Đặt vấn đề và lý do nghiên cứu Báo cáo “Điểm lại cập nhật tình hình phát triển kinh tế Việt Nam 2014” của Ngân hàng thế giới tháng 12/2014 cho thấy năm 2014 các doanh nghiệp trong nƣớc vẫn chƣa vƣợt qua khó khăn thách thức mà họ đã đối mặt trong vài năm trở lại đây. Số lƣợng các doanh nghiệp bị đóng cửa, phá sản hoặc tạm ngừng hoạt động vẫn tiếp tục gia tăng. Các doanh nghiệp tƣ nhân trong nƣớc đang bị tác động tiêu cực bởi khả năng hạn chế trong tiếp cận nguồn vốn, do lực cầu nội địa yếu và do môi trƣờng cạnh tranh không bình đẳng với các doanh nghiệp nhà nƣớc. Theo số liệu và đánh giá của Tổng cục Thống kê trong báo cáo tình hình kinh tế - xã hội năm 2014: trong năm 2014 cả nƣớc có 67.823 doanh nghiệp khó khăn buộc phải giải thể, số lƣợng doanh nghiệp giải thể phần lớn là những doanh nghiệp nhỏ có quy mô vốn dƣới 10 tỷ đồng.
Tổng cục Thống kê cho rằng số lƣợng doanh nghiệp giải thể là do xu hƣớng thanh lọc diễn ra mạnh, từ năm 2013 đến nay đã sàng lọc những doanh nghiệp thực sự có chất lƣợng, không chỉ linh hoạt để tồn tại qua giai đoạn khó khăn nhất mà còn tìm kiếm thêm cơ hội kinh doanh mới để mở rộng quy mô hoạt động. Chính phủ Việt Nam với công cụ chính sách tài khóa đã làm gì để thúc đẩy doanh nghiệp phát triển? Tô Trung Thành & Nguyễn Ngọc Anh (2012) điểm lại tình hình kinh tế Việt Nam trong các năm qua cho thấy năm 2008 cùng với suy thoái kinh tế toàn cầu, kinh tế Việt Nam có dấu hiệu suy thoái, để kích thích nền kinh tế năm 2009 Chính phủ đã thực hiện chính sách kích cầu với Nghị quyết 30/2008/NQ-CP, đến cuối năm 2010 nền kinh tế đối diện với lạm phát tăng cao, xuất hiện mầm mống bất ổn kinh tế vĩ mô Chính phủ đã quyết định đánh đổi giữa tăng trƣởng và lạm phát bằng Chính sách thắt chặt chi tiêu công với Nghị quyết 11/NQ-2011, và chính sách này vẫn còn thực hiện quyết liệt cho đến nay. Nhƣ vậy, chi tiêu công và chính sách tài khóa mà Chính phủ Việt nam áp dụng thực sự có tác động đến sự phát triển của doanh nghiệp hay không? đây là lý do tác giả nghiên cứu “Vai trò của chi ngân sách địa phƣơng đối với sự phát triển doanh nghiệp sản xuất tƣ nhân ở Việt Nam” nhằm làm rõ vấn đề nêu trên. Câu hỏi nghiên cứu Để giải quyết vấn đề nghiên cứu trên, đề tài tập trung vào các câu hỏi nghiên cứu sau: (1) Chi ngân sách địa phƣơng tác động đến sự phát triển doanh nghiệp sản xuất tƣ nhân ở Việt Nam nhƣ thế nào, chính sách tài khóa mà Chính phủ Việt Nam áp dụng có thật sự tác động đến doanh nghiệp sản xuất tƣ nhân hay không? (2) Định lƣợng mức độ ảnh hƣởng của chi ngân sách địa phƣơng, chính sách tài khóa đến sự phát triển doanh nghiệp sản xuất tƣ nhân ở Việt Nam là bao nhiêu? (3) Giải pháp nào để chi ngân sách địa phƣơng có tác động tích cực đến sự phát triển doanh nghiệp sản xuất tƣ nhân ở Việt Nam? 1.
Mục tiêu nghiên cứu Để trả lời cho các câu hỏi nghiên cứu trên, đề tài tập trung giải quyết các mục tiêu nghiên cứu sau: (1) Xác định vai trò của chi ngân sách địa phƣơng đối với sự phát triển doanh nghiệp sản xuất tƣ nhân ở Việt Nam. (2) Đo lƣờng mức độ ảnh hƣởng của chi ngân sách địa phƣơng đến sự phát triển doanh nghiệp sản xuất tƣ nhân ở Việt Nam. (3) Đề xuất giải pháp, chính sách để chi ngân sách địa phƣơng có tác động tích cực đến sự phát triển doanh nghiệp sản xuất tƣ nhân ở Việt Nam. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu Đề tài tập trung nghiên cứu chi ngân sách địa phƣơng và các thành phần của chi ngân sách địa phƣơng nhƣ chi đầu tƣ phát triển, chi thƣờng xuyên tác động nhƣ thế nào và mức độ tác động của chúng đến việc đầu tƣ vốn sản xuất của các doanh nghiệp sản xuất tƣ nhân đang hoạt động trong nền kinh tế ở 63 tỉnh, thành phố trong cả nƣớc.
Đề tài cũng nghiên cứu tác động, mức độ, và độ trễ tác động của chính sách tài khóa mở rộng, thắt chặt mà Chính phủ Việt Nam áp dụng thời gian qua đến doanh nghiệp sản xuất tƣ nhân trong điều kiện thể chế của Việt Nam. Bên cạnh đó đề tài cũng nghiên cứu các biến số kinh tế vĩ mô khác mà tác giả cho rằng có ảnh hƣởng đến việc đầu tƣ vốn của doanh nghiệp sản xuất tƣ nhân nhƣ tiêu dùng nội địa, độ mở thƣơng mại địa phƣơng , vốn doanh nghiệp FDI đầu tƣ vào nền kinh tế, tăng trƣởng kinh tế địa phƣơng. Ngân sách Nhà nước NSNN là một tài liệu phản ánh số thuế thu đƣợc và các khoản chi tiêu công của Chính phủ trong một năm. NSNN có nhiều chức năng, xét về góc độ tài chính NSNN đóng một vai trò quan trọng trong việc xác định sự lành mạnh của toàn bộ nền kinh tế, Hughes (2012).
Ngân sách nhà nƣớc là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nƣớc đã đƣợc cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền quyết định và đƣợc thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nƣớc, Luật Ngân sách Nhà nƣớc (2002). Samuelson & Nordhaus (1997), ngân sách của chính phủ có ba chức năng chính: i) ngân sách là một công cụ mà theo đó sản lƣợng quốc gia đƣợc phân chia giữa tiêu dùng và đầu tƣ tƣ nhân và công cộng; ii) thông qua chi tiêu trực tiếp và các khuyến khích gián tiếp về thuế, ngân sách của chính phủ tác động đến cung các đầu vào nhƣ lao động, vốn và tác động đến đầu ra của các khu vực; iii) chính sách tài khóa của chính phủ hay ngân sách có vai trò trong việc tác động đến những mục tiêu kinh tế vĩ mô then chốt nhƣ hạn chế những dao động của chu kỳ kinh doanh và góp phần duy trì một nền kinh tế tăng trƣởng, có mức hữu nghiệp cao, tránh đƣợc lạm phát lớn hay lạm phát không ổn định. Phân cấp quản lý ngân sách Tại Việt Nam, Ngân sách Nhà nƣớc đƣợc phân cấp thành 2 cấp ngân sách, gồm: Ngân sách Trung ƣơng và Ngân sách địa phƣơng, trong đó Ngân sách địa phƣơng bao gồm 3 cấp ngân sách là Ngân sách cấp tỉnh, Ngân sách cấp huyện và Ngân sách cấp xã, Nghị định số 60/2003/NĐ-CP (2003). Chi tiêu công (Chi ngân sách nhà nước) “Chi tiêu công là các khoản chi tiêu của các cấp chính quyền, các đơn vị quản lý hành chính, các đơn vị sự nghiệp đƣợc sự kiểm soát và tài trợ bởi chính phủ.Chi tiêu công phản ánh giá trị của các loại hàng hóa mà chính phủ mua vào để qua đó cung cấp các loại hàng hóa công cho xã hội nhằm thực hiện các chức năng của nhà nƣớc”, Sử Đình Thành & Bùi Thị Mai Hoài (2009, trang 82).
Perkins và cộng sự (2010), tất cả mọi xã hội đều cần có một khu vực công, bởi vì cơ chế thị trƣờng không thể thực hiện mọi chức năng kinh tế mà hộ gia đình cần, thị trƣờng không thể tự mình thỏa mãn mọi nhu cầu của ngƣời tiêu dùng một cách có hiệu Trang 4 quả. Để khắc phục những khiếm khuyết của thị trƣờng cần có một khu vực công để thực hiện chức năng cung cấp hàng hóa công cho xã hội. Cơ cấu chi tiêu công: Chi tiêu công gồm có chi đầu tƣ phát triển, chi thƣờng xuyên và chi ngân sách khác, Nghị định 60/2003/NĐ-CP (2003). Chi Ngân sách địa phương Nghị định 60/2003/NĐ-CP năm 2003 của Chính phủ quy định chi ngân sách địa phƣơng gồm có các khoản chi sau: Chi đầu tƣ phát triển: Chi đầu tƣ phát triển thuộc Ngân sách địa phƣơng gồm các khoản chi: a) Đầu tƣ xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội không có khả năng thu hồi vốn do địa phƣơng quản lý; b) Đầu tƣ và hỗ trợ cho các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế, các tổ chức tài chính của Nhà nƣớc theo quy định của pháp luật; c) Phần chi đầu tƣ phát triển trong các chƣơng trình quốc gia do các cơ quan địa phƣơng thực hiện; d) Các khoản chi đầu tƣ phát triển khác theo quy định của pháp luật.
Chi thƣờng xuyên: Chi thƣờng xuyên thuộc Ngân sách địa phƣơng là những khoản chi: a) Các hoạt động sự nghiệp giáo dục, đào tạo, dạy nghề, y tế, xã hội, văn hóa thông tin văn học nghệ thuật, thể dục thể thao, khoa học và công nghệ, môi trƣờng, các sự nghiệp khác do địa phƣơng quản lý; b) Các hoạt động sự nghiệp kinh tế do địa phƣơng quản lý : i) Sự nghiệp giao thông; ii) Sự nghiệp nông nghiệp, thủy lợi, ngƣ nghiệp, diêm nghiệp và lâm nghiệp; iii) Sự nghiệp thị chính; iv) Đo đạc, lập bản đồ và lƣu trữ hồ sơ địa chính và các hoạt động sự nghiệp địa chính khác; v) Điều tra cơ bản; vi) Các hoạt động sự nghiệp về môi trƣờng; vii) Các sự nghiệp kinh tế khác; c) Các nhiệm vụ về quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội do ngân sách địa phƣơng thực hiện theo quy định của Chính phủ; d) Hoạt động của các cơ quan nhà nƣớc, cơ quan Đảng Cộng sản Việt Nam ở địa phƣơng; đ) Hoạt động của các cơ quan địa phƣơng của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh; e) Hỗ trợ cho các tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp ở địa phƣơng theo quy định của pháp luật; g) Thực hiện các chính sách xã hội đối với các đối tƣợng do địa phƣơng quản lý; h) Phần chi thƣờng xuyên trong các chƣơng trình quốc gia do các cơ quan địa phƣơng thực hiện; i) Trợ giá Trang 5 theo chính sách của Nhà nƣớc; k) Các khoản chi thƣờng xuyên khác theo quy định của pháp luật. Chi ngân sách địa phƣơng khác: Chi ngân sách địa phƣơng khác là những khoản chi: i) Chi trả gốc, lãi tiền huy động cho đầu tƣ theo quy định tại Khoản 3 Điều 8 của Luật Ngân sách nhà nƣớc; ii) Chi bổ sung Quỹ dự trữ tài chính của cấp tỉnh; iii) Chi bổ sung cho ngân sách cấp dƣới; iv) Chi chuyển nguồn ngân sách địa phƣơng năm trƣớc sang ngân sách địa phƣơng năm sau.