Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THƯC TIỄN VỀ THỰC THI CHÍNH SÁCH DÂN TỘC 1. Cơ sở lý luận về thực thi chính sách dân tộc 1. Chính sách dân tộc 1.1 Dân tộc, dân tộc thiểu số Dân tộc là một khái niệm được hiểu theo nhiều cấp độ khác nhau. Dân tộc được hiểu theo nghĩa rộng là dân tộc quốc gia (Nation) “Dân tộc hay quốc gia dân tộc là một cộng đồng chính trị xã hội được chỉ đạo bởi một nhà nước, thiết lập trên một lãnh thổ nhất định, ban đầu được hình thành do sự tập hợp của nhiều bộ lạc và liên minh bộ lạc, sau này là của nhiều cộng đồng mang tính tộc người (Bế Trường Thành, 2010).
Dân tộc (cộng đồng): theo nghĩa rộng là cộng đồng người có chung nền văn hóa, nhóm sắc tộc, ngôn ngữ, nguồn gốc, lịch sử; đôi khi bao gồm nhiều nhóm sắc tộc. Tính chất của dân tộc phụ thuộc vào những phương thức sản xuất khác nhau” (từ điển Bách Khoa Việt Nam). Về lịch sử phát triển các dân tộc, khái niệm dân tộc (Ethnic): “Đồng nghĩa với cộng đồng mang tính tộc người, cộng đồng này có thể là bộ phận chủ yếu hay thiểu số của một dân tộc sinh sống ở nhiều quốc gia dân tộc khác nhau, được liên kết với nhau bằng những đặc điểm ngôn ngữ, văn hoá, nhất là ý thức tự giác tộc người” (Bế Viết Đẳng, 1996). “Vấn đề dân tộc đó là vấn đề về việc xác lập những quan hệ công bằng và bình đẳng giữa các dân tộc về mặt kinh tế, chính trị, xã hội, lãnh thổ, sinh hoạt, văn hóa, ngôn ngữ”.
“Vấn đề dân tộc là vấn đề rộng lớn, bao gồm những quan hệ về chính trị, kinh tế, lãnh thổ, pháp lý, tư tưởng và văn hóa giữa các dân tộc, các nhóm dân tộc và bộ lạc”. Như vậy, nói về vấn đề dân tộc là nói đến mối quan hệ giữa các dân tộc (hoặc giữa các tộc người) trong một quốc gia và 6 giữa các dân tộc quốc gia này với dân tộc quốc gia khác trên thế giới về chính trị, tư tưởng, kinh tế, văn hóa, xã hội, lãnh thổ, pháp lý. Quan điểm đánh giá, giải quyết vấn đề dân tộc phụ thuộc vào quan điểm của các giai cấp lãnh đạo, các đảng phái cầm quyền trong lịch sử xã hội (Đậu Tuấn Nam, 2009). Khái niệm “Dân tộc thiểu số” (tộc người thiểu số hay dân tộc ít người) là thể hiện trong mối tương quan về số lượng dân số (nhân khẩu) giữa các nhóm dân tộc trong một quốc gia.
Nếu như dân tộc đa số là dân tộc chiếm số lượng đông nhất, trên 50% dân số trong một quốc gia thì ngược lại, “dân tộc thiểu số” là các dân tộc chiếm số dân ít hơn so với dân tộc đông nhất, tức là các dân tộc còn lại. Tại Điều 5, Nghị định về Công tác dân tộc của Chính phủ ban hành ngày 14/01/2011 qui định: “Dân tộc thiểu số là những dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa số trên phạm vi lãnh thổ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam” và “Dân tộc đa số là dân tộc có số dân chiếm trên 50% tổng dân số của cả nước, theo điều tra dân số quốc gia” (…. Việt Nam là quốc gia đa dân tộc, ngoài dân tộc Kinh là dân tộc đa số chiếm gần 86% dân số cả nước, 53 dân tộc còn lại là các DTTS chỉ chiếm hơn 14% dân số. Khái niệm “vùng dân tộc thiểu số” hay “vùng đồng bào dân tộc”, “vùng dân tộc và miền núi”… xuất hiện trong vài thập kỷ trở lại đây trong các văn bản hành chính nhà nước cũng như các nghiên cứu có liên quan.
Tuy nhiên, để có một tiêu chí xác định trong quản lý nhà nước thì phải đến năm 2011, khái niệm này mới được xác định: “Vùng dân tộc thiểu số là địa bàn có đông các dân tộc thiểu số cùng sinh sống ổn định thành cộng đồng trên lãnh thổ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam” (Bế Viết Đẳng, 2010). Chính sách dân tộc Thuật ngữ “chính sách” được dùng rộng rãi trong lý thuyết phát triển hiện đại. Có nhiều cách tiếp cận để đưa ra những khái niệm về chính sách, dưới các góc độ quản lý, chính trị hay hành chính. Tiếp cận dưới góc độ quản lý, “chính sách” được xem xét ở hai mức độ phạm vi: Ở phạm vi hẹp, chính 7 sách đặt trong mối quan hệ giữa chủ thể và đối tượng quản lý, là những qui định, điều kiện của chủ thể quản lý đặt ra và thực thi nhằm đưa hoạt động của đối tượng quản lý theo ý chí, mục đích của mình.
Rộng hơn, chính sách đặt trong mối quan hệ giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý còn được hiểu như là những đối sách, ứng xử của tổ chức, quốc gia đối với môi trường xã hội, tự nhiên và chính trị mà chính thể đó tại. Nhất là trong hệ thống mở về kinh tế, chính trị - xã hội hiện đại, ở đó xuất hiện nhiều mối quan hệ với những vị trí, vai trò, sự tương tác khác nhau (Lê Ngọc Thắng, 2005). Theo Vũ Cao Đàm, thì chính sách là một thiết chế xã hội, bao gồm tập hợp nhiều thiết chế: thiết chế thành văn, thiết chế bất thành văn, thiết chế công bố và thiết chế ngầm định. Trong khuôn khổ luận văn, nghiên cứu chỉ đề cập đến thiết chế thành văn tức là những chính sách được pháp luật qui định gắn với nội dung quản lý nhà nước.
“Chính sách công là một chuỗi các quyết định hoạt động của nhà nước nhằm giải quyết một vấn đề đang đặt ra trong đời sống kinh tế, xã hội theo mục tiêu xác định”. (Lê Duy Đại, 2002) Chính sách công là quyết sách của Nhà nước (hay Chính phủ) nhằm định hướng sự phát triển hoặc giải quyết những vấn đề bức xúc, nảy sinh trong đời sống KT-XH theo mục tiêu mong muốn, và được thực thi chủ yếu thông qua hoạt động của các ngành, các cấp có liên quan trong bộ máy nhà nước. Chính sách công được định dạng theo mục tiêu tác động và nhóm lĩnh vực là cách tiếp cận chính để tác giả phân loại, đánh giá, phân tích hệ thống chính sách liên quan đến phát triển vùng DTTS ở Việt Nam (Lê Duy Đại, 2002). Chính sách dân tộc của Nhà nước Việt Nam là một bộ phận quan hệ hữu cơ với công tác dân tộc và chính sách quốc gia, được qui định bởi quan điểm về vấn đề dân tộc, xử lý vấn đề dân tộc và cách thức thực hiện công tác dân tộc.
Chính sách dân tộc ở Việt Nam mang tính chính trị sâu sắc, là sự thể chế hoá nguyên tắc, chủ trương, đường lối Nghị quyết của Đảng và Nhà nước. 8 Vấn đề dân tộc mang tính lịch sử. Từ khi mới thành lập, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định rõ tầm quan trọng của vấn đề dân tộc, CSDT trong sự nghiệp cách mạng. Quan điểm cơ bản của Đảng, Nhà nước là: “giải quyết vấn đề dân tộc ở nước ta là giải phóng con người thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, thực hiện dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh; thực hiện dân chủ, tự do cho các dân tộc, phát huy truyền thống đoàn kết xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc”.
(Lê Duy Đại, 2002) Dưới góc độ quản lý nhà nước, khái niệm trên được phát triển cụ thể hơn: “Chính sách dân tộc là hệ thống những quyết sách của Đảng, Nhà nước được thực thi thông qua bộ máy hành pháp nhằm quản lý và phát triển kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội đối với các dân tộc và vùng đồng bào dân tộc nhằm thiết lập sự bình đẳng và hoà nhập phát triển, củng cố, tăng cường sự đoàn kết thống nhất của cộng đồng các dân tộc Việt Nam” (Bế Thu Hương, 2003) Từ quan niệm chính sách công, có thể định nghĩa chính sách dân tộc như sau: Chính sách dân tộc là thái độ quan điểm, các quyết định, quyết sách của Nhà nước đối với đồng bào dân tộc với mục tiêu, giải pháp, công cụ nhằm bảo đảm và thúc đẩy sự bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giúp nhau cùng phát triển, phát triển toàn diện, từng bước nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số, đảm bảo giữ gìn bản sắc dân tộc, phong tục tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mỗi dân tộc, góp phần xây dựng và phát triển đất nước. Thực thi chính sách dân tộc Thực thi đơn giản có nghĩa là thực hiện hoặc tiến hành. Thực thi là một quá trình lặp đi lặp lại, trong đó các ý tưởng được thể hiện trong chính sách được biến đổi thành hành vi, được thể hiện thành hành động xã hội. Thông thường, hành động xã hội được biến đổi từ chính sách nhằm đạt được sự cải thiện xã hội; và thường được thể hiện phổ biến nhất dưới dạng các chương trình, thủ tục, quy định và hành động”.
(Bế Thu Hương, 2003) 9 Thực thi bao gồm tất cả các hoạt động được thiết kế để thực hiện chính sách đã được thông qua bởi cơ quan lập pháp. Vì các chính sách có những tác động mong muốn hoặc có chủ định, nên chúng phải được chuyển thành các chương trình và các dự án mà sau đó được thực hiện để đạt được một tập hợp các mục tiêu hoặc mục đích” Thực thi chính sách là để khẳng định tính đúng đắn của chính sách. Một khi chính sách được triển khai thực hiện rộng rãi trong đời sống xã hội, thì tính đúng đắn của chính sách được khẳng định ở mức cao hơn, được cả xã hội thừa nhận, nhất là các đối tượng thụ hưởng chính. Tóm lại, Thực thi chính sách là quá trình đưa chính sách vào thực tiễn đời sống xã hội thông qua việc ban hành các văn bản, chương trình, dự án thực thi chính sách và tổ chức thực hiện chúng nhằm hiện thực hóa mục tiêu chính.
Tổ chức thực thi chính sách dân tộc là một khâu hợp thành chu trình chính sách; là quá trình biến các chủ trương, phương hướng và biện pháp liên quan đến hoạt động kinh tế của các hộ đồng bào dân tộc thiểu số, thông qua các hoạt động có tổ chức trong bộ máy Nhà nước cũng như sự tham gia của các tổ chức, đơn vị, gia đình, cá nhân và toàn xã hội làm cho các nội dung công việc được triển khai theo đúng kế hoạch, hướng tới đạt được mục đích đề ra, giúp chính sách đi vào thực tế.