Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong nền kinh tế thị trường cùng tiến trình toàn cầu hóa và tự do hóa thương mại, số lượng giao dịch dân sự (GDDS) được xác lập ngày càng gia tăng, kéo theo sự gia tăng của các tranh chấp phát sinh trong thực tiễn. Dù pháp luật dân sự tôn trọng nguyên tắc tự do thỏa thuận về hình thức thể hiện nội dung giao dịch, nhưng đối với các giao dịch có đối tượng giá trị lớn và tính chất phức tạp, việc không tuân thủ quy định bắt buộc về hình thức đã gây ra rủi ro pháp lý, thiệt hại cho các bên tham gia, người thứ ba và ảnh hưởng đến trật tự quản lý nhà nước.
Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2015 đã quy định điều kiện có hiệu lực về hình thức theo hướng thu hẹp phạm vi so với BLDS năm 2005, đồng thời bổ sung các cơ chế công nhận hiệu lực ngoại lệ. Tuy nhiên, việc áp dụng các điều khoản này tại các cơ quan tài phán vẫn bộc lộ nhiều điểm bất cập và vướng mắc kỹ thuật. Khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Pháp luật Dân sự của tác giả Lô Thị Lan Hương (Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2024, do PGS. Phạm Văn Tuyết hướng dẫn khoa học) tập trung nghiên cứu đề tài: "Giao dịch dân sự được xác lập mà vi phạm quy định bắt buộc về hình thức theo pháp luật Việt Nam".
Mục đích nghiên cứu của khóa luận là góp phần hoàn thiện hệ thống quy định pháp luật và nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp đối với GDDS vi phạm điều kiện hình thức. Tác giả xác định ba nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận chung về hình thức GDDS (khái niệm, ý nghĩa, thời điểm xác lập, thời điểm có hiệu lực, các trường hợp bắt buộc về hình thức và hậu quả pháp lý khi vi phạm).
- Đánh giá thực trạng quy định của pháp luật hiện hành và thực tiễn xét xử của cơ quan có thẩm quyền, từ đó chỉ ra những điểm bất cập, mâu thuẫn cần sửa đổi.
- Đề xuất các giải pháp, kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật và thực thi pháp luật đối với GDDS vi phạm quy định bắt buộc về hình thức.
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là các GDDS được xác lập nhưng vi phạm quy định bắt buộc về hình thức theo pháp luật Việt Nam hiện hành. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào các quy phạm của BLDS năm 2015, các văn bản luật chuyên ngành liên quan (Luật Đất đai năm 2013, Luật Nhà ở năm 2014, Luật Thương mại năm 2005, Luật Công chứng năm 2014) cùng thực tiễn xét xử thông qua các bản án, án lệ và tham khảo có chọn lọc kinh nghiệm pháp luật của một số quốc gia (Đức, Pháp, Nhật Bản, Thái Lan, Thụy Sĩ).
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng phương pháp luận duy vật biện chứng, kết hợp các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành luật học: phương pháp phân tích quy phạm pháp luật, phương pháp phân tích tài liệu lý luận, phương pháp phân tích bản án/án lệ, phương pháp lịch sử và phương pháp so sánh luật học nhằm làm rõ sự phát triển của chế định hình thức giao dịch qua các thời kỳ lập pháp (Pháp lệnh Hợp đồng dân sự năm 1991, BLDS năm 1995, BLDS năm 2005 đến BLDS năm 2015).
Nguồn cơ sở lý thuyết và tài liệu tham khảo của khóa luận bao gồm:
- Các giáo trình, công trình nghiên cứu chuyên khảo của các chuyên gia pháp lý dân sự: PGS.TS. Phạm Văn Tuyết (2007), PGS.TS. Đỗ Văn Đại (2015, 2016, 2017), TS. Lê Minh Hùng (2015), Tưởng Duy Lượng (2007, 2018), ThS. Bùi Đăng Hiếu (2001), Nguyễn Văn Cường (2002, 2005).
- Khung văn bản quy phạm pháp luật thực định: BLDS năm 2015 (các Điều 3, 117, 119, 129, 131, 132, 150, 400, 401, 504, 627–638); Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (Điều 91, Điều 94); Nghị định số 77/2019/NĐ-CP; Nghị định số 23/2015/NĐ-CP; các Nghị quyết hướng dẫn của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (Nghị quyết số 01/2003/NQ-HĐTP, Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP, Nghị quyết số 04/2019/NQ-HĐTP).
- Nguồn dữ liệu thực tiễn xét xử: Án lệ số 55/2022/AL (công bố theo Quyết định số 323/QĐ-CA ngày 14/10/2022 của Chánh án TANDTC); Bản án dân sự phúc thẩm số 01/2018/DS-PT ngày 24/01/2018 của TAND tỉnh Hà Tĩnh; Bản án dân sự phúc thẩm số 41/2011/DS-PT ngày 25/4/2011 của TAND tỉnh Khánh Hòa.
- Pháp luật quốc tế và so sánh: Điều ước quốc tế như Công ước Viên năm 1980 về mua bán hàng hóa quốc tế (CISG - Điều 11, Điều 96); quy định của Bộ luật Dân sự và Thương mại Thái Lan năm 1995 (Điều 115), BLDS Pháp (Điều 1108), BLDS Nhật Bản, BLDS Đức (Điều 566).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Một số vấn đề chung về giao dịch dân sự được xác lập nhưng vi phạm quy định bắt buộc về hình thức
Chương 1 làm rõ các vấn đề lý luận nền tảng về hình thức GDDS. Khái niệm hình thức GDDS được xác định là sự công bố ra bên ngoài ý chí của chủ thể thiết lập giao dịch để thể hiện và ghi nhận nội dung giao dịch theo những thủ tục nhất định dưới dạng lời nói, văn bản hoặc hành vi cụ thể, đồng thời là điều kiện có hiệu lực của GDDS trong trường hợp luật có quy định. Tác giả phân tích hai khuynh hướng lập pháp trên thế giới:
- Khuynh hướng coi hình thức là điều kiện bắt buộc, vi phạm sẽ dẫn đến vô hiệu (điển hình tại Đức, Thái Lan theo Điều 115 Bộ luật Dân sự và Thương mại Thái Lan năm 1995).
- Khuynh hướng coi trọng sự tự do hình thức, không xem hình thức là điều kiện chủ yếu quyết định hiệu lực hợp đồng (điển hình tại Pháp theo Điều 1108 BLDS Pháp, Nhật Bản).
Pháp luật Việt Nam kết hợp hài hòa hai khuynh hướng trên: thừa nhận tự do lựa chọn hình thức (bằng lời nói, hành vi cụ thể, văn bản thông thường, thông điệp dữ liệu điện tử theo khoản 1 Điều 119 BLDS năm 2015), nhưng bắt buộc tuân thủ hình thức cụ thể đối với một số giao dịch luật định. Ý nghĩa của hình thức GDDS được phân tích trên bốn phương diện:
- Thể hiện ý chí của chủ thể và gắn liền chặt chẽ với nội dung giao dịch.
- Là căn cứ xác định thời điểm xác lập và thời điểm có hiệu lực của giao dịch.
- Là cơ sở xác định hiệu lực pháp lý và giá trị đối kháng với người thứ ba.
- Là nguồn chứng cứ quan trọng trong tố tụng dân sự theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 91 và khoản 9 Điều 94 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Tác giả nhấn mạnh sự phân biệt giữa thời điểm xác lập và thời điểm phát sinh hiệu lực: một giao dịch có thể đã được các bên thỏa thuận xác lập về mặt thực tế nhưng chưa hoàn thành hình thức luật định (như thiếu công chứng, chứng thực đối với hợp đồng mua bán nhà ở theo khoản 1 Điều 122 Luật Nhà ở năm 2014) thì giao dịch đó chưa phát sinh hiệu lực pháp luật.
Chương 2: Quy định của pháp luật hiện hành về giao dịch dân sự phải tuân theo quy định bắt buộc về hình thức
Chương 2 phân tích thực trạng các quy phạm pháp luật thực định của Việt Nam điều chỉnh các nhóm GDDS bắt buộc về hình thức, các trường hợp ngoại lệ công nhận hiệu lực và chế định xử lý hậu quả pháp lý khi giao dịch vô hiệu.
| Nhóm giao dịch bắt buộc về hình thức |
Căn cứ pháp lý quy định |
Điều kiện hình thức cụ thể |
Hậu quả pháp lý nếu không tuân thủ |
| Giao dịch bằng văn bản thông thường |
- Khoản 2 Điều 504 BLDS 2015; Điều 3 NĐ 77/2019/NĐ-CP - Khoản 2 Điều 27 Luật Thương mại 2005 - Điều 627, 630, 631 BLDS 2015 |
Phải lập thành văn bản giấy hoặc thông điệp dữ liệu; di chúc nhiều trang phải đánh số thứ tự và có chữ ký/điểm chỉ từng trang. |
Hợp đồng không phát sinh hiệu lực; di chúc bị tuyên bố vô hiệu toàn bộ hoặc một phần. |
| Giao dịch bằng văn bản có công chứng, chứng thực |
- Khoản 1 Điều 122 Luật Nhà ở 2014 - Điểm a khoản 3 Điều 167 Luật Đất đai 2013 |
Phải được công chứng viên hoặc UBND cấp xã chứng nhận tính xác thực, hợp pháp theo Luật Công chứng 2014, NĐ 23/2015/NĐ-CP. |
Vô hiệu do vi phạm hình thức, trừ trường hợp được Tòa án công nhận theo Điều 129 hoặc hết thời hiệu theo Điều 132 BLDS 2015. |
| Giao dịch bằng văn bản và phải đăng ký |
- Điểm a khoản 3 Điều 167 Luật Đất đai 2013 - Khoản 2 Điều 467 BLDS 2015 |
Văn bản công chứng, chứng thực và thực hiện thủ tục đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng tại cơ quan có thẩm quyền. |
Giao dịch chưa phát sinh hiệu lực đối kháng hoặc vô hiệu; quyền sở hữu/sử dụng chưa được chuyển dịch hợp pháp. |
Tác giả đi sâu phân tích vụ án tranh chấp thừa kế tại Bản án dân sự phúc thẩm số 01/2018/DS-PT ngày 24/01/2018 của TAND tỉnh Hà Tĩnh (vụ việc anh Trần Văn Cận và anh Trần Minh Khai tranh chấp di sản của ông Trần Chưởng và bà Lương Thị Năm). Bản án cho thấy:
- Lời dặn miệng của ông Chưởng không đủ điều kiện là di chúc miệng hợp pháp theo Điều 629, Điều 630 và Điều 632 BLDS năm 2015 do người làm chứng là người thừa kế có quyền lợi liên quan và không có văn bản ghi chép chứng thực trong thời hạn 05 ngày.
- Bản di chúc lập ngày 29/01/2015 của bà Lương Thị Năm dù thể hiện ý chí minh mẫn nhưng gồm hai trang mà bà Năm chỉ điểm chỉ vào trang thứ hai, trang thứ nhất không có điểm chỉ hay chữ ký, do đó vi phạm khoản 3 Điều 631 BLDS năm 2015 và bị Tòa án tuyên không hợp pháp.
Đối với cơ chế cứu vãn hiệu lực của giao dịch vi phạm hình thức, BLDS năm 2015 ghi nhận hai ngoại lệ quan trọng:
- Công nhận hiệu lực khi đã thực hiện ít nhất 2/3 nghĩa vụ (Điều 129 BLDS năm 2015): Áp dụng cho trường hợp văn bản không đúng quy định (khoản 1) hoặc vi phạm quy định bắt buộc về công chứng, chứng thực (khoản 2). Tác giả phân tích Án lệ số 55/2022/AL (nguồn từ Bản án số 16/2019/DS-PT của TAND tỉnh Quảng Ngãi): hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất xác lập trước ngày 01/01/2017 chưa công chứng, chứng thực nhưng bên nhận chuyển nhượng đã thanh toán hoặc nhận bàn giao ít nhất 2/3 nghĩa vụ thì Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực.
- Công nhận hiệu lực do hết thời hiệu khởi kiện (khoản 2 Điều 132 BLDS năm 2015): Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố GDDS vô hiệu do vi phạm hình thức là 02 năm kể từ ngày xác lập; hết thời hạn này mà không có yêu cầu thì giao dịch có hiệu lực. Tác giả đối chiếu Bản án số 41/2011/DS-PT của TAND tỉnh Khánh Hòa, nơi Tòa án bác yêu cầu tuyên hợp đồng vô hiệu vì đã hết thời hiệu và công nhận giá trị pháp lý của hợp đồng chuyển nhượng.
Về giải quyết hậu quả pháp lý khi giao dịch vô hiệu do vi phạm hình thức, Điều 131 BLDS năm 2015 quy định:
- Giao dịch không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên từ thời điểm xác lập.
- Các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận bằng hiện vật hoặc trị giá thành tiền. Việc định giá tài sản áp dụng tinh thần Nghị quyết số 01/2003/NQ-HĐTP theo giá thị trường tại thời điểm xét xử sơ thẩm.
- Điểm mới tiến bộ so với khoản 2 Điều 137 BLDS năm 2005: Bên chiếm hữu ngay tình trong việc thu hoa lợi, lợi tức không phải hoàn trả lại hoa lợi, lợi tức theo quy định tại khoản 3 Điều 131 và Điều 180 BLDS năm 2015.
Chương 3: Một số bất cập của pháp luật về giao dịch dân sự vi phạm quy định bắt buộc về hình thức và kiến nghị hoàn thiện
Chương 3 tổng hợp các vướng mắc lý luận và thực tiễn thi hành, đồng thời đề xuất giải pháp lập pháp cụ thể:
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã hệ thống hóa toàn diện các luận cứ khoa học về chế định hình thức GDDS và làm rõ nguyên lý lập pháp của BLDS năm 2015: ưu tiên bảo vệ ý chí đích thực của các chủ thể, giảm thiểu việc tuyên bố giao dịch vô hiệu một cách máy móc chỉ vì khiếm khuyết hình thức.
Các đóng góp cụ thể của công trình gồm:
- Phân tích chi tiết sự chuyển biến pháp lý từ BLDS năm 2005 sang BLDS năm 2015: thu hẹp điều kiện bắt buộc về hình thức từ phạm vi "pháp luật quy định" xuống "luật quy định" (khoản 2 Điều 117), ghi nhận hình thức thông điệp dữ liệu điện tử (khoản 1 Điều 119), và bảo vệ quyền lợi của người chiếm hữu ngay tình đối với hoa lợi, lợi tức (khoản 3 Điều 131).
- Trích xuất và giải thích sâu sắc cơ chế công nhận hiệu lực giao dịch thông qua quy chuẩn thực hiện 2/3 nghĩa vụ tại Điều 129 và Án lệ số 55/2022/AL của Hội đồng Thẩm phán TANDTC.
- Sử dụng các vụ án thực tế (Bản án số 01/2018/DS-PT tại Hà Tĩnh, Bản án số 41/2011/DS-PT tại Khánh Hòa) để chứng minh khoảng cách giữa quy phạm pháp luật thực định và thực tiễn xét xử, tạo cơ sở thực tế cho các đề xuất sửa đổi lập pháp.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận giới hạn phạm vi khảo sát thực tiễn trong các tranh chấp điển hình liên quan đến đất đai, nhà ở và di chúc thừa kế; số lượng bản án phân tích tập trung chủ yếu vào các vụ án dân sự cụ thể tại cấp tỉnh và Án lệ số 55/2022/AL. Các quy định pháp luật chuyên ngành về hình thức trong lĩnh vực ngân hàng, chứng khoán hoặc bảo hiểm mới chỉ dừng lại ở mức độ liên hệ quy phạm.
Hướng nghiên cứu tiếp nối từ đề tài có thể mở rộng vào:
- Nghiên cứu cơ chế xác định và chứng minh việc thực hiện 2/3 nghĩa vụ đối với các hợp đồng dịch vụ phức tạp và hợp đồng có nghĩa vụ phi tài sản.
- Nghiên cứu sâu về giá trị pháp lý và các tiêu chuẩn bảo đảm tính nguyên bản, bảo mật của giao dịch dân sự điện tử (thông điệp dữ liệu số, hợp đồng thông minh trên nền tảng kỹ thuật số) trong bối cảnh chuyển đổi số tư pháp.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là tài liệu nghiên cứu hữu ích cho sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Luật Dân sự và Tố tụng Dân sự, các luật sư, thẩm phán, công chứng viên và cán bộ tư pháp tham gia giải quyết tranh chấp hợp đồng.
Nội dung có giá trị tham khảo nổi bật bao gồm:
- Phần luận giải về kỹ thuật áp dụng Điều 129 BLDS năm 2015 kết hợp với Án lệ số 55/2022/AL để bảo vệ hiệu lực của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất viết tay chưa công chứng.
- Phần phân tích các điều kiện khắt khe về hình thức của di chúc viết tay và di chúc miệng qua vụ án thực tiễn tại Hà Tĩnh, cung cấp bài học nghiệp vụ giá trị trong việc tư vấn lập di chúc và thẩm định chứng cứ thừa kế.
Câu hỏi thường gặp
1. Theo BLDS năm 2015, một giao dịch dân sự vi phạm quy định bắt buộc về hình thức có thể được công nhận hiệu lực trong các trường hợp nào?
Giao dịch dân sự vi phạm quy định bắt buộc về hình thức vẫn có thể phát sinh hiệu lực trong hai trường hợp luật định:
- Trường hợp 1 (Điều 129 BLDS năm 2015): Một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó (áp dụng cho cả giao dịch vi phạm hình thức văn bản theo khoản 1 và vi phạm hình thức công chứng, chứng thực theo khoản 2).
- Trường hợp 2 (khoản 2 Điều 132 BLDS năm 2015): Hết thời hiệu 02 năm kể từ ngày giao dịch dân sự được xác lập mà không có bất kỳ bên nào yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu thì giao dịch đương nhiên có hiệu lực pháp luật.
2. Tình huống pháp lý và giải pháp của Án lệ số 55/2022/AL là gì?
Án lệ số 55/2022/AL đặt ra tình huống hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được xác lập trước ngày 01/01/2017 (thời điểm BLDS năm 2015 có hiệu lực), chưa được công chứng hoặc chứng thực theo quy định nhưng bên nhận chuyển nhượng đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ của mình (như đã trả tiền hoặc đã nhận đất). Hội đồng Thẩm phán TANDTC quyết định Tòa án áp dụng tinh thần Điều 129 BLDS năm 2015 để công nhận hiệu lực của hợp đồng chuyển nhượng đó ngay trong bản án.
3. Vì sao bản di chúc của bà Lương Thị Năm trong Bản án số 01/2018/DS-PT của TAND tỉnh Hà Tĩnh bị tuyên bố không hợp pháp?
Bản di chúc lập ngày 29/01/2015 của bà Năm bị tuyên vô hiệu do vi phạm quy định bắt buộc về thể thức văn bản theo khoản 3 Điều 631 BLDS năm 2015. Di chúc gồm có hai trang nhưng bà Năm chỉ điểm chỉ vào trang thứ hai, trang thứ nhất hoàn toàn không có chữ ký hoặc dấu điểm chỉ của người lập di chúc, dù việc lập di chúc có người làm chứng và xác nhận của chính quyền địa phương.
4. BLDS năm 2015 đã thay đổi căn bản quy định xử lý hoa lợi, lợi tức khi giao dịch vô hiệu so với BLDS năm 2005 như thế nào?
Theo khoản 2 Điều 137 BLDS năm 2005, khi giao dịch vô hiệu, các bên phải khôi phục tình trạng ban đầu và hoàn trả cả hoa lợi, lợi tức thu được cho chủ sở hữu tài sản. BLDS năm 2015 đã khắc phục tính bất hợp lý này bằng cách tách quy định tại khoản 3 Điều 131: bên ngay tình trong việc thu hoa lợi, lợi tức không phải hoàn trả lại hoa lợi, lợi tức đã thu được, căn cứ theo tiêu chí chiếm hữu ngay tình tại Điều 180.
5. Khái niệm hình thức bắt buộc trong BLDS năm 2015 khác gì so với BLDS năm 2005?
Khoản 2 Điều 122 BLDS năm 2005 quy định hình thức là điều kiện có hiệu lực trong trường hợp "pháp luật có quy định" (bao gồm cả các văn bản dưới luật như Nghị định, Thông tư). Đến khoản 2 Điều 117 BLDS năm 2015, phạm vi này được thu hẹp lại thành "luật có quy định", nghĩa là chỉ những quy định trong các Bộ luật hoặc Luật do Quốc hội ban hành mới có quyền xác lập hình thức là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Lô Thị Lan Hương đã phân tích một cách có hệ thống cơ sở lý luận và thực tiễn thi hành chế định hình thức của giao dịch dân sự theo pháp luật Việt Nam. Công trình làm nổi bật tính ưu việt của BLDS năm 2015 trong việc chuyển dịch trọng tâm từ hình thức máy móc sang bảo vệ ý chí tự nguyện đích thực của các bên thông qua cơ chế công nhận hiệu lực ngoại lệ. Những kiến nghị hoàn thiện pháp luật về tiêu chí định lượng nghĩa vụ và sửa đổi điều kiện hình thức di chúc đưa ra trong khóa luận có giá trị ứng dụng cao cho công tác lập pháp và hoạt động xét xử thực tiễn.