CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC TỔ CHỨC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH AN SINH XÃ HỘI 1. Cơ sở lý luận về công tác tổ chức chính sách an sinh xã hội 1. Một số khái niệm 1. Chính sách Thuật ngữ chính sách được sử dụng rất phổ biến trên các phương tiện thông tin đại chúng, trên sách báo và trong mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội.
Tuy nhiên, trên thực tế lại có nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm chính sách. Theo Nghị định 34/2016/NĐ-CP, “Chính sách là định hướng, giải pháp của Nhà nước để giải quyết vấn đề của thực tiễn nhằm đạt được mục tiêu nhất định. Chính sách là một hệ thống nguyên tắc có chủ ý hướng dẫn các quyết định và đạt được các kết quả hợp lý. Một chính sách là một tuyên bố về ý định, và được thực hiện như một thủ tục hoặc giao thức.
Các chính sách thường được cơ quan quản trị thông qua trong một tổ chức. Chính sách có thể hỗ trợ cả việc đưa ra quyết định chủ quan và khách quan. Các chính sách hỗ trợ trong việc ra quyết định chủ quan thường hỗ trợ quản lý cấp cao với các quyết định phải dựa trên thành tích tương đối của một số yếu tố và do đó thường khó kiểm tra khách quan, ví dụ: chính sách cân bằng giữa công việc và cuộc sống. Các chính sách tương phản để hỗ trợ việc ra quyết định khách quan thường hoạt động trong tự nhiên và có thể được kiểm tra khách quan.
Thuật ngữ này có thể áp dụng cho chính phủ, các tổ chức và nhóm tư nhân, cũng như các cá nhân. Các lệnh điều hành của tổng thống, chính sách quyền riêng tư của công ty và các quy tắc của quốc hội về trật tự là các ví dụ về chính sách. An sinh xã hội Cho đến nay, do tính chất phức tạp và đa dạng của an sinh xã hội nên vẫn còn nhiều nhận thức khác nhau về vấn đề này. Khái niệm về an sinh xã hội cũng còn khá khác biệt giữa các quốc gia.
Ngân hàng Thế giới (WB) cho rằng: “An sinh xã hội là những biện pháp công cộng nhằm giúp cho các cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng đương đầu và kiềm chế được nguy cơ tác động đến thu nhập nhằm giảm tính dễ bị tổn thương và những bấp bênh về thu nhập”. Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) quan niệm: “An sinh xã hội là một hệ thống chính sách công nhằm giảm nhẹ tác động bất lợi của những biến động đối với các hộ gia đình và cá nhân”. Theo Tổ chức Lao động quốc tế (ILO): “An sinh xã hội là sự cung cấp phúc lợi cho các hộ gia đình và cá nhân thông qua cơ chế của nhà nước hoặc tập thể nhằm ngăn chặn sự suy giảm mức sống hoặc cải thiện mức sống thấp”. Theo “Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam” cũng đã thống nhất khái niệm về an sinh xã hội (Social Security) là: “Sự bảo vệ của xã hội đối với công dân thông qua các biện pháp công cộng nhằm giúp họ khắc phục những khó khăn về kinh tế và xã hội; đồng thời bảo đảm chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình đông con.
ASXH xét với tư cách là một hệ thống theo công ước số 102 “Công ước về quy phạm tối thiểu về an toàn xã hội” được hội nghị toàn thể của tổ chức lao động quốc tế (ILO) thông qua ngày 28/6/1952, bao gồm các chi nhánh: Chăm sóc về y tế; Trợ cấp ốm đau; Trợ cấp thất nghiệp; Trợ cấp tuổi già (hưu bổng); Trợ cấp trong trường hợp tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp; Trợ cấp gia đình (phụ cấp gia đình); Trợ cấp thai sản; Trợ cấp tàn tật; Trợ cấp tiền tuất. - Tác giả Mai Ngọc Cường lại cho rằng, để thấy hết được bản chất của ASXH, chúng ta cần phải tiếp cận theo cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp của khái niệm này. 6 + Theo nghĩa rộng: ASXH là sự đảm bảo thực hiện các quyền để con người được an bình, đảm bảo an ninh, an toàn trong xã hội. + Theo nghĩa hẹp: ASXH là sự đảm bảo thu nhập và một số điều kiện thiết yếu khác cho cá nhân, gia đình và cộng đồng khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do họ bị giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc mất việc làm; cho những người già cô đơn, trẻ em mồ côi, người tàn tật, những người yếu thế, người bị thiên tai dịch hoạ.
Về mặt bản chất, an sinh xã hội là góp phần đảm bảo thu nhập và đời sống cho các công dân trong xã hội khi họ không may gặp phải những “rủi ro xã hội” hoặc các “biến cố xã hội” dẫn đến ngừng hoặc giảm thu nhập. Phương thức hoạt động là thông qua các biện pháp công cộng. Mục đích là tạo ra sự “an sinh” cho mọi thành viên trong xã hội và vì vậy mang tính xã hội và tính nhân văn sâu sắc, đây cũng là tư tưởng muốn hướng tới sự hưng thịnh và hạnh phúc cho mọi người và cho xã hội. Chính sách an sinh xã hội a.
Khái niệm Chính sách an sinh xã hội là những chính sách bảo vệ của nhà nước nhằm phòng ngừa hạn chế và khắc phục rủi ro cho các thành viên của mình khi họ bị mất hoặc giảm thu nhập do các nguyên nhân ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, già cả không còn sức lao động hoặc vì các nguyên nhân khác thông qua các chính sách BHXH, BHYT, ƯĐXH và TGXH. Chính sách an sinh xã hội là văn bản quy định pháp quy cụ thể của cơ quan nhà nước có thẩm quyền được ra quyết định này, trong đó quy định bảo đảm an sinh xã hội cho từng đối tượng, hoặc từng nhóm đối tượng cụ thể: (chính sách đối với người có công, thương binh, liệt sỹ, người tham gia kháng chiến, người nhiễm chất độc da cam), hoặc chính sách về hỗ trợ bảo hiểm y tế, Bảo hiểm xã hội đối với người nghèo, hộ nghèo, hộ cận nghèo, trẻ em dưới 6 tuổi. 7 Chính sách an sinh xã hội là hệ thống chính sách quan trọng trong hệ thống chính sách phát triển của một quốc gia. Nhà nước Việt Nam đang từng bước hoàn thiện hệ thống chính sách an sinh xã hội (ASXH) theo hướng sử dụng những công cụ của thị trường để thực hiện các mục tiêu xã hội.
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và mục tiêu phát triển bền vững của Việt Nam, nhất thiết cần phải học những bài học kinh nghiệm về xây dựng và thực thi chính sách an sinh xã hội của các nước trên thế giới để có những bước áp dụng phù hợp và hiệu quả trong điều kiện cụ thể của Việt Nam. Nội dung của chính sách an sinh xã hội Chính sách an sinh xã hội ở Việt Nam hiện nay được thực hiện thông qua 5 trụ cột cơ bản là: Chính sách Bảo hiểm xã hội; Chính sách Bảo hiểm y tế; Chính sách Bảo hiểm thất nghiệp; Chính sách Cứu trợ xã hội; Chính sách Trợ giúp và ưu đãi xã hội. Xét về thực chất, 5 trụ cột này là nhằm thực hiện 3 chức năng cơ bản sau: -Thứ nhất, những chính sách, chương trình phòng ngừa rủi ro. Đây là tầng trên của hệ thống an sinh xã hội.
Chức năng của những chính sách này là hướng tới can thiệp và bao phủ toàn bộ dân cư; giúp cho mọi tầng lớp dân cư có được việc làm, thu nhập, có được năng lực vật chất cần thiết để đối phó tốt nhất với rủi ro. Trụ cột cơ bản của tầng này là những chương trình về thị trường lao động tích cực như đào tạo nghề, hỗ trợ người tìm việc, tự tạo hoặc đào tạo nâng cao kỹ năng cho người lao động. -Thứ hai, những chính sách, những chương trình giảm thiểu rủi ro. Đây là tầng thứ hai, gồm các chiến lược giảm thiểu thiệt hại do rủi ro của hệ thống an sinh xã hội, có vai trò đặc biệt quan trọng.
nội dung quan trọng nhất trong tầng này là các hình thức bảo hiểm, dựa trên các nguyên tắc đóng, hưởng như: bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, nhóm chính sách này 8 rất nhạy cảm, nếu phù hợp sẽ thúc đẩy sự tham gia tích cực của người dân, tiết kiệm nguồn lực cho nhà nước, tăng độ bao phủ hệ thống. ngược lại , nếu chính sách không phù hợp, người dân sẽ không tham gia hoặc chính sách sẽ bị lạm dụng. -Thứ ba, những chính sách, chương trình khắc phục rủi ro, bao gồm các chính sách chương trình về cứu trợ và trợ giúp xã hội. Đây là tầng cuối cùng của hệ thống an sinh xã hội với chức năng bảo đảm an toàn cho các thành viên xã hội khi họ gặp phải rủi ro mà bản thân không tự khắc phục được như : thất nghiệp, người thiếu việc làm, người có thu nhập thấp, người già, người tàn tật, trẻ em mồ côi, người nghèo,.
So với mô hình phổ biến trên thế giới, hệ thống an sinh xã hội ở nước ta có một phần đặc thù, đó là chính sách ưu đãi xã hội, chính sách này nhằm thực hiện cả mục tiêu cao cả là đền ơn, đáp nghĩa với sự hy sinh, công lao đặc biệt và cống hiến to lớn của những người có công với cách mạng, với đất nước, thực hiện trách nhiệm của nhà nước, của xã hội chăm lo, bảo đảm cho người có công có cuộc sống ổn định và ngày càng được cải thiện. Vai trò của chính sách an sinh xã hội Để thấy được vai trò của chính sách ASXH chúng ta xem xét hai khía cạnh: - Thứ nhất, vai trò của chính sách ASXH đối với nhà nước và cộng đồng: Chính sách ASXH là một trong những hợp phần quan trọng trong chương trình xã hội của một quốc gia và là một công cụ quản lý của nhà nước, qua đó giữ gìn sự ổn định về chính trị - kinh tế - xã hội, giảm bất bình đẳng, phân hoá giàu nghèo, phân tầng xã hội; tạo sự đồng thuận giữa các giai tầng, các nhóm xã hội trong quá trình phát triển. Thông qua cách thức thiết kế và thực hiện chính sách ASXH còn cho thấy mô hình phát triển xã hội, quan điểm lựa chọn đầu tư cho con người của mỗi nhà nước. - Thứ hai, vai trò của chính sách ASXH đối với các cá nhân và hộ gia đình: 9 Chính sách ASXH cung cấp cho những người bất hạnh, những người kém may mắn những điều kiện và lực đẩy cần thiết để khắc phục những “rủi ro”, nhanh chóng hoà nhập vào cộng đồng.