Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác quản lý Nhà nước về đất lâm nghiệp cấp huyện. Chương 2: Đặc điểm địa bàn và phương pháp nghiên cứu. Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẤT LÂM NGHIỆP CẤP HUYỆN 1.
Cơ sở lý luận về công tác quản lý Nhà nước về đất lâm nghiệp cấp huyện 1. Một số khái niệm 1. Đất đai Đất đai là một vùng đất có ranh giới, vị trí, diện tích cụ thể và có các thuộc tính tương đối ổn định hoặc thay đổi nhưng có tính chu kỳ, có thể dự đoán được, có ảnh hưởng tới việc sử dụng đất trong hiện tại và tương lai của các yếu tố tự nhiên, kinh tế - xã hội như: thổ nhưỡng, khí hậu, địa hình, địa mạo, địa chất, thủy văn, thực vật, động vật cư trú và hoạt động sản xuất của con người. Đất đai chiếm khoảng 29% diện tích bề mặt Trái đất, trong đó khoảng 1/3 là sa mạc.
Vì vậy, đối với mỗi quốc gia, đất đai giữ vai trò rất quan trọng, có thể quyết định đến sự phát triển và vị thế chính trị, đất đai còn là nguồn tài nguyên, tài sản quý giá, thước đo sự giàu có của một quốc gia. Với tầm quan trọng như vậy, đất đai trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành, lĩnh vực trong xã hội. Do đó, quan điểm về đất đai cũng rất đa dạng và nhiều góc nhìn khác nhau theo từng lĩnh vực. Về mặt thuật ngữ khoa học, theo nghĩa rộng: “Đất đai bao gồm các đặc tính của không khí, thổ nhưỡng, địa chất, thuỷ văn, thực vật ngay bên trên và dưới những khu vực cụ thể của bề mặt của Trái đất.
Đồng thời, cũng là kết quả của tất cả các hoạt động trong quá khứ và hiện tại của con người cũng như các loại động vật trên vùng đất đó, ở chừng mực mà những đặc tính đó có ảnh hưởng rõ tới việc sử dụng đất bởi con người ở hiện tại và tương lai”. Ở Việt Nam, quan điểm về tài nguyên đất đai đã được Đảng ta nêu rõ: “Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là tài sản, nguồn lực to lớn của đất nước, là nguồn sống của nhân dân”. Đây 6 là khái niệm phù hợp thực tiễn, phản ánh đúng vai trò, ý nghĩa của đất đai đối với đất nước và con người Việt Nam. Bởi lẽ, Việt Nam là quốc gia có diện tích đất hạn hẹp, trong lịch sử dựng nước và giữ nước, trải qua nhiều thế hệ nhân dân ta đã vất vả và đấu tranh, lao động để bảo vệ và giữ vững từng tấc đất cho đến ngày nay.
Trong công tác quản lý, khái niệm về đất đai không chỉ giới hạn là bề mặt Trái đất, mà còn bao hàm cả về phương diện bất động sản, như tài sản hợp pháp được định nghĩa là không gian bên trên, dưới hoặc trên mặt đất và bao gồm một số công trình xây dựng về mặt vật chất hoặc pháp lý gắn với tài sản đó, ví dụ một toà nhà. Khái niệm đất đai cũng bao gồm các khu vực có nước bao phủ. Như vậy, khái niệm về đất đai được hiểu là khoảng không gian có giới hạn, theo chiều thẳng đứng, gồm: khí hậu của bầu khí quyển, lớp đất phủ bề mặt, thảm thực vật, động vật, diện tích nước, tài nguyên nước ngầm và khoáng sản trong lòng đất; theo chiều ngang trên mặt đất, là sự kết hợp giữa thổ nhưỡng, địa hình, công trình xây dựng cùng các thành phần khác, giữ vai trò quan trọng và có ý nghĩa to lớn đối với hoạt động sản xuất cũng như cuộc sống của con người. Đất lâm nghiệp Khái niệm: Đất lâm nghiệp là một loại đất nằm trong nhóm đất nông nghiệp.
Đến nay, khái niệm về đất lâm nghiệp theo các cơ quan quản lý vẫn còn nhiều khác biệt. Tuy nhiên, để phục vụ cho mục đích quản lý và sử dụng nguồn tài nguyên đất lâm nghiệp hiệu quả và bền vững, khái niệm đất lâm nghiệp đã được các cơ quan Nhà nước thống nhất về mặt thể chế phục vụ cho công tác quản lý và chỉ đạo chung, cụ thể: “Đất lâm nghiệp là đất đang có rừng tự nhiên hoặc đang có rừng trồng đạt tiêu chuẩn rừng theo quy định của pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng; đất đang khoanh nuôi để phục hồi rừng; đất mới trồng rừng những 7 chưa thành rừng; đất đang trồng rừng hoặc đã giao, cho thuê để trồng rừng và diện tích đất trống trong các khi rừng đặc dụng hoặc diện tích đất trống được bảo vệ trong các khu rừng khác theo quy định của pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng”. Mỗi loại đất rừng đều xác định với các mục đích khác nhau. Phân loại Đất lâm nghiệp là thành phần không thể thiếu trong trong hệ thống chỉ tiêu đất đai phục vụ cho công tác quản lý, có vị trí quan trọng trong đời sống kinh tế - xã hội và được phân bố khắp đều trong lãnh thổ quốc gia.
Đến nay, vẫn chưa có nhiều các nghiên cứu kỹ về phân loại đất lâm nghiệp một cách đầy đủ và chi tiết. Theo một nghiên cứu của Bộ NN & PTNT năm 2006, vấn đề phân loại đất nhiệt đới nói chung và đất Việt Nam nói riêng cũng chỉ mới phát triển mạnh trong nửa thế kỷ gần đây và có 3 khuynh hướng phân loại đất khác nhau: Hệ thống phân loại đất dựa vào các tính chất nông học của đất; Hệ thống phân loại đất theo phát sinh, dựa vào các yếu tố hình thành đất; Hệ thống phân loại đất theo định lượng. Cả 3 khuynh hướng phân loại đất trên đều đã được áp dụng ở Việt Nam, trong đó hệ thống phân loại đất rừng theo phát sinh đã được áp dụng vào ngành lâm nghiệp Việt Nam từ năm 1964, khi các công trình nghiên cứu rừng Việt Nam được triển khai trên phạm vi toàn miền Bắc, trong đó có sự tham gia nghiên cứu của bộ môn Đất Rừng, Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam (Đỗ Đình Sâm & cs. Đất lâm nghiệp gồm nhiều loại: - Theo không gian địa hình, có thể được chia thành hai loại: Đất lâm nghiệp trên địa hình cao: thường là đất tại các khu vực đồi, núi, có địa hình dốc và đất lâm nghiệp ở địa hình thấp: chủ yếu được phân bố ở các khu vực trung du, đồng bằng, thung lũng.
- Theo nguồn gốc hình thành, đất lâm nghiệp được chia thành hai loại: Đất có rừng tự nhiên và Đất có rừng trồng. 8 - Dựa trên hiện trạng sử dụng đất, đất lâm nghiệp, có thể phân thành hai loại: đất có rừng: là đất đã có cây rừng hình thành đạt tiêu chuẩn về rừng theo Luật Bảo vệ và phát triển rừng và đất chưa có rừng được quy hoạch để phát triển, phục hồi rừng: là đất chưa có cây hoặc đã có cây nhưng chưa đạt tiêu chuẩn hình thành rừng và được quy hoạch để tái tạo, phục hồi thành rừng bằng hình thức phát triển tự nhiên hoặc trồng rừng dưới tác động của con người. - Theo tiêu chí quản lý và mục đích sử dụng, Luật Đất đai 2013 quy định đất lâm nghiệp thuộc nhóm đất nông nghiệp. Đất lâm nghiệp gồm: Đất rừng sản xuất; Đất rừng phòng hộ; Đất rừng đặc dụng.
+ Đất rừng sản xuất là đất sử dụng vào mục đích sản xuất lâm nghiệp theo quy định của pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng; + Đất rừng phòng hộ là đất để sử dụng vào mục đích phòng hộ đầu nguồn, bảo vệ đất, bảo vệ nguồn nước, bảo vệ môi trường sinh thái, chắn gió, chắn cát, chắn sóng ven biển theo quy định của pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng; + Đất rừng đặc dụng là đất để sử dụng vào mục đích nghiên cứu, thí nghiệm khoa học, bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học, vườn rừng quốc gia, bảo vệ di tích lịch sử, văn hoá, danh lam thắng cảnh, bảo vệ môi trường sinh thái theo quy định của pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2014). Quản lý Quản lý là một dạng hoạt động đặc biệt quan trọng của con người. Theo quan điểm của Follet dưới góc độ quan hệ con người, đã cho rằng “Quản lý” là một nghệ thuật khiến cho công việc của bạn được hành động thông qua người khác (Follett, 1927). Theo quan điểm của Stephen “Quản lý” là quá trình hoạch định, tổ chức, lãnh đạo và kiểm soát những hành động của những người trong một tổ chức và sử dụng tất cả các nguồn lực khác của tổ chức để đạt được mục tiêu của tổ chức” (Stephen & cs.
9 Quan điểm của Taylor cho rằng “Quản lý” là hình thành công việc của mình thông qua người khác và biết được chính xác họ đã hoàn thành công việc của mình theo cách tốt nhất và rẻ nhất (Taylor, 2002). Quản lý: Là quá trình làm việc cùng với và thông qua các cá nhân, các nhóm, các nguồn lực khác (thiết bị vốn, công nghệ) để đạt được những mục tiêu của tổ chức. Từ các quan điểm trên, chúng tôi hiểu rằng, “Quản lý” là một thuật ngữ chỉ tác động một cách có ý thức của con người tới đối tượng quản lý nhằm sắp xếp tổ chức, chỉ huy, điều hành, hoạt động của con người để hướng đến những mục tiêu xác định theo ý chí của nhà quản lý với chi phí thấp nhất trong mỗi điều kiện nhất định. Cấu trúc tổ chức của quản lý gồm: (i) Chủ thể quản lý; (ii) Đối tượng quản lý; (iii) Mục tiêu quản lý; (iv) Công cụ quản lý.
Tùy thuộc đối tượng quản lý mà người ta chia thành 3 loại hình, cụ thể: (i) Con người điều khiển các vật hữu hình không phải con người để bắt chúng phải thực hiện ý đồ của con người điều khiển. Loại hình này được gọi là quản lý sinh học, quản lý thiên nhiên, quản lý môi trường, quản lý cây trồng; (ii) Con người điều khiển các vật vô tri, vô giác để bắt chúng thực hiện ý đồ của con người điều khiển, được gọi là quản lý kỹ thuật như quản lý máy móc, thiết bị; (iii) Con người điều khiển con người. Loại hình này được gọi là quản lý xã hội (Lê Văn Cường, 2018). Quản lý nói chung là sự tác động có tổ chức, có mục đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý và khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả các nguồn lực để đạt được các mục tiêu đặt ra trong sự vận động của sự vật.
Đối tượng quản lý, khách thể quản lý chủ yếu là quản lý con người.