Chương I Hiến pháp năm 2013, HTCT của nước Cộng hoà chủ xã hội chủ nghĩa Việt Nam bao gồm: Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hoà chủ xã hội chủ nghĩa Việt Nam, MTTQ Việt Nam, Công đoàn Việt Nam, Hội nông dân Việt Nam, Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam và Hội cựu chiến binh Việt Nam, trong đó Đảng Cộng sản Việt Nam là hạt nhân chính trị lãnh đạo và Nhà nước là trụ cột của HTCT. Như vậy, có thể hiểu HTCT Việt Nam bao gồm: Đảng Cộng sản Việt Nam với tư cách là đảng cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và xã hội, Đảng lãnh đạo HTCT, đồng thời là bộ phận của hệ thống ấy; Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, nhà nước là trụ cột của HTCT; MTTQ và các TCCT-XH đại diện cho ý chí và lợi ích của các tầng lớp nhân dân, đồng thời 11 thực hiện vai trò giám sát, phản biện đối với hoạt động của Đảng và Nhà nước trong việc thực hiện quyền lực của nhân dân. HTCT Việt Nam được tổ chức chặt chẽ từ trung ương xuống đến cơ sở và vận hành theo phương thức hoạt động, cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ, nhằm mục đích xây dựng, bảo vệ và phát triển bền vững Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, bảo đảm mọi quyền lực thuộc về nhân dân. HTCT cấp cơ sở là chỉnh thể các thiết chế và cơ chế thực thi quyền lực chính trị tại xã, phường, thị trấn (còn được gọi là cấp xã).
Xét từ góc độ cấu trúc tổ chức, HTCT cấp cơ sở bao gồm đảng bộ, chính quyền, MTTQ Việt Nam và các TCCT-XH cấp xã dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ nhằm thực hiện quyền làm chủ của nhân dân địa phương. HTCT cấp cơ sở là cấp gần dân nhất trong hệ thống hành chính nhà nước bốn cấp ở nước ta; là cấp chủ yếu có nhiệm vụ tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật trên địa bàn cơ sở nên tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ, công chức, phương thức hoạt động cũng như việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của các tổ chức hợp thành HTCT cấp cơ sở có sự thống nhất và gắn kết chặt chẽ so với HTCT cấp trên. Đặc điểm của HTCT cơ sở Thứ nhất: HTCT cơ sở là cấp gắn với cộng đồng dân cư. Do vậy, tổ chức và hoạt động mang tính tự quản cao.
Đây là nét đặc trưng của nước ta, do đặc điểm và truyền thống lịch sử nên tính cố kết cộng đồng thể hiện rõ nét ở cơ sở. Tính chất vừa quản lý, vừa tự quản ở cơ sở thể hiện mối quan hệ giữa phường, xã, thị trấn với tổ dân phố, thôn. Mặc khác, cơ sở là nơi cộng đồng dân cư sinh sống do vậy thường xuyên xảy ra những mâu thuẫn, thậm chí có những xung đột nảy sinh trong đời sống dân cư. Vì vậy, tổ chức và hoạt động của HTCT ở cơ sở mang tính tự quản cao.
12 Thứ hai: Cơ sở là nơi triển khai thực hiện đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước đến với dân, là nơi đánh giá để điều chỉnh chủ trương, chính sách. Đồng thời, cơ sở cũng là cấp gần nhất với thực tiễn và trực tiếp nhất với cuộc sống của dân, nơi hiểu biết rõ nhất những bức xúc mà cuộc sống của dân đang đặt ra, hiểu những tâm tư, nguyện vọng của nhân dân nên cơ sở vừa là cấp tổ chức triển khai, thực hiện, cũng đồng thời là nơi đánh giá về đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước có đi vào cuộc sống hay không để kịp thời điều chỉnh cho phù hợp với nguyện vọng của nhân dân. Thứ ba: HTCT cơ sở là cấp có bộ máy đơn giản nhất, có đội ngũ cán bộ biến động nhất, ít chuyên nghiệp nhất. Đặc điểm này bị chi phối là do cơ chế một thời gian dài cán bộ HTCT ở cơ sở không được xem là là công chức nhà nuớc và cũng như hiện nay mới công chức hóa được một phần, chế độ, chính sách còn bất cập nên họ không yên tâm công tác, không thu hút được người có trình độ chuyên môn cao.
Phần lớn cán bộ đều trưởng thành từ thực tiễn nên chưa được đào tạo bài bản, hơn nữa tâm lý ngại học tập do thu nhập không đáp ứng, công việc không ổn định. Thứ tư: HTCT cơ sở là cấp đầu tiên đối mặt với những yêu cầu bức xúc của dân chúng, những mâu thuẫn nảy sinh trong đời sống. Đời sống xã hội ở cơ sở rất nhiều phức tạp, hàng ngày phải giải quyết những mâu thuần phát sinh, những yêu cầu bức xúc của nhân dân. Do vậy, yêu cầu đặt ra là đội ngũ cán bộ ở cơ sở phải tránh xa căn bệnh quan liêu, hành chính, mệnh lệnh áp đặt, nói suông, xa rời thực tiễn mà phải sát dân, có tâm huyết, trách nhiệm với nhân dân, chăm lo mọi quyền lợi của nhân dân.
Tập hợp được nhân dân tham gia vào các phong trào xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư, phát triển kinh tế làm nhiều việc tốt ích nuớc, lợi nhà. 13 Thứ năm: HTCT cơ sở là cấp mà quan hệ dòng họ, văn hóa làng, xã có thể tác động mạnh nhất. HTCT cơ sở mà ở đó mối quan hệ trong cộng đồng dân cư bị chi phối bởi những yếu tố văn hóa làng, xã, dòng tộc có ảnh hưởng đến nội bộ tổ chức và hiệu quả hoạt động của HTCT. Trong quan hệ với dân, cán bộ cơ sở dể bị chi phối, ràng buộc bởi những yếu tố đó.
Do đó cần phải hết sức chú ý khắc phục tư tưởng dòng tộc, cục bộ địa phương lợi dụng chức quyền theo kiểu “một nguời làm quan, cả họ được nhờ”. Bên cạnh đó ngoài sự chi phối của pháp luật cộng đồng dân cư thường được điều chỉnh bằng nhiều quy định và thiết chế khác nhau, chính thức hoặc phi chính thức, trong đó có cả những quy định, hương uớc và thiết chế do chính những thành viên trong cộng đồng lập ra. Xây dựng nông thôn mới 1. Khái niệm nông thôn mới Là nông thôn có kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý; xã hội dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; đời sống vật chất, tinh thần được nâng cao; môi trường sinh thái được bảo vệ; an ninh trật tự được giữ vững.
Khái niệm xây dựng nông thôn mới Xây dựng nông thôn mới là cuộc cách mạng và là một cuộc vận động lớn hướng đến xây dựng thôn, xã, gia đình khang trang, sạch đẹp. Mang đến điều kiện phát triển, hiện đại và đáp ứng nhu cầu sống ngày càng cao. Đồng thời, phát triển sản xuất toàn diện về nông – công nghiệp và dịch vụ. Đây là các ngành còn chưa đủ điều kiện, cơ sở và tiềm năng phát triển tại khu vực này.
Xây dựng nông thôn mới giúp người dân được đảm bảo, thu nhập và đời sống vật chất-tinh thần. 14 Căn cứ trên tinh thần của Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành TW Đảng khóa X, Chính phủ đã xây dựng và triển khai “Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới”. Từ đó mở ra quyết tâm trong định hướng thúc đẩy phát triển ở nông thôn, tránh khác biệt quá lớn giữa các vùng miền, khu vực. Đây là chương trình tổng thể về phát triển kinh tế – xã hội, chính trị, an ninh quốc phòng.
Mang đến đồng đều trong khả năng, cơ hội và điều kiện phát triển. Quan điểm của Đảng và chính sách của Nhà nƣớc về xây dựng nông thôn mới 1. Quan điểm của Đảng Đảng và Nhà nước luôn quan tâm và có nhiều chủ trương lớn về nông nghiệp, nông dân và nông thôn. Các chủ trương của Đảng đã được thể chế hóa bằng các chính sách và được các cấp, các ngành, các địa phương triển khai trong thực tế.
Cho đến nay chúng ta đã có một hệ thống đường lối, cơ chế, chính sách và pháp luật khá đồng bộ và đầy đủ liên quan đến xây dựng HTCT cấp cơ sở và XDNTM. Chẳng hạn, Bộ Chính trị khóa VIII đã ban hành Chỉ thị số 30-CT/TW ngày 18/02/1998 về xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở; Tiếp đó, Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa X đã ban hành Kết luận số 65-KL/TW, ngày 04/3/2010 về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 30- CT/TW của Bộ Chính trị khóa VIII về thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở; Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 05/8/2008 của Ban chấp hành Trung ương khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn; Nghị quyết Trung ương 5 (khóa IX) về Đổi mới và nâng cao chất lượng HTCT ở cơ sở xã, phường, thị trấn; Nghị quyết số 22-NQ/TW Hội nghị Trung ương 6 (khóa X) về nâng cao năng lực và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở và chất lượng đội ngũ cán bộ đảng viên. Chỉ thị số 10-CT/TW ngày 15/12/2016 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với cuộc vận động Toàn dân đoàn kết xây dựng nông 15 thôn mới, đô thị văn minh. Đặc biệt, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng tiếp tục khẳng định: Xây dựng, phát huy vai trò của giai cấp nông dân, chủ thể của quá trình phát triển nông nghiệp, XDNTM.
Hỗ trợ, khuyến khích nông dân học nghề, chuyển dịch cơ cấu lao động, tiếp nhận và ứng dụng tiến bộ khoa học-công nghệ, tạo điều kiện thuận lợi để nông dân chuyển sang làm công nghiệp và dịch vụ. Nâng cao năng suất lao động trong nông nghiệp, mở rộng và nâng cao chất lượng cung ứng các dịch vụ cơ bản về điện, nước sạch, y tế, giáo dục, thông tin…, cải thiện chất lượng cuộc sống của dân cư nông thôn; thực hiện có hiệu quả, bền vững công cuộc xóa đói, giảm nghèo, làm giàu hợp pháp [5, tr 161]. Nhận thức rõ tầm quan trọng của HTCT cũng như vấn đề đổi mới HTCT, trong các văn kiện được thông qua tại Đại hội XIII, so với Đại hội XII, Đảng ta đã rất chú trọng đến những nội dung trọng tâm, những nhận thức mới về HTCT và nêu rõ, đề cập đến những vấn đề liên quan đến đổi mới HTCT Việt Nam trong thời gian tới.