Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một trong những chế định xuất hiện sớm trong lịch sử pháp luật dân sự Việt Nam. Kể từ khi Bộ luật Dân sự năm 1995 được ban hành (có hiệu lực từ ngày 01/07/1996), chế định này mới được xây dựng một cách hệ thống, chi tiết để giải quyết các tranh chấp dân sự thực tế. Đến Bộ luật Dân sự năm 2005 (Điều 604 đến Điều 630), các quy định tiếp tục được sửa đổi, bổ sung nhưng vẫn tồn tại nhiều điểm mang tính "định tính", thiếu "định lượng", dẫn đến các tranh cãi liên quan đến căn cứ phát sinh và mức bồi thường.
Nhằm khắc phục các vướng mắc trên, Bộ luật Dân sự năm 2015 đã được Quốc hội thông qua và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2017, mang lại những điều chỉnh quan trọng về địa vị pháp lý, chuẩn mực ứng xử cũng như cơ chế bảo vệ quyền nhân thân và tài sản. Tuy nhiên, trong thực tiễn áp dụng của các cơ quan tư pháp và tòa án địa phương, việc nhận thức và áp dụng các quy định vẫn còn nhiều bất cập, thiếu đồng bộ. Xuất phát từ bối cảnh đó, đề tài "Pháp luật về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng và kiến nghị hoàn thiện" được thực hiện nhằm làm rõ các quy định pháp luật hiện hành và các yêu cầu đặt ra từ thực tiễn xét xử.
Khóa luận xác định ba nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Trình bày các kiến thức lý luận cơ bản của pháp luật về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
- Phân tích thực trạng áp dụng quy định pháp luật, chỉ ra những điểm tiến bộ và những điểm hạn chế, vướng mắc còn tồn tại.
- Đề xuất một số giải pháp, kiến nghị hoàn thiện hệ thống quy định pháp luật về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là các quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, trọng tâm là Bộ luật Dân sự năm 2015 trong sự so sánh, đối chiếu với Bộ luật Dân sự năm 2005 và các văn bản luật chuyên ngành liên quan. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào hệ thống pháp luật Việt Nam hiện hành kết hợp với việc khảo sát một số tình huống thực tiễn phát sinh tại Công ty Luật TNHH MTV Hoa Phượng (Hải Phòng) trong thời gian thực hiện khóa luận tốt nghiệp năm 2021.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận xây dựng nội dung dựa trên hai trục lý thuyết cơ bản trong khoa học pháp lý dân sự:
- Thuyết cổ điển (Quan điểm cổ điển): Cho rằng trách nhiệm dân sự chỉ phát sinh khi có yếu tố lỗi (cố ý hoặc vô ý). Theo đó, người bị thiệt hại có nghĩa vụ chứng minh lỗi của người gây thiệt hại. Thuyết này phù hợp với trường hợp thiệt hại do hành vi con người gây ra nhưng bộc lộ hạn chế lớn khi người bị thiệt hại không thể chứng minh lỗi hoặc trong các vụ việc do tài sản, nguồn nguy hiểm gây ra.
- Thuyết trách nhiệm khách quan (Lý thuyết rủi ro): Quan điểm xuất hiện từ thời La Mã cổ đại và được pháp luật hiện đại thừa nhận, xác định trách nhiệm bồi thường không phụ thuộc vào yếu tố lỗi mà dựa trên nguyên tắc công bằng xã hội. Trách nhiệm phát sinh khi có đủ 3 điều kiện: có thiệt hại thực tế xảy ra; có sự kiện gây thiệt hại trái pháp luật (hoặc hoạt động của tài sản); có mối quan hệ nhân quả giữa sự kiện gây thiệt hại và thiệt hại thực tế.
Về phương diện lập pháp lịch sử, tác giả đối chiếu quy định của các bộ luật cổ Việt Nam:
- Bộ luật Hồng Đức: Điều 29 quy định tiền đền mạng phân chia theo phẩm trật từ 150 quan (thứ nhân trở xuống) đến 15.000 quan (nhất phẩm, tòng nhất phẩm); Điều 466 quy định tiền bồi thường thương tổn cụ thể theo loại thương tích (sưng phù đền 3 tiền, đứt lưỡi và hỏng bộ phận sinh dục đền 100 quan).
- Bộ luật Gia Long: Điều 201 quy định tiền chuộc tội giết người giao cho gia đình nạn nhân mai táng (12 lạng bạc nếu xử tội giảo, 20 lạng bạc nếu được ân xá); Điều 271 quy định tịch thu 1/2 tài sản của kẻ phạm tội để đền cho nạn nhân nuôi thân đối với thương tích nặng.
Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật được tác giả trích dẫn và sử dụng làm cơ sở phân tích gồm có:
- Hiến pháp năm 2013 (Điều 14 đến Điều 21 về quyền con người, quyền công dân).
- Bộ luật Dân sự năm 2015 (Khoản 4 Điều 3; Điều 274; Điều 275; Chương XX Phần thứ ba từ Điều 584 đến Điều 608).
- Bộ luật Dân sự năm 2005 (Điều 604 đến Điều 630).
- Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009 và năm 2017 (Điều 25, Điều 45).
- Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 (Khoản 2 Điều 66 Mục 5 về trợ cấp mai táng).
- Bộ luật Hình sự năm 1999 (Điều 46, Điều 105, Điều 106).
- Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Phương pháp nghiên cứu được tác giả sử dụng chủ yếu là phương pháp phân tích - tổng hợp quy phạm pháp luật, phương pháp so sánh luật học (so sánh các điều khoản tương ứng giữa Bộ luật Dân sự 2005 và Bộ luật Dân sự 2015), phương pháp phân tích lịch sử pháp lý và phương pháp nghiên cứu tình huống thực tiễn (case study) thông qua các vụ việc cụ thể phát sinh trong đời sống. Nguồn dữ liệu bao gồm văn bản quy phạm pháp luật, các giáo trình, tài liệu tập huấn chuyên sâu của Bộ Tư pháp, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và các tình huống ghi nhận trong quá trình thực tập tại Công ty Luật TNHH MTV Hoa Phượng.
Nội dung chính theo từng chương
Chương I: Lý luận chung về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Chương I tập trung phân tích nguồn gốc, bản chất pháp lý và các nội dung nền tảng của chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng:
- Lịch sử hình thành và phát triển: Phân tích bước chuyển từ chế độ tư nhân phục cừu sang chế độ thục kim trên thế giới; đối chiếu sự phát triển từ việc hình sự hóa trách nhiệm dân sự trong các bộ luật phong kiến Việt Nam (Hồng Đức, Gia Long) sang việc tách bạch trách nhiệm dân sự như một nghĩa vụ bồi hoàn khôi phục tình trạng tài sản của người bị thiệt hại.
- Khái niệm và đặc điểm pháp lý: Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là quan hệ nghĩa vụ dân sự (theo Điều 274, Điều 275 Bộ luật Dân sự 2015), trong đó người xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của chủ thể khác phải bồi thường những tổn thất về vật chất và tinh thần. Khác với trách nhiệm trong hợp đồng, loại trách nhiệm này phát sinh trực tiếp từ quy định pháp luật khi có hành vi vi phạm hoặc sự kiện tài sản gây thiệt hại mà không phụ thuộc vào thỏa thuận hợp đồng trước đó.
- Căn cứ phát sinh trách nhiệm: Bao gồm 3 yếu tố cơ bản: (1) Có thiệt hại thực tế xảy ra (thiệt hại vật chất và thiệt hại tinh thần); (2) Hành vi gây thiệt hại là hành vi trái pháp luật (dưới dạng hành động hoặc không hành động); (3) Mối quan hệ nhân quả tất yếu giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy ra.
- 5 nguyên tắc bồi thường thiệt hại (Điều 585 Bộ luật Dân sự 2015):
- Thiệt hại thực tế phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời.
- Người chịu trách nhiệm bồi thường có thể được giảm mức bồi thường nếu không có lỗi hoặc có lỗi vô ý và thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài.
- Thay đổi mức bồi thường khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế (do biến động giá cả, tình trạng thương tật, hoặc khả năng kinh tế).
- Bên bị thiệt hại có lỗi thì không được bồi thường phần thiệt hại do lỗi của mình gây ra (xử lý trường hợp "hỗn hợp lỗi").
- Bên có quyền, lợi ích bị xâm phạm không được bồi thường nếu thiệt hại xảy ra do không áp dụng các biện pháp cần thiết, hợp lý để ngăn chặn, hạn chế thiệt hại cho chính mình (ví dụ quy định về bảo hiểm hành lý hàng không).
- Cách thức xác định mức thiệt hại:
- Thiệt hại về tài sản (Điều 589): Tài sản bị mất, hủy hoại, hư hỏng; lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác tài sản; chi phí ngăn chặn, hạn chế, khắc phục.
- Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm (Điều 590): Chi phí cứu chữa, phục hồi; thu nhập thực tế bị mất/giảm sút; chi phí và thu nhập bị mất của người chăm sóc; bù đắp tổn thất tinh thần (tối đa không quá 50 lần mức lương cơ sở).
- Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm (Điều 591): Chi phí cứu chữa trước khi chết; chi phí mai táng (tính bằng 10 lần lương cơ sở theo Luật Bảo hiểm xã hội); tiền cấp dưỡng cho người mà nạn nhân có nghĩa vụ cấp dưỡng; bù đắp tổn thất tinh thần cho hàng thừa kế thứ nhất (tối đa không quá 100 lần mức lương cơ sở).
- Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm (Điều 592): Chi phí hợp lý để hạn chế, khắc phục thiệt hại; thu nhập thực tế bị mất/giảm sút; bù đắp tổn thất tinh thần (tối đa không quá 10 lần mức lương cơ sở).
Chương II: Thực trạng các quy định pháp luật về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Chương II đi sâu vào phân tích các điểm thay đổi quy chuẩn trong Bộ luật Dân sự năm 2015 so với Bộ luật Dân sự năm 2005 và minh họa bằng các tình huống pháp lý thực tiễn:
- Căn cứ phát sinh và sự thay đổi hướng tiếp cận yếu tố lỗi: Điều 584 Bộ luật Dân sự năm 2015 không còn đặt yếu tố lỗi là căn cứ bắt buộc đầu tiên mà chuyển gánh nặng chứng minh sang bên gây thiệt hại. Người bị thiệt hại chỉ cần chứng minh có hành vi xâm phạm trái pháp luật hoặc sự kiện tài sản gây thiệt hại. Bên gây thiệt hại chỉ được miễn trừ nếu chứng minh do bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của nạn nhân.
- Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường của cá nhân (Điều 586, Điều 599):
- Người từ đủ 18 tuổi trở lên: Tự bồi thường bằng tài sản cá nhân.
- Người chưa đủ 15 tuổi: Cha mẹ bồi thường toàn bộ; nếu không đủ thì lấy tài sản riêng của con để bù đắp; nếu gây thiệt hại trong thời gian trường học quản lý thì trường học phải bồi thường nếu không chứng minh được mình không có lỗi.
- Người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi: Tự bồi thường bằng tài sản riêng; nếu không đủ thì cha mẹ bồi thường phần còn thiếu.
- Bổ sung quy định đối với người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi: Người giám hộ dùng tài sản của người được giám hộ để bồi thường; nếu không đủ thì người giám hộ bồi thường bằng tài sản của mình trừ khi chứng minh không có lỗi trong giám hộ.
- Thời hiệu khởi kiện (Điều 588): Tăng từ 02 năm lên 03 năm; sửa đổi mốc tính thời hiệu thành "kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm", tháo gỡ bất cập cho các trường hợp nạn nhân bị mất năng lực hành vi hoặc biết thiệt hại muộn hơn thời điểm xảy ra vụ việc.
- Bồi thường trong một số trường hợp cụ thể: Phân tích các trường hợp do phòng vệ chính đáng vượt quá giới hạn (Điều 594), tình thế cấp thiết (Điều 595), người dùng chất kích thích (Điều 596), người của pháp nhân (Điều 597), người thi hành công vụ (Điều 598), nguồn nguy hiểm cao độ (Điều 601), ô nhiễm môi trường (Điều 602), súc vật (Điều 603), cây cối (Điều 604), nhà cửa/công trình xây dựng (Điều 605), xâm phạm thi thể (Điều 606 - bồi thường tinh thần tối đa 30 lần lương cơ sở), xâm phạm mồ mả (Điều 607 - bồi thường tinh thần tối đa 10 lần lương cơ sở), vi phạm quyền lợi người tiêu dùng (Điều 608).
Bảng dưới đây tổng hợp các mức trần định lượng đối với khoản bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015:
| Đối tượng / Khách thể bị xâm phạm |
Điều luật quy định |
Mức trần bù đắp tổn thất tinh thần tối đa (nếu không thỏa thuận được) |
Chủ thể được nhận khoản bù đắp tinh thần |
| Sức khỏe |
Điều 590 |
Không quá 50 lần mức lương cơ sở |
Người có sức khỏe bị xâm phạm |
| Tính mạng |
Điều 591 |
Không quá 100 lần mức lương cơ sở |
Người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất / người trực tiếp nuôi dưỡng |
| Danh dự, nhân phẩm, uy tín |
Điều 592 |
Không quá 10 lần mức lương cơ sở |
Người bị xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín |
| Thi thể |
Điều 606 |
Không quá 30 lần mức lương cơ sở |
Người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất / người trực tiếp nuôi dưỡng |
| Mồ mả |
Điều 607 |
Không quá 10 lần mức lương cơ sở |
Người thân thích theo thứ tự hàng thừa kế / người trực tiếp nuôi dưỡng |
- Phân tích 4 tình huống thực tiễn:
- Tình huống 1 (Tàu va chạm bờ kè): Tàu A đi trên sông đâm vào bờ kè hợp pháp của khu dân cư, phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại tài sản theo Điều 589 (gồm giá trị hư hỏng, chi phí hạn chế khắc phục).
- Tình huống 2 (Lái xe say rượu đâm vào xe máy trong bãi đỗ): Người lái ô tô B sử dụng bia rượu đâm hỏng xe máy của ông A đỗ đúng quy định, vi phạm hành vi trái pháp luật, phát sinh trách nhiệm bồi thường giá trị tài sản bị hư hỏng theo Điều 589.
- Tình huống 3 (Bảo vệ đánh công nhân bị sa thải say xỉn): Công nhân B say rượu đòi vào công ty, bảo vệ A dùng dùi cui đánh B chấn thương nặng. Hành vi của A vượt quá giới hạn, không phải phòng vệ chính đáng. Công ty X phải chịu trách nhiệm bồi thường sức khỏe cho B theo Điều 597 (pháp nhân bồi thường do người của mình gây ra khi thực hiện nhiệm vụ), sau đó yêu cầu A hoàn trả theo mức độ lỗi.
- Tình huống 4 (Nổ chai bia tại đại lý): Khách hàng B bị chai bia phát nổ gây rách giác mạc. Nếu đại lý C bảo quản sai quy cách thì C bồi thường; nếu C chứng minh không có lỗi thì hãng sản xuất phải bồi thường theo Điều 608 (vi phạm quyền lợi người tiêu dùng).
Chương III: Một số kiến nghị hoàn thiện đối với pháp luật về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Chương III đánh giá tổng thể những kết quả lập pháp và chỉ ra các hạn chế trong thực tiễn:
- Điểm tiến bộ: Bộ luật Dân sự 2015 đã mở rộng phạm vi chủ thể được bồi thường (sử dụng thuật ngữ "người khác"), giảm gánh nặng chứng minh lỗi cho người bị thiệt hại, quy định bổ sung nhóm người có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi, nâng mức trần bồi thường tổn thất tinh thần và kéo dài thời hiệu khởi kiện lên 03 năm.
- Hạn chế và tồn tại: Khó khăn trong việc định lượng mức độ tổn thất tinh thần trên thực tế; sự lúng túng của các tòa án địa phương khi phân chia tỷ lệ phần trăm thiệt hại trong các trường hợp "hỗn hợp lỗi" (cả bên gây thiệt hại và bên bị thiệt hại đều có lỗi); thiếu các hướng dẫn cụ thể về phương pháp tính thu nhập thực tế bị mất đối với lao động tự do không ổn định.
- Giải pháp và kiến nghị hoàn thiện: Tăng cường ban hành các nghị quyết hướng dẫn thi hành của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao nhằm thống nhất việc lượng hóa mức bồi thường tổn thất tinh thần; chuẩn hóa tiêu chí đánh giá mức độ lỗi trong quan hệ dân sự kết hợp hình sự; nâng cao năng lực tập huấn áp dụng pháp luật cho cán bộ tư pháp cơ sở.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã hệ thống hóa toàn diện các quy định về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong pháp luật Việt Nam, đạt được các kết quả cụ thể:
- Làm rõ bản chất pháp lý của việc chuyển đổi mô hình trách nhiệm từ dựa trên yếu tố lỗi (BLDS 2005) sang mô hình dựa trên hành vi xâm phạm và trách nhiệm khách quan do tài sản gây ra (BLDS 2015 Điều 584).
- Tổng hợp đầy đủ các mức định lượng cụ thể về trần bồi thường tổn thất tinh thần và thời hiệu theo luật định: nâng mức trần bù đắp tổn thất tinh thần do sức khỏe bị xâm phạm lên 50 lần mức lương cơ sở, do tính mạng bị xâm phạm lên 100 lần mức lương cơ sở; mở rộng thời hiệu khởi kiện lên 03 năm tính từ thời điểm biết hoặc phải biết quyền lợi bị xâm phạm; định mức mai táng phí 10 lần mức lương cơ sở căn cứ theo Luật Bảo hiểm xã hội 2014.
- Đóng góp phân tích đa chiều về trách nhiệm của các chủ thể đặc biệt (người chưa đủ 15 tuổi, người từ đủ 15 đến dưới 18 tuổi, người có khó khăn trong nhận thức, pháp nhân và cơ sở giáo dục/y tế).
- Ứng dụng các quy phạm vào việc giải quyết 4 tình huống tranh chấp thực tế điển hình, chỉ rõ cơ chế xác định trách nhiệm liên đới và nghĩa vụ hoàn trả nội bộ.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Khóa luận tập trung chủ yếu vào nghiên cứu lý luận và phân tích văn bản quy phạm pháp luật dưới góc độ quy định hiện hành; các tình huống thực tiễn được phân tích dưới dạng các ca điển hình nhưng chưa có điều kiện tổng hợp số liệu thống kê xét xử toàn diện từ các bản án thực tế trên phạm vi toàn quốc.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục theo dõi thực tiễn áp dụng các Nghị quyết hướng dẫn của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao liên quan đến bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng; nghiên cứu sâu hơn về phương pháp định giá thiệt hại phi vật chất và cơ chế phân định trách nhiệm bồi thường trong các tranh chấp môi trường quy mô lớn.
Giá trị tham khảo
Khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực cho sinh viên, học viên chuyên ngành Luật Dân sự, Luật Tố tụng Dân sự cũng như các chuyên viên pháp lý, thẩm phán, hội thẩm và luật sư:
- Cung cấp tài liệu đối chiếu chi tiết giữa Bộ luật Dân sự 2005 và Bộ luật Dân sự 2015 đối với từng điều khoản cụ thể trong chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
- Bảng tổng hợp các mức trần bồi thường tổn thất tinh thần và căn cứ pháp lý chuyên ngành hỗ trợ tra cứu nhanh trong quá trình học tập và giải quyết án.
- Phương pháp phân tích các tình huống va chạm giao thông, xâm phạm thân thể và lỗi sản phẩm tiêu dùng là tài liệu tham khảo hữu ích cho việc giải quyết các tranh chấp thực tế phát sinh.
Câu hỏi thường gặp
1. Theo Bộ luật Dân sự 2015, người bị thiệt hại có bắt buộc phải chứng minh lỗi của người gây thiệt hại để được bồi thường không?
Không. Theo Khoản 1 Điều 584 Bộ luật Dân sự 2015, người bị thiệt hại chỉ cần chứng minh có hành vi xâm phạm và có thiệt hại thực tế xảy ra cùng mối quan hệ nhân quả. Yếu tố lỗi không còn là căn cứ phát sinh bắt buộc; gánh nặng chứng minh lỗi chuyển sang người gây thiệt hại nếu họ muốn được miễn trách nhiệm (chứng minh do bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của nạn nhân) hoặc giảm mức bồi thường.
2. Mức trần bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần khi sức khỏe và tính mạng bị xâm phạm được quy định tối đa là bao nhiêu?
Theo Điều 590 và Điều 591 Bộ luật Dân sự 2015, nếu các bên không thỏa thuận được thì:
- Mức bồi thường bù đắp tổn thất tinh thần do sức khỏe bị xâm phạm tối đa không quá 50 lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.
- Mức bồi thường bù đắp tổn thất tinh thần do tính mạng bị xâm phạm tối đa không quá 100 lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định (tính cho mỗi người có tính mạng bị xâm phạm).
3. Thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng theo quy định hiện hành có điểm gì mới?
Theo Điều 588 Bộ luật Dân sự 2015, thời hiệu khởi kiện được nâng lên là 03 năm (tăng 01 năm so với quy định 02 năm trước đây) và thời điểm bắt đầu tính là "kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm", thay vì tính cứng nhắc từ ngày xảy ra hành vi xâm phạm.
4. Trách nhiệm bồi thường được phân định thế nào khi người chưa đủ 15 tuổi gây thiệt hại trong thời gian trường học quản lý?
Theo Điều 599 Bộ luật Dân sự 2015, trường học phải bồi thường thiệt hại xảy ra. Trường học chỉ được miễn trách nhiệm nếu chứng minh được mình không có lỗi trong công tác quản lý; trong trường hợp trường học không có lỗi thì cha, mẹ hoặc người giám hộ của người chưa đủ 15 tuổi phải chịu trách nhiệm bồi thường.
5. Khi nhân viên bảo vệ của pháp nhân gây thương tích cho người khác trong khi đang thực hiện nhiệm vụ thì chủ thể nào chịu trách nhiệm bồi thường?
Theo Điều 597 Bộ luật Dân sự 2015, pháp nhân phải trực tiếp đứng ra bồi thường toàn bộ thiệt hại về sức khỏe cho người bị xâm hại do hành vi của người của mình gây ra trong khi thực hiện nhiệm vụ được giao. Sau khi đã bồi thường, pháp nhân có quyền yêu cầu nhân viên bảo vệ có lỗi phải hoàn trả lại một khoản tiền tương ứng theo quy định pháp luật.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Trung Dũng đã phân tích một cách có hệ thống cơ sở lý luận và thực trạng pháp luật về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng tại Việt Nam. Công trình làm nổi bật những điểm điều chỉnh của Bộ luật Dân sự năm 2015 về căn cứ phát sinh trách nhiệm, mở rộng chủ thể chịu trách nhiệm, nâng định mức bồi thường tổn thất tinh thần và kéo dài thời hiệu khởi kiện. Các phân tích tình huống thực tế và nhóm giải pháp hoàn thiện được đề xuất đã góp phần làm rõ thêm yêu cầu thống nhất nhận thức áp dụng pháp luật trong công tác xét xử dân sự hiện nay.