Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ lịch sử của tác giả Đinh Ngọc Chính với đề tài “Đảng bộ tỉnh Thái Bình lãnh đạo thực hiện dân chủ ở cơ sở từ năm 1998 đến năm 2013” thuộc chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam (mã số: 62 22 03 15), được bảo vệ năm 2019 tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội, dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.TSKH Phan Xuân Sơn.
Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả trình bày rõ cơ sở lý luận từ chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh: dân chủ vừa là bản chất, vừa là mục tiêu và động lực của chế độ xã hội chủ nghĩa. Trên thực tế của công cuộc đổi mới, quyền làm chủ của nhân dân từng bước được củng cố nhưng cũng bị vi phạm ở nhiều nơi do tệ quan liêu, cửa quyền, tham nhũng. Điển hình trước năm 1998, tại tỉnh Thái Bình đã bùng phát hàng loạt "điểm nóng" nông thôn phức tạp, khiếu kiện đông người kéo dài, làm tê liệt hệ thống chính trị cơ sở. Nhằm giải quyết khủng hoảng, ngày 18-02-1998, Bộ Chính trị (khóa VIII) đã ban hành Chỉ thị số 30-CT/TW về xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở. Tại Thái Bình, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh đã ban hành Nghị quyết số 06-NQ/TU ngày 12-01-1998 về những chủ trương, giải pháp ổn định tình hình. Sau 15 năm (1998 - 2013) tổ chức chỉ đạo, thực tiễn lãnh đạo của một đảng bộ cấp tỉnh từ việc triển khai Quy chế dân chủ đến Pháp lệnh dân chủ đặt ra yêu cầu phải tổng kết, phân tích khoa học để rút ra các bài học kinh nghiệm lịch sử, trong bối cảnh chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện tiến trình này.
Mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Thái Bình trong thực hiện dân chủ ở cơ sở từ năm 1998 đến năm 2013, trên cơ sở đó rút ra một số kinh nghiệm lịch sử có giá trị tham khảo cho thực tiễn.
Nhiệm vụ nghiên cứu được văn bản xác định cụ thể gồm 3 nhiệm vụ:
- Làm rõ các yếu tố tác động đến quá trình Đảng bộ tỉnh Thái Bình lãnh đạo thực hiện dân chủ ở cơ sở từ năm 1998 đến năm 2013.
- Phân tích những chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Thái Bình trong lãnh đạo thực hiện dân chủ ở cơ sở từ năm 1998 đến năm 2013 và kết quả của quá trình thực hiện đó.
- Nhận xét những ưu điểm, hạn chế trong quá trình Đảng bộ tỉnh Thái Bình lãnh đạo thực hiện dân chủ ở cơ sở từ năm 1998 đến năm 2013; từ đó, rút ra những kinh nghiệm chủ yếu vận dụng vào thực tiễn.
Đối tượng nghiên cứu: Chủ trương và sự chỉ đạo thực hiện dân chủ ở cơ sở của Đảng bộ tỉnh Thái Bình từ năm 1998 đến năm 2013.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài được giới hạn trên các phương diện:
- Về nội dung: Luận án tập trung nghiên cứu quá trình chỉ đạo thực hiện dân chủ ở cơ sở trên ba lĩnh vực chính gồm kinh tế, chính trị và văn hóa - xã hội, chủ yếu diễn ra tại đơn vị hành chính cấp xã, phường, thị trấn.
- Về không gian: Nghiên cứu thực hiện trên phạm vi địa bàn tỉnh Thái Bình, bao gồm 1 thành phố (thành phố Thái Bình) và 7 huyện (Đông Hưng, Hưng Hà, Quỳnh Phụ, Tiền Hải, Thái Thụy, Kiến Xương, Vũ Thư).
- Về thời gian: Phạm vi khảo sát từ năm 1998 (thời điểm Bộ Chính trị ra Chỉ thị số 30-CT/TW và Tỉnh ủy Thái Bình ban hành Nghị quyết số 06-NQ/TU) đến năm 2013 (thời điểm Đảng bộ tỉnh sơ kết 5 năm thực hiện Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn giai đoạn 2008 - 2013). Mốc năm 2007 được lấy làm điểm phân kỳ giữa hai giai đoạn nghiên cứu, gắn với sự kiện tổng kết 10 năm thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở trên địa bàn tỉnh và sự ra đời của Pháp lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH11.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Trong luận án, tác giả tiến hành điểm luận và phân loại tài liệu nghiên cứu liên quan thành hai nhóm công trình chính:
Nhóm thứ nhất: Các công trình nghiên cứu về dân chủ và dân chủ ở cơ sở nói chung.
Nhóm này bao gồm các bài viết, công trình của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước như Lê Khả Phiêu (1998) với bài “Phát huy quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng và thực hiện thiết chế dân chủ ở cơ sở”; Đỗ Mười (1998) với bài “Phát huy quyền làm chủ của nhân dân ở cơ sở”. Các công trình nghiên cứu lý luận và thể chế như: Nguyễn Phú Trọng, Tô Huy Rứa, Trần Khắc Việt (2004) với “Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng trong thời kỳ mới”; Thang Văn Phúc và Nguyễn Minh Phương (2004) nghiên cứu về xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức; Trần Ngọc Đường (2011) về phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực; Đào Trí Úc, Trịnh Đức Thảo, Vũ Công Giao, Trương Hồ Hải (2014) về dân chủ trực tiếp và dân chủ cơ sở trên thế giới và tại Việt Nam; Nguyễn Cúc (2002) khảo sát thực hiện Quy chế dân chủ ở các loại hình cơ sở; Phan Xuân Sơn (2013) nghiên cứu về vai trò của các đoàn thể nhân dân; Nguyễn Văn Sáu và Hồ Văn Thông (2003, 2005) về thể chế dân chủ và chính quyền cấp xã; Trần Quang Nhiếp (2006) về dân chủ với phát triển cộng đồng; Hoàng Chí Bảo (2008) về dân chủ ở nông thôn; Nguyễn Văn Mạnh và Tào Thị Quyên (2010) về dân chủ trực tiếp; Nguyễn Khắc Mai (1997) về di sản dân chủ Hồ Chí Minh. Ngoài ra còn có các nghiên cứu, bài báo và luận án tiến sĩ liên quan đến tổ chức cơ sở đảng và dân chủ của Đặng Đình Tân và Đặng Minh Tuấn (2002), Phạm Ngọc Quang (2004), Ngọ Văn Nhân (2008), Nguyễn Thọ Khang, Nguyễn Đức Ái (2001), Cao Thị Thanh Vân (2002), Hoàng Mạnh Đoàn (2002), Nguyễn Minh Tuấn (2006), Nguyễn Thanh Sơn (2010), Trần Thị Thu Hằng (2012), Trương Thị Mỹ Trang (2012), Nguyễn Văn Phương (2014).
Nhóm thứ hai: Các công trình nghiên cứu liên quan đến thực hiện dân chủ và kinh tế - xã hội tại tỉnh Thái Bình.
Nhóm này tập trung vào các ấn phẩm lịch sử địa phương và nghiên cứu chuyên đề, gồm: Bùi Sĩ Trùy (2003) nghiên cứu thực trạng nông nghiệp nông thôn Thái Bình; cuốn sách “Lịch sử Đảng bộ tỉnh Thái Bình 1975 - 2000” (2004) của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh; Nguyễn Dương An (2005) với “Thái Bình thời đổi mới”; Viên Thị An (2008, 2011) với các công trình về phát triển công nghiệp nông thôn và làng nghề; Trần Cẩm Tú (2012) về xây dựng nông thôn mới; Nguyễn Hồng Chuyên (2013, 2014) với sách và luận án tiến sĩ luật nghiên cứu thực hiện pháp luật về dân chủ ở cấp xã; Nguyễn Thị Thu Hà (2016, 2017) với bài viết và luận án tiến sĩ lịch sử nghiên cứu Đảng bộ tỉnh lãnh đạo xây dựng hệ thống chính trị cơ sở nông thôn (1997 - 2010, 1997 - 2013); Phạm Thị Kim Lan (2015) nghiên cứu về đào tạo nguồn nhân lực nông nghiệp (2001 - 2010); Trần Văn Rạng (2018) nghiên cứu công tác xây dựng tổ chức cơ sở đảng xã, phường, thị trấn (1998 - 2005); Đỗ Thị Lý (2010) nghiên cứu thi hành án dân sự; Lê Quốc Dung (2002) về chính sách kinh tế - xã hội nông thôn; Trần Công Khổng (2013) nghiên cứu xây dựng đời sống văn hóa tại huyện Quỳnh Phụ.
Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết: Tác giả nhận định các công trình đi trước đã tiếp cận vấn đề dân chủ từ nhiều góc độ khác nhau, song những nghiên cứu trực tiếp về Thái Bình chỉ dừng lại ở phạm vi khái quát, nghiên cứu từng lĩnh vực đơn lẻ, nghiên cứu theo góc độ pháp lý, hoặc chỉ khảo sát trong phạm vi một số huyện, một giai đoạn ngắn. Cho đến thời điểm tác giả thực hiện đề tài, chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện, có hệ thống cả về mặt lý luận và thực tiễn lịch sử quá trình Đảng bộ tỉnh Thái Bình lãnh đạo thực hiện dân chủ ở cơ sở từ năm 1998 đến năm 2013, làm rõ các nhân tố tác động và đúc kết thành các bài học kinh nghiệm lịch sử chuyên biệt.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Về cơ sở lý thuyết, luận án được triển khai dựa trên các nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin về bản chất nhà nước và nền dân chủ vô sản; tư tưởng Hồ Chí Minh về “dân là chủ” và “dân làm chủ”; cùng hệ thống quan điểm, nghị quyết, chỉ thị của Đảng Cộng sản Việt Nam về thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, đặc biệt là cơ chế tổng thể "Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ" và phương châm "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra".
Về phương pháp nghiên cứu, đây là công trình thuộc chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, do đó phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu được áp dụng theo hướng tiếp cận lịch sử kết hợp logic:
- Phương pháp lịch sử: Giúp tác giả thu thập, thẩm định tư liệu, tái hiện khách quan và tuần tự tiến trình lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh qua các mốc thời gian từ năm 1998 đến năm 2013.
- Phương pháp logic: Cho phép phân tích, chắt lọc các sự kiện lịch sử để tìm ra các mối liên hệ bản chất, tính quy luật và những xu hướng vận động trong công tác lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh.
- Phương pháp luận biện chứng duy vật mác-xít và quan điểm lịch sử - cụ thể: Được dùng để đặt sự kiện "điểm nóng" Thái Bình cũng như các chủ trương xử lý của Tỉnh ủy vào đúng bối cảnh kinh tế - xã hội nông thôn thời kỳ đầu đổi mới.
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Được sử dụng để đánh giá các văn kiện, tư liệu báo cáo, từ đó khái quát thành các luận điểm khoa học.
- Các phương pháp nghiên cứu liên ngành: Phương pháp thống kê, so sánh, phương pháp điều tra xã hội học và khảo sát thực tế tại cấp cơ sở nhằm lượng hóa nhận thức và đánh giá của cán bộ, đảng viên và nhân dân về hiệu quả thực thi Pháp lệnh dân chủ.
Nguồn tài liệu tham khảo của luận án bao gồm:
- Văn kiện, nghị quyết, chỉ thị của Trung ương Đảng, Quốc hội, Chính phủ (Chỉ thị số 30-CT/TW, Chỉ thị số 10-CT/TW, Nghị quyết UBTVQH khóa X, các Nghị định số 29/1998/NĐ-CP, 71/1998/NĐ-CP, 07/1999/NĐ-CP, 79/2003/NĐ-CP, Pháp lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH11).
- Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Thái Bình (Đại hội XVI năm 2001, XVII năm 2005), Nghị quyết số 06-NQ/TU ngày 12-01-1998 của Tỉnh ủy Thái Bình, các báo cáo tổng kết, sơ kết định kỳ của Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh Thái Bình và các sở, ban, ngành liên quan.
- Dữ liệu khảo sát thực tế do tác giả thực hiện và hệ thống các công trình sách chuyên khảo, bài báo khoa học, luận án tiến sĩ đã công bố.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án
Chương này tập trung hệ thống hóa toàn bộ các công trình nghiên cứu trong và ngoài tỉnh liên quan đến vấn đề dân chủ và dân chủ ở cơ sở. Tác giả chia các công trình thành hai mảng: các nghiên cứu lý luận chung về quy chế dân chủ, dân chủ trực tiếp, vai trò của Mặt trận và các đoàn thể; và các công trình gắn liền với tình hình Thái Bình trên các khía cạnh kinh tế nông thôn, hệ thống chính trị cơ sở, tổ chức cơ sở đảng và trật tự an toàn xã hội. Chương 1 chỉ ra các thành tựu về tư liệu, phương pháp của những người đi trước, đồng thời xác lập rõ khoảng trống nghiên cứu mà đề tài hướng tới: xây dựng một bức tranh lịch sử hoàn chỉnh, hệ thống về sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Thái Bình đối với việc thực hiện dân chủ ở cơ sở từ năm 1998 đến năm 2013, giải quyết mối quan hệ giữa ổn định chính trị với phát triển kinh tế - xã hội địa phương.
Chương 2: Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Thái Bình về thực hiện dân chủ ở cơ sở từ năm 1998 đến năm 2007
Chương 2 trình bày các yếu tố tác động và diễn biến quá trình lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh trong 10 năm đầu tiên:
- Các yếu tố tác động: Điều kiện tự nhiên của tỉnh là vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng ven biển, không có rừng, hệ thống sông ngòi dày đặc thuận lợi cho thâm canh lúa nước nhưng tiềm ẩn nguy cơ úng lụt, xâm nhập mặn; khoáng sản chủ yếu có mỏ khí đốt và nước khoáng ở Tiền Hải. Dân số năm 2000 là 1.820.000 người, mật độ 1.168 người/km2. Về kinh tế, trước năm 1998 nông nghiệp chiếm ưu thế nhưng mang tính nhỏ lẻ; phong trào xây dựng kết cấu hạ tầng "điện, đường, trường, trạm" phát triển mạnh nhưng làm nảy sinh mâu thuẫn giữa nhu cầu vốn lớn với khả năng đóng góp của nhân dân, dẫn đến huy động quá sức dân và phát sinh tham nhũng, thiếu minh bạch.
- Thực trạng trước năm 1998: Giai đoạn 1987 - 1997 toàn tỉnh xảy ra trên 300 vụ mâu thuẫn, tranh chấp, khiếu kiện đất đai, tố cáo cán bộ xã tham nhũng kinh tế và quan liêu hống hách. Tiêu biểu là vụ việc tại Bình Lăng (Hưng Hà) năm 1988; Bồng Tiên - Thái Lai (Vũ Thư), Vũ Tây (Kiến Xương) năm 1993; Quỳnh Xá (Quỳnh Phụ) năm 1994. Đỉnh điểm từ tháng 11-1997 đến tháng 6-1998, khiếu kiện lan rộng ra 8/8 huyện, thị với 242/285 xã, phường, thị trấn; ghi nhận 43.000 lượt người đi khiếu kiện. Nhiều nơi xảy ra hành động quá khích, bắt giữ cán bộ, đập phá trụ sở và tài sản (như tại An Ninh, Quỳnh Hoa thuộc Quỳnh Phụ; Mỹ Lộc, Thái Tân, Thái Thịnh thuộc Thái Thụy; Vũ Đông thuộc Kiến Xương). Nguyên nhân được chỉ rõ là do cán bộ thoái hóa biến chất, bán đất trái thẩm quyền, lạm thu lạm phạt, né tránh tiếp dân, cùng sự chủ quan, buông lỏng công tác kiểm tra, xây dựng Đảng của cấp ủy các cấp.
- Chủ trương và chỉ đạo: Ngày 12-01-1998, Tỉnh ủy ban hành Nghị quyết số 06-NQ/TU đề ra nhóm giải pháp ổn định tình hình, lấy công tác tư tưởng và đấu tranh chống tiêu cực làm trọng tâm. Cùng với việc quán triệt Chỉ thị số 30-CT/TW của Bộ Chính trị và các Nghị định 29/1998/NĐ-CP, 79/2003/NĐ-CP của Chính phủ, Tỉnh ủy Thái Bình đã lãnh đạo thực hiện dân chủ trên cả 3 lĩnh vực: chính trị - tư tưởng (công khai các kết luận thanh tra, luân chuyển và xử lý kỷ luật cán bộ sai phạm, nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ); kinh tế (công khai phương án đền bù, dồn điền đổi thửa, quản lý tài chính ngân sách xã); văn hóa - xã hội (thực hiện nếp sống văn minh, xây dựng hương ước làng xã). Kết quả giai đoạn này đã dập tắt các "điểm nóng", lập lại trật tự xã hội và phục hồi lòng tin của nhân dân.
Chương 3: Đảng bộ tỉnh Thái Bình lãnh đạo đẩy mạnh thực hiện dân chủ ở cơ sở từ năm 2007 đến năm 2013
Chương 3 phân tích bước chuyển biến mới trong công tác lãnh đạo khi thể chế dân chủ được luật hóa ở cấp độ cao hơn:
- Bối cảnh và chủ trương mới: Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Pháp lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH11 về thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn; Đảng Cộng sản Việt Nam thông qua Cương lĩnh bổ sung, phát triển năm 2011 xác định rõ vị trí của dân chủ xã hội chủ nghĩa.
- Chủ trương đẩy mạnh của Tỉnh ủy: Tỉnh ủy Thái Bình chỉ đạo đưa việc thực hiện Pháp lệnh dân chủ gắn chặt với chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới, cải cách hành chính theo hướng phục vụ và triển khai cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh".
- Quá trình thực hiện và kết quả: Trên lĩnh vực chính trị, tỉnh đổi mới phương thức tiếp dân, tăng cường đối thoại trực tiếp giữa người đứng đầu cấp ủy, chính quyền với nhân dân, củng cố hoạt động thanh tra nhân dân và ban giám sát đầu tư cộng đồng. Trên lĩnh vực kinh tế, nhân dân được bàn bạc, trực tiếp quyết định mức đóng góp và tự giám sát các công trình hạ tầng nông thôn mới, hiến đất làm đường giao thông, thực hiện dồn điền đổi thửa lần hai. Trên lĩnh vực văn hóa - xã hội, việc bình xét gia đình văn hóa, làng văn hóa và thực hiện các chính sách an sinh xã hội, người có công được niêm yết công khai. Đến năm 2013, việc thực hiện dân chủ ở cơ sở đã đi vào nền nếp, trở thành công cụ giám sát quyền lực tại địa phương.
Chương 4: Nhận xét và kinh nghiệm
Chương này tổng kết toàn diện 15 năm lãnh đạo, chỉ ra ưu điểm, hạn chế, nguyên nhân và đúc kết 5 bài học kinh nghiệm lịch sử:
- Ưu điểm: Đã nhanh chóng ổn định tình hình chính trị - xã hội sau biến cố 1997 - 1998; từng bước thể chế hóa quyền làm chủ của nhân dân thành các quy định, hương ước cụ thể; huy động được nguồn lực to lớn trong nhân dân để phát triển kinh tế và xây dựng hạ tầng; năng lực lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng và hiệu lực quản lý của chính quyền cấp xã được nâng lên.
- Hạn chế: Nhận thức về dân chủ ở một bộ phận cán bộ và nhân dân còn lệch lạc; công tác tuyên truyền có lúc còn hình thức; việc công khai tài chính, đất đai ở một số xã chưa triệt để; hoạt động giám sát của Mặt trận và ban thanh tra nhân dân ở một số nơi còn nể nang, thụ động.
- 5 bài học kinh nghiệm lịch sử:
- Các cấp ủy đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân phải nhận thức và quán triệt đúng, đầy đủ về vai trò, vị trí, ý nghĩa của việc thực hiện dân chủ ở cơ sở.
- Triển khai thực hiện dân chủ ở cơ sở phải luôn gắn liền với công tác kiểm tra, giám sát.
- Công tác tuyên truyền quán triệt thực hiện dân chủ ở cơ sở phải liên tục, có chiều sâu, tác động đến nhận thức và thực hành dân chủ trong tất cả cán bộ, đảng viên và nhân dân.
- Mở rộng và phát huy dân chủ phải đi đôi với giữ vững kỷ cương, kỷ luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa.
- Thực hiện dân chủ ở cơ sở không tách rời thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội.
Dưới đây là bảng tổng hợp các mốc văn bản chỉ đạo và bảng khảo sát thực nghiệm quan trọng được phản ánh trong luận án:
| Mốc thời gian / Bảng biểu |
Cơ quan ban hành / Tên bảng khảo sát |
Nội dung cốt lõi / Dữ liệu thực nghiệm |
| 12-01-1998 |
Tỉnh ủy Thái Bình (Nghị quyết 06-NQ/TU) |
Đề ra các chủ trương, giải pháp cấp bách nhằm giải quyết khiếu tố và ổn định tình hình an ninh trật tự trong tỉnh. |
| 18-02-1998 |
Bộ Chính trị khóa VIII (Chỉ thị 30-CT/TW) |
Chỉ thị về xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, nhấn mạnh phương châm "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra". |
| 11-05-1998 |
Chính phủ (Nghị định 29/1998/NĐ-CP) |
Ban hành Quy chế thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn (sau này được thay thế bằng Nghị định 79/2003/NĐ-CP ngày 07-07-2003). |
| 20-04-2007 |
UBTVQH khóa XI (Pháp lệnh 34/2007/PL-UBTVQH11) |
Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn, nâng tầm quy chế lên thành văn bản quy phạm pháp luật bắt buộc. |
| Bảng 4.1 |
Khảo sát thực tế tại tỉnh Thái Bình |
Kết quả khảo sát công tác phổ biến, tuyên truyền Pháp lệnh dân chủ trong thực hiện dân chủ ở cơ sở. |
| Bảng 4.2 |
Khảo sát thực tế tại tỉnh Thái Bình |
Kết quả khảo sát ý thức, trách nhiệm của công chức cấp xã trong quá trình giải quyết công việc tại địa phương. |
| Bảng 4.3 |
Khảo sát thực tế tại tỉnh Thái Bình |
Kết quả khảo sát tác dụng của việc triển khai Pháp lệnh dân chủ đến sự phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương. |
| Bảng 4.4 |
Khảo sát thực tế tại tỉnh Thái Bình |
Kết quả khảo sát vai trò của thực hiện Pháp lệnh dân chủ đến việc phát huy quyền làm chủ của người dân tại cấp xã. |
Kết quả và những đóng góp mới
Căn cứ vào nội dung tác giả tự nêu trong văn bản, luận án đạt được các kết quả và đóng góp mới sau:
- Về mặt khoa học lịch sử: Luận án đã phục dựng một cách chân thực, khách quan và hệ thống toàn bộ quá trình Đảng bộ tỉnh Thái Bình lãnh đạo thực hiện dân chủ ở cơ sở từ năm 1998 đến năm 2013. Công trình làm rõ hoàn cảnh lịch sử đặc thù của địa phương sau những biến động nông thôn phức tạp năm 1997 - 1998, từ đó phân tích các bước đi cụ thể của Tỉnh ủy trong việc cụ thể hóa đường lối của Trung ương vào điều kiện thực tế của tỉnh.
- Về mặt nhận định, đánh giá: Luận án đưa ra các nhận xét khách quan, toàn diện về những thành tựu đạt được cũng như những khuyết điểm, yếu kém trong quá trình chỉ đạo thực hiện dân chủ ở cơ sở trên cả 3 lĩnh vực (chính trị - tư tưởng, kinh tế, văn hóa - xã hội), đồng thời phân tích rõ các nguyên nhân khách quan và chủ quan dẫn tới những ưu, khuyết điểm đó.
- Về mặt đúc kết kinh nghiệm: Luận án đã khái quát và luận giải sâu sắc 5 bài học kinh nghiệm lịch sử có giá trị khoa học rút ra từ thực tiễn chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Thái Bình, đặc biệt là mối quan hệ biện chứng giữa phát huy dân chủ với giữ vững kỷ cương, tăng cường pháp chế và kiểm tra, giám sát.
- Về mặt thực tiễn và ứng dụng: Kết quả nghiên cứu cung cấp nguồn tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu, biên soạn và giảng dạy lịch sử Đảng bộ địa phương; đồng thời cung cấp những căn cứ khoa học cho cấp ủy, chính quyền tỉnh Thái Bình tham khảo nhằm tiếp tục bổ sung, hoàn thiện các giải pháp lãnh đạo thực hiện dân chủ ở cơ sở trong giai đoạn tiếp theo.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về hạn chế, luận án bị giới hạn bởi phạm vi nghiên cứu được xác định từ đầu: công trình chủ yếu tập trung nghiên cứu tại loại hình địa bàn hành chính cấp xã (xã, phường, thị trấn) trên 3 lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội trong khung thời gian 1998 - 2013; chưa đi sâu nghiên cứu việc thực hiện Quy chế dân chủ tại các loại hình cơ quan hành chính sự nghiệp và doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh. Bản thân tác giả trong lời cảm ơn cũng tự nhìn nhận công trình dù đã nỗ lực nghiên cứu độc lập nhưng khó tránh khỏi những hạn chế nhất định và mong muốn tiếp tục nhận được ý kiến đóng góp của các nhà khoa học.
Về hướng nghiên cứu tiếp, từ khoảng trống và phạm vi của đề tài, các hướng nghiên cứu mở rộng có thể bao gồm:
- Mở rộng khảo sát tiến trình thực hiện dân chủ ở cơ sở của tỉnh Thái Bình trong giai đoạn từ sau năm 2013 đến nay, gắn với việc thực hiện Kết luận số 120-KL/TW của Bộ Chính trị khóa XI và Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở năm 2022.
- Nghiên cứu so sánh hoặc đi sâu vào việc thực hiện dân chủ tại loại hình cơ quan nhà nước và các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Bình.
- Đánh giá chuyên sâu tác động của dân chủ cơ sở đối với các tiêu chí xây dựng nông thôn mới nâng cao và nông thôn mới kiểu mẫu tại địa phương.
Giá trị tham khảo
Luận án có giá trị tham khảo rõ rệt đối với nhiều nhóm đối tượng:
- Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên các chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Xây dựng Đảng, Chính trị học, Luận án cung cấp một khung phân tích chuẩn mực về phương pháp phục dựng lịch sử Đảng bộ địa phương gắn với xử lý khủng hoảng chính trị - xã hội.
- Đối với giảng viên lý luận chính trị: Luận án là nguồn tư liệu dẫn chứng thực tế sinh động về bài học dựa vào dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân và nguyên tắc tập trung dân chủ trong giảng dạy các chuyên đề xây dựng hệ thống chính trị cơ sở.
- Đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể (đặc biệt ở cấp huyện, xã): Luận án cung cấp những kinh nghiệm thực tế về cách thức giải quyết đơn thư khiếu nại, kỹ năng công khai minh bạch tài chính, đất đai, phương pháp tiếp dân và tổ chức thanh tra nhân dân để ngăn ngừa từ sớm các nguy cơ mất ổn định xã hội.
Các nội dung đáng tham khảo nhất trong công trình gồm: phần phân tích nguyên nhân "điểm nóng" Thái Bình trước năm 1998 tại Chương 2; các chủ trương chuyển hóa tình thế của Nghị quyết số 06-NQ/TU; và 5 bài học kinh nghiệm lịch sử được phân tích tại Chương 4.
Câu hỏi thường gặp
1. Bối cảnh bùng phát "điểm nóng" nông thôn ở Thái Bình trước năm 1998 diễn ra với quy mô và tính chất như thế nào?
Theo tư liệu lịch sử Đảng bộ tỉnh Thái Bình được luận án trích dẫn, trong 10 năm (1987 - 1997) toàn tỉnh đã phát sinh trên 300 vụ mâu thuẫn, tranh chấp, khiếu kiện đất đai và tố cáo cán bộ cơ sở tham nhũng. Đỉnh điểm từ tháng 11-1997 đến tháng 6-1998, toàn bộ 8/8 huyện, thị xã với 242 trên tổng số 285 xã, phường, thị trấn có đơn thư khiếu nại, tố cáo, thu hút 43.000 lượt người tham gia khiếu kiện các cấp. Tại nhiều xã như An Ninh, Quỳnh Hoa (huyện Quỳnh Phụ), Mỹ Lộc, Thái Tân, Thái Thịnh (huyện Thái Thụy), Vũ Đông (huyện Kiến Xương) đã xảy ra các hành vi quá khích nghiêm trọng như bao vây, truy bắt cán bộ, niêm phong tài liệu công, đập phá tài sản nhà nước và ngăn cản chính quyền thi hành nhiệm vụ.
2. Đảng bộ tỉnh Thái Bình đã đề ra quyết sách cấp bách nào vào đầu năm 1998 để ổn định tình hình?
Trước tình hình trật tự an toàn xã hội diễn biến phức tạp, ngày 12-01-1998, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Thái Bình đã họp và ban hành Nghị quyết số 06-NQ/TU về “Những chủ trương, giải pháp ổn định tình hình trong tỉnh”. Nghị quyết xác định nhiệm vụ hàng đầu là tập trung làm tốt công tác chính trị, tư tưởng, tạo sự thống nhất nhận thức trong toàn Đảng, toàn dân; kiên quyết lãnh đạo đấu tranh xử lý nghiêm minh các hành vi tham nhũng, sai phạm kinh tế và đất đai theo đúng pháp luật; chấn chỉnh tác phong làm việc của cán bộ, công chức và thiết lập lại kỷ cương, giải quyết đúng đắn các yêu cầu khiếu nại chính đáng của công dân.
3. Vì sao luận án chọn năm 2007 làm mốc phân kỳ giữa Chương 2 và Chương 3?
Năm 2007 được chọn làm điểm phân kỳ vì đây là năm Đảng bộ tỉnh Thái Bình tổ chức Hội nghị Tổng kết 10 năm thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở trên địa bàn toàn tỉnh (1998 - 2007). Đồng thời, năm 2007 cũng là thời điểm Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XI ban hành Pháp lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH11 về thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn. Sự kiện này đánh dấu bước chuyển quan trọng từ việc thực hiện "quy chế" theo các nghị định sang thực thi một văn bản pháp lệnh có tính pháp lý cao hơn, đưa việc thực hiện dân chủ ở cơ sở của tỉnh Thái Bình bước sang giai đoạn đẩy mạnh theo chiều sâu.
4. Năm bài học kinh nghiệm lịch sử cốt lõi được rút ra trong luận án là gì?
Tại Chương 4, tác giả đúc kết 5 kinh nghiệm lịch sử: thứ nhất, các cấp ủy đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và đoàn thể phải nhận thức và quán triệt đúng đắn, đầy đủ về vai trò của dân chủ cơ sở; thứ hai, việc triển khai dân chủ luôn phải gắn liền với công tác kiểm tra, giám sát thường xuyên; thứ ba, công tác tuyên truyền quán triệt phải được tiến hành liên tục, có chiều sâu; thứ tư, mở rộng và phát huy dân chủ phải đi đôi với giữ vững kỷ cương, kỷ luật và tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa; thứ năm, thực hiện dân chủ cơ sở phải gắn liền, không tách rời với việc hoàn thành các nhiệm vụ phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội.
5. Luận án đã sử dụng những nguồn dữ liệu thực nghiệm nào để minh chứng cho các nhận định tại Chương 4?
Để đảm bảo tính khách quan và khoa học, tác giả đã tiến hành điều tra xã hội học và khảo sát thực tế tại địa phương, được tổng hợp qua 4 bảng biểu định lượng: Bảng 4.1 về kết quả khảo sát công tác phổ biến, tuyên truyền Pháp lệnh dân chủ; Bảng 4.2 về kết quả khảo sát ý thức, trách nhiệm của đội ngũ công chức cấp xã trong giải quyết công việc cho người dân; Bảng 4.3 về tác dụng của việc thực hiện Pháp lệnh dân chủ đối với sự phát triển kinh tế - xã hội địa phương; và Bảng 4.4 về đánh giá vai trò của Pháp lệnh dân chủ đối với việc phát huy quyền làm chủ trực tiếp của nhân dân ở cấp xã.
Kết luận
Luận án tiến sĩ lịch sử của tác giả Đinh Ngọc Chính là công trình khoa học chuyên khảo nghiên cứu có hệ thống về sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Thái Bình trong thực hiện dân chủ ở cơ sở giai đoạn 1998 - 2013. Bằng phương pháp nghiên cứu lịch sử kết hợp logic và các tư liệu lưu trữ của địa phương, luận án đã tái hiện bức tranh chân thực từ giai đoạn xử lý khủng hoảng "điểm nóng" nông thôn năm 1997 - 1998 đến quá trình từng bước thể chế hóa, đẩy mạnh thực hiện Pháp lệnh dân chủ cấp xã. Công trình đã đánh giá khách quan các ưu điểm, khuyết điểm, chỉ rõ nguyên nhân và đúc kết 5 bài học kinh nghiệm lịch sử có giá trị thực tiễn đối với công tác xây dựng Đảng và quản lý xã hội ở cơ sở. Toàn bộ kết quả nghiên cứu góp phần bổ sung nguồn tài liệu tin cậy phục vụ nghiên cứu, giảng dạy lịch sử Đảng bộ địa phương và cung cấp luận cứ tham khảo cho việc hoạch định chính sách dân chủ ở nông thôn hiện nay.