Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Đất đai là tài nguyên thiên nhiên đặc biệt, nguồn lực phát triển quốc gia, bộ phận không thể tách rời của lãnh thổ và là tư liệu sản xuất quan trọng bậc nhất của môi trường sống. Trong bối cảnh phát triển của nền kinh tế thị trường và tiến trình đô thị hóa mạnh mẽ tại Việt Nam, nhu cầu về nhà ở và đất ở của người dân không ngừng gia tăng. Kéo theo đó, các giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở (CNQSDĐ ở) trở nên phổ biến, đồng thời phát sinh nhiều tranh chấp dân sự phức tạp.

Chế độ sở hữu đất đai tại Việt Nam quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý; người sử dụng đất không có quyền sở hữu đối với đất đai mà chỉ được Nhà nước trao quyền sử dụng đất (QSDĐ). Do đó, giao dịch đối với đất đai là chuyển nhượng QSDĐ chứ không phải mua bán đất. Mặc dù Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2015 và Luật Đất đai (LĐĐ) năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2018) đã thiết lập hành lang pháp lý điều chỉnh quan hệ này, quá trình thực thi và áp dụng pháp luật vẫn bộc lộ nhiều điểm nghẽn, vướng mắc và mâu thuẫn giữa các văn bản quy phạm pháp luật, làm ảnh hưởng đến tính an toàn pháp lý của giao dịch.

Khóa luận tốt nghiệp tại Trường Đại học Luật Hà Nội (năm 2023, do TS. Nguyễn Văn Hợi hướng dẫn) xác định hệ thống mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  • Mục đích nghiên cứu:
    1. Tổng hợp, phân tích và đánh giá chung về các hợp đồng CNQSDĐ ở dựa trên các giao dịch thực tế trên thị trường.
    2. Phân tích, đánh giá chi tiết và có hệ thống về mặt lý luận đối với các quy phạm pháp luật và tác động của các quy định đó vào quan hệ hợp đồng giữa bên chuyển nhượng và bên nhận chuyển nhượng.
    3. Rút ra bất cập, hạn chế trong quy định pháp luật và trong thực tiễn giao dịch; từ đó kiến nghị các cơ quan nhà nước có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật điều chỉnh.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu:
    1. Hệ thống hóa các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ CNQSDĐ ở.
    2. Đánh giá thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật và xu thế phát triển quan hệ xã hội làm cơ sở đề xuất sửa đổi, bổ sung văn bản pháp luật.
    3. Phân tích, đánh giá và cảnh báo các rủi ro pháp lý cho các chủ thể tham gia giao dịch.
    4. Nhận diện các bất cập của quy định pháp luật và thực tiễn giao dịch CNQSDĐ ở.
    5. Đưa ra các kiến nghị hoàn thiện pháp luật và giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện hợp đồng CNQSDĐ ở.
  • Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
    • Đối tượng nghiên cứu: Các văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực đất đai và dân sự điều chỉnh giao dịch CNQSDĐ ở; các quy định pháp luật qua các thời kỳ lịch sử; thực tiễn thi hành pháp luật về hợp đồng CNQSDĐ ở.
    • Phạm vi nghiên cứu: Tập trung vào các quy định pháp luật hiện hành điều chỉnh hợp đồng CNQSDĐ ở giữa các cá nhân với nhau, đi sâu vào bốn yếu tố cốt lõi: chủ thể, nội dung, hình thức và hiệu lực của hợp đồng.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng hệ thống luận cứ dựa trên khung pháp lý thực định của Việt Nam, kết hợp các công trình nghiên cứu chuyên sâu đã công bố:

  • Khung pháp lý và khái niệm nền tảng:
    • Văn bản luật thực định: BLDS năm 2015 (các Điều 16, 18, 19, 117, 120, 123, 124, 129, 132, 189, 277, 299, 321, 401, 410, 428–455, 500, 501, 502, 503); LĐĐ năm 2013 sửa đổi, bổ sung năm 2018 (các Điều 3, 4, 10, 167, 168, 169, 186, 188, 191); Luật Nhà ở năm 2014; Luật Công chứng năm 2014; Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (Điều 111, 112); Luật Thương mại; Nghị quyết số 18-NQ/TW; Nghị định số 43/2014/NĐ-CP; Nghị định số 163/2006/NĐ-CP; Nghị định số 01/2017/NĐ-CP; Thông tư số 28/2014/TT-BTNMT.
    • Văn bản pháp luật lịch sử: Sắc lệnh số 87/SL ngày 05/3/1952; Luật Cải cách ruộng đất năm 1953; LĐĐ các năm 1987, 1993, 2003 (sửa đổi 2009); BLDS các năm 1995, 2005.
    • Tài liệu kế thừa: Luận văn và luận án của các tác giả Hà Văn Tiền (2012), Nguyễn Hoài Nam (2013), Phạm Thị Thanh Vân (2015), Nguyễn Thùy Trang (2017), Vũ Hải Yến (2017), Phạm Văn Oanh (2017), Nông Viết Vỹ (2019) và nghiên cứu của Hồ Quang Huy (2017).
  • Phương pháp nghiên cứu: Tác giả sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học pháp lý bao gồm: phương pháp hệ thống hóa, phương pháp phân tích quy phạm, phương pháp tổng hợp, phương pháp so sánh luật học, phương pháp khảo sát thực tiễn xét xử và phương pháp tư duy logic.
  • Nguồn dữ liệu: Các văn bản quy phạm pháp luật, hồ sơ giao dịch thực tế, số liệu án văn giải quyết tranh chấp hợp đồng CNQSDĐ ở tại các cấp Tòa án nhân dân và các báo cáo chuyên ngành.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở

Chương 1 làm sáng tỏ hệ thống lý luận căn bản về hợp đồng CNQSDĐ ở từ định nghĩa, đặc điểm bản chất, ý nghĩa pháp lý, phân loại đến quá trình lập pháp qua các thời kỳ:

  • Khái niệm và đặc điểm pháp lý:
    • Khái niệm: Hợp đồng CNQSDĐ ở là sự thỏa thuận bằng văn bản giữa các bên, theo đó người sử dụng đất chuyển giao hợp pháp đất ở và QSDĐ ở cho người nhận chuyển nhượng, đồng thời người được chuyển nhượng trả tiền cho người chuyển nhượng và tuân thủ theo quy định của BLDS và pháp luật về đất đai.
    • 5 đặc điểm pháp lý cơ bản:
      1. Là hợp đồng song vụ: Cả bên chuyển nhượng và bên nhận chuyển nhượng đều có quyền và nghĩa vụ đối ứng; quyền của bên này là nghĩa vụ của bên kia. Hợp đồng phải lập thành nhiều bản có giá trị như nhau để đảm bảo quyền lợi.
      2. Là hợp đồng có đền bù: Thể hiện nguyên tắc trao đổi ngang giá trong giao lưu dân sự; bên chuyển giao QSDĐ nhận được khoản tiền tương ứng, khác biệt hoàn toàn với quan hệ thừa kế hay tặng cho.
      3. Có mục đích chuyển giao quyền sở hữu đối với tài sản: Mặc dù đất đai thuộc sở hữu toàn dân, nhưng đối với QSDĐ ở, bên nhận chuyển nhượng được toàn quyền sử dụng ổn định lâu dài. Đất ở và QSDĐ ở hòa nhập làm một trên phương diện chiếm hữu, sử dụng và định đoạt thực tế.
      4. Là hợp đồng ưng thuận: Quyền và nghĩa vụ phát sinh ngay sau khi các bên thỏa thuận xong các điều khoản chủ yếu (mặc dù vẫn tồn tại quan điểm coi trọng thời điểm đăng ký tại cơ quan nhà nước).
      5. Là hợp đồng trọng hình thức: Thuộc nhóm hợp đồng có điều kiện khắt khe nhất trong giao lưu dân sự, bắt buộc lập thành văn bản và phải được công chứng, chứng thực theo quy định.
  • Phân loại hợp đồng CNQSDĐ: Căn cứ vào tài sản gắn liền với đất, phân chia thành: (i) Hợp đồng chỉ có nội dung CNQSDĐ ở; (ii) Hợp đồng CNQSDĐ và tài sản gắn liền với đất (như nhà ở riêng lẻ hoặc căn hộ chung cư – điều chỉnh kết hợp bởi BLDS và Luật Nhà ở năm 2014).
  • So sánh Hợp đồng CNQSDĐ ở với các giao dịch về QSDĐ khác:
Tiêu chí so sánh Hợp đồng CNQSDĐ ở Hợp đồng Chuyển đổi QSDĐ Hình thức Thế chấp QSDĐ Hợp đồng Tặng cho QSDĐ ở
Bản chất quan hệ Đổi đất lấy tiền (quan hệ 1 chiều). Đổi đất lấy đất (quan hệ 2 chiều, cùng lúc chấm dứt và xác lập QSDĐ). Biện pháp bảo đảm nghĩa vụ dân sự; không chuyển giao quyền sử dụng thực tế. Chuyển giao quyền không đền bù (không mang tính chất trao đổi ngang giá).
Hậu quả sở hữu / sử dụng Chấm dứt QSDĐ của bên chuyển nhượng để xác lập cho bên nhận. Cả hai bên cùng chấm dứt QSDĐ cũ để xác lập QSDĐ mới từ bên kia. Bên thế chấp vẫn tiếp tục chiếm hữu, sử dụng đất; bên nhận thế chấp chỉ nắm giữ danh nghĩa pháp lý. Người nhận được xác lập quyền mà không phải trả bất kỳ lợi ích vật chất nào.
Nghĩa vụ tài chính Bên chuyển nhượng chịu thuế TNCN 2% trên giá chuyển nhượng. Theo quy định về điều tiết chênh lệch giá trị thửa đất (nếu có thỏa thuận). Không phát sinh thuế thu nhập chuyển nhượng tại thời điểm thế chấp. Miễn thuế TNCN nếu cùng huyết thống; chịu thuế 10% theo Bảng giá đất nếu khác huyết thống.
Chế định tài sản hôn nhân Là tài sản chung vợ chồng nếu nhận chuyển nhượng trong thời kỳ hôn nhân (trừ khi có xác nhận riêng). Hoán đổi tài sản tương ứng theo nguồn gốc quyền sử dụng đất. Tùy thuộc vào nguồn gốc QSDĐ đem thế chấp (tài sản chung hoặc tài sản riêng). Là tài sản riêng của bên được tặng cho (dù đang trong thời kỳ hôn nhân), trừ khi có thỏa thuận nhập tài sản chung.
  • Lịch sử hình thành và phát triển pháp luật về hợp đồng CNQSDĐ ở:
    • Thời kỳ 1945 đến trước LĐĐ 1993: Sắc lệnh số 87/SL (1952) cấm cầm/bán công điền công thổ; Luật Cải cách ruộng đất năm 1953 thừa nhận sở hữu ruộng đất của nông dân và Nhà nước. Giai đoạn 1980 đến trước LĐĐ 1993, Nhà nước không công nhận bất kỳ quan hệ chuyển nhượng, mua bán QSDĐ nào.
    • Thời kỳ LĐĐ 1993 đến trước LĐĐ 2003: Thuật ngữ "chuyển nhượng quyền sử dụng đất" lần đầu xuất hiện trong LĐĐ năm 1993. BLDS năm 1995 lần đầu tiên dành riêng Chương III (Điều 705–713) quy định toàn diện về hợp đồng CNQSDĐ.
    • Thời kỳ LĐĐ 2003 đến trước LĐĐ 2013: LĐĐ năm 2003 lần đầu tiên đưa ra định nghĩa chính thức về "đất ở" (đất ở nông thôn và đất ở đô thị), ghi nhận đất ở được Nhà nước giao có thu tiền sử dụng đất với thời hạn sử dụng ổn định, lâu dài. BLDS năm 2005 tiếp tục kế thừa và hoàn thiện chế định này.

Chương 2: Quy định pháp luật hiện hành về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở

Chương 2 đi sâu giải phẫu 4 chế định cốt lõi điều chỉnh hợp đồng CNQSDĐ ở theo pháp luật thực định:

  • Chủ thể tham gia hợp đồng:
    • Cá nhân phải có năng lực pháp luật dân sự (Điều 16, 18 BLDS 2015) và năng lực hành vi dân sự (Điều 19 BLDS 2015).
    • Mức độ năng lực hành vi: Người từ đủ 18 tuổi trở lên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ được toàn quyền giao kết (trừ khi bị Tòa án tuyên bố mất hoặc hạn chế năng lực hành vi); người từ đủ 15 đến chưa đủ 18 tuổi hoặc người bị hạn chế năng lực hành vi phải có sự đồng ý bằng văn bản của người đại diện theo pháp luật; người dưới 15 tuổi hoặc mất năng lực hành vi không được phép xác lập giao dịch.
  • Hình thức của hợp đồng: Bắt buộc lập thành văn bản và phải được công chứng hoặc chứng thực (Khoản 1 Điều 502 BLDS 2015; Điểm a Khoản 3 Điều 167 LĐĐ 2013). Ngoại lệ duy nhất không bắt buộc công chứng, chứng thực là trường hợp một hoặc các bên tham gia giao dịch là tổ chức hoạt động kinh doanh bất động sản (Điểm b Khoản 3 Điều 167 LĐĐ 2013).
  • Nội dung của hợp đồng:
    • Đối tượng hợp đồng (QSDĐ ở): Phải thỏa mãn 5 điều kiện luật định: (1) Không thuộc trường hợp luật cấm chuyển nhượng (Điều 191 LĐĐ 2013; Điều 40 Nghị định 43/2014/NĐ-CP); (2) Phải thuộc quyền sử dụng hợp pháp của bên chuyển nhượng – có Giấy chứng nhận QSDĐ theo Khoản 1 Điều 168 LĐĐ 2013 (trừ trường hợp người nhận thừa kế là người nước ngoài/Việt kiều theo Điểm a Khoản 3 Điều 186 LĐĐ 2013 hoặc xử lý tài sản bảo đảm theo Điều 299 BLDS 2015); (3) Đất không có tranh chấp tại thời điểm chuyển nhượng (Điểm b Khoản 1 Điều 188 LĐĐ 2013); (4) Không phải là đối tượng của các biện pháp bảo đảm (ngoại lệ: bên nhận thế chấp đồng ý theo Điều 321 BLDS 2015; tác giả phân tích QSDĐ không phải hàng hóa luân chuyển theo Luật Thương mại và Nghị định 163/2006/NĐ-CP); (5) Không bị kê biên để đảm bảo thi hành án (Điều 111, 112 Luật Thi hành án dân sự năm 2008).
    • Giá chuyển nhượng: Do các bên thỏa thuận hoặc căn cứ theo bảng giá đất của UBND cấp tỉnh. Tác giả chỉ ra thực trạng các bên thường thỏa thuận "hai giá" (giá thực tế và giá ghi trên hợp đồng công chứng) nhằm trốn thuế TNCN và lệ phí trước bạ.
    • Quyền và nghĩa vụ của các bên: Bên chuyển nhượng có nghĩa vụ chuyển giao đất đủ diện tích, đúng vị trí, hiện trạng, giao giấy tờ pháp lý và nhận tiền; bên nhận chuyển nhượng có nghĩa vụ trả tiền, đăng ký QSDĐ và tôn trọng quyền của bên thứ ba.
    • Thời hạn và địa điểm: Tuân thủ Điều 277 và Điều 410 BLDS 2015; địa điểm thực hiện hợp đồng tối ưu nhất được xác định là nơi có thửa đất tọa lạc.
  • Hiệu lực và hợp đồng vô hiệu:
    • Điều kiện có hiệu lực (Điều 117 BLDS 2015): Chủ thể có năng lực; hoàn toàn tự nguyện; mục đích và nội dung không vi phạm điều cấm, không trái đạo đức xã hội; hình thức tuân thủ luật định. Khoản 2 Điều 129 BLDS 2015 quy định trường hợp ngoại lệ: hợp đồng vi phạm công chứng/chứng thực nhưng một hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba (2/3) nghĩa vụ thì Tòa án công nhận hiệu lực theo yêu cầu.
    • Thời điểm có hiệu lực: Phân tích xung đột giữa hai quan điểm pháp lý: quan điểm thứ nhất cho rằng hợp đồng có hiệu lực từ ngày công chứng (Khoản 1 Điều 5 Luật Công chứng 2014); quan điểm thứ hai cho rằng có hiệu lực kể từ khi đăng ký vào sổ địa chính (Điều 503 BLDS 2015, Khoản 3 Điều 188 LĐĐ 2013). Tác giả bảo vệ quan điểm hợp đồng phát sinh hiệu lực ràng buộc các bên từ thời điểm công chứng/chứng thực hợp pháp.
PHÂN LOẠI HỢP ĐỒNG CHUYỂN NHƯỢNG QSDĐ Ở VÔ HIỆU
  • Hậu quả pháp lý của hợp đồng vô hiệu: Hợp đồng không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa các bên từ thời điểm giao kết; các bên khôi phục tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận (QSDĐ và tiền); bồi thường thiệt hại căn cứ theo mức độ lỗi của mỗi bên; bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình.
  • Đánh giá ưu điểm và hạn chế:
    • Ưu điểm: Thiết lập hành lang pháp lý tương đối hoàn chỉnh, thúc đẩy thị trường bất động sản vận hành minh bạch; tạo cơ sở cho các cơ quan tài phán giải quyết tranh chấp; chuẩn hóa hệ thống Văn phòng đăng ký đất đai và các tổ chức hành nghề công chứng.
    • Hạn chế, bất cập: (1) Sự thiếu thống nhất giữa BLDS 2015, LĐĐ 2013, Luật Nhà ở 2014 và Luật Công chứng 2014 về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng và thời điểm chuyển quyền sở hữu/sử dụng (đặc biệt khi chuyển nhượng quyền sử dụng đất có nhà ở gắn liền); (2) Vướng mắc trong cơ chế định giá đất theo Nghị quyết 18-NQ/TW và Dự thảo Luật Đất đai (khái niệm "giá đất phổ biến trên thị trường" khó định lượng ở khu vực ít giao dịch hoặc dự án bất động sản, chưa kiểm soát được việc kê khai hai giá).

Chương 3: Thực tiễn thực hiện pháp luật về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở và một số kiến nghị hoàn thiện

Chương 3 tổng kết thực tiễn áp dụng pháp luật, nhận diện các xung đột trong tranh tụng và đề xuất các nhóm giải pháp:

  • Thực tiễn thi hành và tranh chấp: Chỉ ra các tranh chấp phổ biến bắt nguồn từ việc vi phạm điều kiện hình thức (giấy viết tay), tranh chấp do đất thuộc diện thừa kế/tài sản chung của hộ gia đình nhưng chỉ một người đứng ra ký chuyển nhượng, và tranh chấp do biến động giá đất dẫn đến một bên bội ước, cố tình không thực hiện nghĩa vụ đăng ký sang tên tại Văn phòng đăng ký đất đai.
  • Kiến nghị hoàn thiện pháp luật:
    1. Thống nhất quy định giữa BLDS và LĐĐ: xác định rõ thời điểm hợp đồng CNQSDĐ ở phát sinh hiệu lực ràng buộc giữa các bên là thời điểm công chứng/chứng thực; còn thời điểm chuyển quyền sử dụng đất là thời điểm đăng ký vào sổ địa chính.
    2. Quy định rõ ràng, cụ thể tiêu chí "đất không có tranh chấp", tránh tình trạng đơn khiếu nại nặc danh hoặc tranh chấp không có căn cứ làm tê liệt quyền chuyển nhượng của người sử dụng đất hợp pháp.
    3. Hoàn thiện cơ chế định giá đất độc lập theo tinh thần Nghị quyết 18-NQ/TW, xây dựng cơ sở dữ liệu số về giá đất thị trường để ngăn ngừa thất thu thuế từ hiện tượng kê khai "hai giá".
    4. Đồng bộ hóa thủ tục đăng ký biến động giữa tài sản là đất ở và nhà ở gắn liền với đất.

Kết quả và đóng góp

  • Kết quả nghiên cứu chính:
    • Làm rõ bản chất pháp lý của hợp đồng CNQSDĐ ở tại Việt Nam dưới góc độ chế độ sở hữu toàn dân về đất đai: đối tượng hợp đồng là "quyền sử dụng đất ở" (một loại quyền tài sản trị giá được bằng tiền), tách biệt về mặt pháp lý với quyền sở hữu đất đai nhưng hòa nhập với đất ở trên thực tế sử dụng.
    • Hệ thống hóa toàn bộ các điều kiện có hiệu lực và phân định ranh giới giữa hợp đồng vô hiệu tuyệt đối và vô hiệu tương đối; chỉ rõ điều kiện áp dụng Khoản 2 Điều 129 BLDS 2015 trong việc công nhận hiệu lực của hợp đồng chưa công chứng khi đã thực hiện ít nhất 2/3 nghĩa vụ.
    • Chỉ ra mâu thuẫn trực tiếp giữa Khoản 1 Điều 401 BLDS 2015, Khoản 1 Điều 5 Luật Công chứng 2014 với Điều 503 BLDS 2015 và Khoản 3 Điều 188 LĐĐ 2013 về thời điểm có hiệu lực của giao dịch.
  • Đóng góp về mặt học thuật và thực tiễn:
    • Cung cấp hệ thống luận cứ khoa học để phân biệt hợp đồng CNQSDĐ ở với các giao dịch pháp lý dễ gây nhầm lẫn (chuyển đổi, thế chấp, tặng cho).
    • Đề xuất giải pháp lập pháp nhằm tháo gỡ khoảng trống pháp lý giữa thời điểm công chứng hợp đồng và thời điểm đăng ký vào sổ địa chính, bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho bên nhận chuyển nhượng ngay tình trước các rủi ro phát sinh từ bên chuyển nhượng.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Khóa luận tập trung chủ yếu vào quan hệ chuyển nhượng giữa các cá nhân với nhau trong phạm vi đất ở thông thường; chưa đi sâu phân tích toàn diện các giao dịch CNQSDĐ ở có yếu tố nước ngoài, giao dịch chuyển nhượng dự án nhà ở thương mại quy mô lớn hoặc các giao dịch có sự tham gia của tổ chức kinh doanh bất động sản.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng nghiên cứu cơ chế giải quyết xung đột pháp luật khi Luật Đất đai mới và Luật Nhà ở mới được Quốc hội thông qua và có hiệu lực thi hành.
    • Nghiên cứu chuyên sâu về cơ chế định giá đất theo thị trường và các giải pháp công nghệ (cơ sở dữ liệu số đất đai) nhằm giám sát tính minh bạch về giá trong hợp đồng CNQSDĐ ở.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng tham khảo: Sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Luật Dân sự, Luật Đất đai, Luật Kinh tế; công chứng viên, thẩm phán, luật sư, chuyên viên pháp lý tại các tổ chức tín dụng và Văn phòng đăng ký đất đai.
  • Phần nội dung giá trị nhất:
    • Bảng đối sánh chi tiết giữa hợp đồng CNQSDĐ ở với chuyển đổi, thế chấp, tặng cho (Chương 1).
    • Hệ thống 5 điều kiện đối với đối tượng QSDĐ ở và phân tích chuyên sâu về điều kiện áp dụng Khoản 2 Điều 129 BLDS 2015 để cứu vãn hợp đồng vi phạm hình thức (Chương 2).
    • Luận giải pháp lý về việc phân tách thời điểm có hiệu lực của hợp đồng và thời điểm chuyển quyền sử dụng đất (Chương 2).

Câu hỏi thường gặp

1. Tại sao pháp luật Việt Nam sử dụng thuật ngữ "chuyển nhượng quyền sử dụng đất" mà không dùng thuật ngữ "mua bán đất"?
Theo Điều 4 Luật Đất đai năm 2013 và Điều 53 Hiến pháp năm 2013, đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Người sử dụng đất không có quyền sở hữu đối với đất đai mà chỉ được Nhà nước trao quyền sử dụng. Do bên chuyển nhượng không có quyền sở hữu mảnh đất nên đối tượng của hợp đồng là "quyền sử dụng đất" (quyền tài sản gắn liền với đất), vì vậy pháp luật gọi là hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thay vì hợp đồng mua bán tài sản.

2. Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở phát sinh hiệu lực từ thời điểm công chứng hay từ thời điểm đăng ký vào sổ địa chính?
Văn bản pháp luật hiện tồn tại hai luồng quy định: Điểm a Khoản 3 Điều 167 LĐĐ 2013 và Khoản 1 Điều 5 Luật Công chứng 2014 xác định văn bản công chứng có hiệu lực từ ngày công chứng viên ký và đóng dấu; trong khi Điều 503 BLDS 2015 và Khoản 3 Điều 188 LĐĐ 2013 quy định việc chuyển nhượng có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký vào sổ địa chính. Tác giả luận văn lập luận rằng hợp đồng phát sinh hiệu lực ràng buộc quyền và nghĩa vụ giữa các bên từ thời điểm công chứng/chứng thực, còn việc đăng ký vào sổ địa chính là thời điểm hoàn tất việc chuyển quyền sử dụng đất từ chủ thể này sang chủ thể khác.

3. Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở bằng giấy viết tay không công chứng có bị vô hiệu hoàn toàn không?
Về nguyên tắc, hợp đồng vi phạm điều kiện bắt buộc về hình thức (công chứng/chứng thực) sẽ bị vô hiệu theo Điều 120 BLDS 2015. Tuy nhiên, theo Khoản 2 Điều 129 BLDS 2015, nếu hợp đồng đã được xác lập bằng văn bản nhưng chưa công chứng, chứng thực mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba (2/3) nghĩa vụ trong hợp đồng (ví dụ: đã thanh toán đủ từ 2/3 tiền hoặc đã bàn giao từ 2/3 diện tích/nghĩa vụ) thì theo yêu cầu của một hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch mà các bên không phải thực hiện việc công chứng.

4. Cá nhân có được chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở khi chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không?
Khoản 1 Điều 168 LĐĐ 2013 quy định người sử dụng đất chỉ được thực hiện quyền chuyển nhượng khi có Giấy chứng nhận. Tuy nhiên, pháp luật có hai ngoại lệ: (1) Trường hợp nhận thừa kế QSDĐ mà người nhận thừa kế là người nước ngoài hoặc người Việt Nam định cư ở nước ngoài không thuộc đối tượng mua nhà ở gắn liền với QSDĐ (Điểm a Khoản 3 Điều 186 LĐĐ 2013); (2) Người nhận thừa kế QSDĐ có đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận theo quy định. Ngoài ra, bên nhận bảo đảm được quyền xử lý QSDĐ theo Điều 299 BLDS 2015 hoặc người giám hộ chuyển nhượng vì lợi ích của người được giám hộ theo Điều 59 BLDS 2015.

5. Quyền sử dụng đất ở đem thế chấp có được coi là "hàng hóa luân chuyển trong quá trình sản xuất, kinh doanh" để tự ý chuyển nhượng không?
Không. Căn cứ Khoản 2 Điều 3 Luật Thương mại và Khoản 5 Điều 3 Nghị định số 163/2006/NĐ-CP, hàng hóa luân chuyển là động sản dùng để trao đổi, mua bán trong phạm vi hoạt động sản xuất kinh doanh của bên bảo đảm. QSDĐ không phải là động sản và giá trị của đất không kết tinh từ hao phí lao động trực tiếp tạo ra đất. Do đó, QSDĐ ở đang thế chấp chỉ được phép chuyển nhượng khi có sự đồng ý bằng văn bản của bên nhận thế chấp theo Khoản 4, 5 Điều 321 BLDS 2015.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả tại Trường Đại học Luật Hà Nội đã hệ thống hóa và phân tích sâu sắc toàn diện chế định hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Nghiên cứu đã làm rõ bản chất lý luận, chỉ ra các đặc điểm pháp lý mang tính đặc thù và làm sáng tỏ bốn yếu tố cấu thành hợp đồng gồm chủ thể, hình thức, nội dung và hiệu lực. Các bất cập thực định nổi bật—nhất là sự không tương thích về thời điểm phát sinh hiệu lực của hợp đồng và cơ chế xác định giá đất thị trường—đã được nhận diện và đề xuất định hướng tháo gỡ cụ thể, đóng góp thiết thực cho quá trình hoàn thiện pháp luật đất đai và dân sự tại Việt Nam.