Hinh thức của GDDS là đâu kiện có hiệu lực của GDDS trong tường hợp luật có quy đỉnh”. Luật ở đây là Bộ luật Dân sự và các văn bản luật chuyên ngành So với BLDS 2005: “Hinh thức GDDS là đâu lận có hiệu lực của giao dich trong trường hợp pháp luật có quy đnh”9, BLDS 2015 điều chỉnh phạm vi các quy định bat buộc về hình tức hẹp hơn, không còn bị chi phối bởi các văn bản dưới luật nữa.
Điều này giúp các chủ thé GDDS có nhiéu lựa chon hơn. về bình thức của GDDS. Hiện nay, pháp luật quy định một số loại giao địch phải được lập thành văn bản thông thường văn bản có công chứng, chứng thực, đăng ky. Những giao địch đâu sự bắt buộc lập thành vin ban thông thường.
Hiện nay, chúng ta chưa đưa ra được ột khái niệm thống nhật về văn bản, dan đến1à chúng ta cũng clara có một khái niệm thông nhật vé hình thức văn bản của GDDS, tuy nhiên, chúng ta có thé hiểu được GDDS được xác lập dưới hình thức văn bản 1a việc ma các bên thể hiện nôi dung đã cam kết bằng ngôn ngữ trên một phương tiện mang tin hữu hình nhất định mà các chủ thé sau khi giao kết có thể đọc, lưu giữ và bao đảm được sự toàn vẹn nôi dung đã théa thuận Do có thé là một van ban viết tay trên giầy, hay một van bản được soạn thảo trên máy vi tính sau do được in ra giây GDDS thể hiện bằng văn bản đảm bảo sự thể hiện 16 rang ý chi của các bên cũng ninư nội dung mà các bên đã thỏa thuận với nhau, giúp các bên dé dang đối chiêu, theo dõi nội dung giao địch dé thực biên đúng đảm bảo quyên, lợi ích chính đáng của môi bên. Ngoài ra, hình thức văn bản cũng có thể trở thành chứng cứ khi các bên có sự tranh. chấp, vi đây lả hình thức có khả năng lưu giữ được ở trang thái gan như nguyên ven, trong một thời gian dài. Bởi vay, các GDDS quan trong, có giá trị lớn, có nội dung phức tap, hoặc có thời gian thực hiện lâu dai thì trường được các bên chon cách thé hiện bang van bản, so với hình thức miéng thì hình thức van bản là bằng chúng có giá trị chứng minh cao hơn rất nhiêu.
? Khoản2 Đầu 122 BLDS 2005 16 Theo khoản 2 Điều 119 BLDS 2015 vệ hình thức GDDS, “trường hợp luật quy đình GDDS phải được thé hiện bằng văn bản có công chứng chứng thực, đăng ký: thì phải trân theo guy định đó”. Bên canh đó, khoản2 điều 17 BLDS 2015 quy định “Hình thức của GDDS là diéu kiện có hiệu lực của GDDS trong trường hợp luật có quy đình” và không hệ để cập cụ thé tới thé thức văn bản. Với các quy định trên, yêu câu GDDS lập bằng văn bản chỉ là “điều kién có hiệu lực của GDDS trong trường hợp luật có quy định”. Tuy nhiên, để xác định như thé nao là điều kiên có hiệu lực thì lại chưa có văn ban phép luật nào quy định Da số các luật chỉ yêu cầu GDDS cân phải lập thành văn.
ban chứ chưa có ché tài là vô liệu nêu không tuân theo yêu câu về hinh thức nên rat kho để biết được rằng đó có phải yêu câu hình thức là “đều kiện có hiệu lực của GDDS” hay không 10 Theo quy định của BLDS 2015 và các luật chuyên ngành, có rất nhiều GDDS bắt buộc phải được lập thành văn bản như. - Hành vi pháp lý đơn phương. Di chúc (Điều 627, Điêu 628 và Điệu 629, trừ trường hop đặc biệt di chúc được lập theo hình thức miệng) - Các hop đồng dân su thông dụng Hop đẳng hợp tác (khoản2 Điều 504), việc bảo lưu quyền sở hữu tài sản được lập thành ban riêng hoặc ghi trong hợp đông mua bán. (khoản2 Điều 331), vay tin chap (Điêu 345), hợp đẳng mua trả châm Hoặc trả dan (khoản.
2 Điều 453), hợp đồng trao đổi tài sản (khoản2 Điều 455) - Các hợp đồng bảo đảm: BLDS năm 2015 quy định các hợp đồng ding mét tai sản để bảo đâm nhiéu nghia vụ phải lập thành văn bản. - Các hợp đồng thương mại: Luật Thương mại 2005 cũng rat coi trong hình thức hop đông nên nhiéu hợp dong thương mại đều bat buộc phổ: được lap bằng văn bản: hop đông mua bán hang hoa mà phép luật qui định phải lập bang văn bản (khoản 2 Điêu 24), hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tê (khoản2 Điều 27), hợp đồng dich vụ ma pháp luật quy định phải được lập thành văn bản (khoản 2 Điều 74), hợp đồng dich vụ khuyên. mai (Điêu 90), hop đông dich vu quảng cáo thương mại (Điều 110), hợp đông dich vụ trung bày, giới thiệu hàng hóa, địch vụ (Điều 124), hợp đông dịch vu tô chức, tham gia hôi chợ, triển lam thương mai (khoản 2 Điều 130), hợp đông đại điện cho thương nhân. Để hiểu rõ hon vì sao pháp luật quy định những loại GDDS trên phải được lập thành văn bản, tiễn hành phân tích một số loại giao địch sau: Hop đông hợp tác BLDS 2015 quy định bắt buộc về bình thức đối với hợp đông hợp tác tại khoản 2 Điều 504: “Hop đồng hop tác phải được lấp thành văn bản”.
Hoat động hợp tác là một dạng hoạt động kha pho biên trong đời sông kính tệ - xã hội, phù hợp với xu hướng phát triển tất yêu tại nước ta, theo đó, các bên tham gia hợp tác cần xác định rất nhiều nội dung như mục dich hợp tác, các chủ thê tham gia, việc phân chia nhiệm vụ sản xuất, lao đông lợi nhuận giữa các thành viên tổ hợp tác, quyền, nghĩa vụ giữa các thành viên và việc gia nhập, châm đứt tư cách thành viên Điều này doi hỏi hop đông hợp tác cân phải được thé hiện đưới một hình thức rõ ràng, phủ hợp nhằm thể hiên được tất cả những nội dung thöa thuận kế trên Hơn nữa, việc quy định về hình thức cho loại hợp đồng nay cũng có giá tri chứng cứ chắc chắn hơn khi xảy ra phát sinh Theo đó, luật có quy định: hop đồng hợp tác bat buộc phải được lập thành văn bản, đây là hình thức giúp các chủ thể tham gia hop tác dé dang xác đính quyền va ngiĩa vụ của mình nham thuận lợi hon cho việc thực hién Tuy nhiên, trong trường hợp nay, luật không có quy định cụ thể về chế tài néu các bên chủ thê không xác lâp hợp đồng hop tác bằng văn bản Dù vậy, khi đổi chiêu với quy định tại Điều 3 Nghị định so 77/2019/NĐ-CP ngày 10/10/2019 của Chính phủ về tô hợp tác có quy đính: “Hợp đồng hop tác do các thành viên tổ hợp tác tự thỏa thuận, được lập thành văn bản, có chữ lý của một trăm phần trăm (100%) thành viên tổ hợp tác ”. Theo quy định của Điều 401 BLDS 2015 về hiệu lực của hợp đông; “Hop đồng được giao kết hợp pháp có hiệu lực từ thời điểm giao kết trừ trường hop có théa thuận khác hoặc luật liên quan có quy đình khác ”, dan chiêu tới quy định tei Điều 400 BLDS 2015 về thời điểm giao kết hợp đông bằng văn bản “hỏi điểm bên sau cùng lạ vào văn bản hay bằng hình thức chấp nhận khác được thê hiện trên văn bản”. Như vay, chỉ khi tat cả thanh viên tô hop tác ký tên trên hợp dong hợp tác được lập thành van 18 bên thì hợp đồng hợp tác mới có hiệu lực pháp luật và tổ hợp tác mới có căn cứ dé hoạt đông. Do đó, nêu các thành viên tô hợp tác không xác lập hợp đồng hợp tác bằng văn bên thì không thé đáp úng quy định bắt buộc về thé thức của GDDS Hop đồng mua bán hang hóa quốc tê: Luật thương mai 2005 quy định tại khoản 2 Điều 27, hop đẳng mua bán hang hóa quốc tê bắt buộc phả: lập thành văn bản Trong bối cảnh nên kinh tế thé giới hiện nay đang phát triển theo xu hướng hội nhập toàn câu, các nước không ngừng thúc đây phát triển kinh tế, mé rồng thi trường, tăng cường hoạt đông hop tác với trước ngoài, thiệt lập mang lưới liên kết đa quốc gia, đây manh hoạt động kinh đoanh thương mai quốc té, tiên tới phát triển moi quan hệ hợp tác cùng có lợi.
Việt Nam cũng không phải ngoại lê, Đảng và Nhà nước ta dé cao chủ trương quốc tế hoá nén kinh tê, mở rộng phát triển nên kinh tê thi trường da dang hóa thanh phan, đa phương, da lĩnh vực dưới sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Và tất nhiên, cùng với một nên kinh tê phức hợp, việc giao lưu mua bán hàng hóa quốc tê cũng trở nên phức tạp, mi quan hệ thương mại quốc té dưới tác động trực tiếp của quy luật cạnh tranh không tránh khỏi những tranh chap. Sô vụ tranh chấp trong kinh doanh, thương mai quốc tê tăng qua các nếm và có xu hướng tăng cao trong những năm gân đây. Những tranh chap này ngày cảng trở nên da dang về loại hình, phức tạp về tính chat và quy mô.