CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI Phần 1 CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC ĐÃ ĐƯỢC CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Các công trình nghiên cứu khoa học trong nước 1. Công trình nghiên cứu là các luận văn, luận án Luận án tiến sĩ luật học của Nguyễn Hải An (2011) về “Cơ sở lý luận và thực tiễn về tặng cho quyền sử dụng đất”. Luận án là công trình nghiên cứu toàn diện về vấn đề tặng cho QSDĐ, bao gồm các nội dung: lý luận về tặng cho QSDĐ; nội dung pháp luật về tặng cho QSDĐ; thực tiễn tặng cho QSDĐ nhìn nhận qua hoạt động xét xử của toà án và kiến nghị các giải pháp hoàn thiện pháp luật về tặng cho QSDĐ.
Về cơ sở lý luận, luận án đặc biệt nhấn mạnh bản chất của tặng cho QSDĐ, theo đó, tặng cho QSDĐ là tặng cho quyền tài sản thuộc sở hữu của nhà nước và bản chất của tặng cho QSDĐ trên thực tế là tặng cho đất. Luận án cũng đưa ra các đặc điểm của tặng cho QSDĐ, như: tặng cho QSDĐ vừa là hợp đồng thực tế, vừa là hợp đồng ưng thuận; tặng cho QSDĐ là một hợp đồng đơn vụ; tặng cho QSDĐ là hợp đồng không có đền bù, tặng cho QSDĐ chịu sự giám sát và bảo đảm thực hiện bằng nhà nước. Luận án cũng làm rõ cơ cấu điều chỉnh của pháp luật về tặng cho QSDĐ thông qua việc dày công nghiên cứu về lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật về tặng cho QSDĐ. Về phương diện pháp luật, luận án của tác giả Nguyễn Hoài An tập trung đi sâu nghiên cứu các chế định về tặng cho QSDĐ dựa trên sự nghiên cứu ba loại hợp đồng cơ bản về tặng cho QSDĐ là: 1) Hợp đồng tặng cho QSDĐ mà trên đất không có tài sản; 2) hợp đồng tặng cho QSDĐ mà trên đất có tài sản; 3) hợp đồng tặng cho tài sản trên đất không gắn với QSDĐ; 4) hợp đồng tặng cho QSDĐ có điều kiện.
Đồng thời, luận án cũng chỉ rõ tính hiệu lực của các loại hợp đồng này. Về thực tiễn thực thi pháp luật về tặng cho QSDĐ, tác giả luận án tập trung phản chiếu những khó khăn, vướng mắc về tặng cho QSDĐ thông qua các tranh chấp về tặng cho QSDĐ được giải quyết tại tòa án. Qua nghiên cứu đó, tác giả nhận định về nguyên nhân của những khó khăn, vướng mắc trong quá trình giải quyết tranh chấp hợp đồng tặng cho QSDĐ được bắt nguồn từ chính hệ thống pháp luật thiếu đồng bộ 12 và thiếu phù hợp, cùng với cơ chế thực thi chưa nghiêm, hoạt động xét xử chưa có hiệu quả. Trên cơ sở đó, luận án đề xuất hai nhóm giải pháp về hoàn thiện pháp luật về tặng cho QSDĐ và biện pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về tặng cho QSDĐ.
Có thể khẳng định rằng, luận án này mặc dù được nghiên cứu trên cơ sở của các Luật Đất đai và Bộ luật Dân sự cũ, song cho đến thời điểm hiện nay thì đây là công trình nghiên cứu tập trung và toàn diện nhất về vấn đề tặng cho QSDĐ. Luận văn thạc sĩ luật học của Nguyễn Văn Hiến (2006) về “Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”. Đây là công trình nghiên cứu tập trung về hợp đồng tặng cho QSDĐ. Nội dung cơ bản, xuyên suốt của luận văn là nghiên cứu hợp đồng tặng cho QSDĐ với tính cách là hợp đồng dân sự, hợp đồng không có đền bù.
Các trường hợp hợp đồng tặng cho QSDĐ vô hiệu và những khó khăn, vướng mắc và những rào cản phát sinh trong thực tiễn xét xử các tranh chấp hợp đồng tặng cho QSDĐ tại Tòa án. Luận văn cũng cung cấp cho người đọc nhận diện sâu sắc hơn về bản chất của hợp đồng tặng cho về QSDĐ, những phức tạp trong giải quyết tranh chấp loại hợp đồng này trong thực tế. Tuy nhiên, tiếp cận hợp đồng tặng cho về QSDĐ cần phải đặt trong mối quan hệ chặt chẽ, không thể tách rời giữa Bộ luật Dân sự và Pháp luật đất đai thì luận văn mới chỉ thiên về nghiên cứu các chế định trong Bộ luật Dân sự mà các chế định trong Luật Đất đai còn mờ nhạt. Luận văn Thạc sĩ của Dương Anh Sơn (2010) về “Bản chất của hợp đồng tặng cho – Nhìn từ góc độ Luật So sánh”, Khoa Kinh tế, Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh.
Luận văn đã đưa ra cái nhìn tổng quan và khoa học về bản chất của hợp đồng tặng cho là hợp đồng không có đền bù, việc ràng buộc điều kiện của người nhận tặng cho theo ý chí của người tặng cho QSDĐ chỉ là nhằm hướng tới việc thực thi có hiệu quả các cam kết, thỏa thuận và hiện thực hóa tốt hơn ý chí của người tặng cho QSDĐ mà thôi. Luận văn thạc sĩ: "Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất – một số vấn đề lý luận và thực tiễn" của tác giả Trần Thị Minh, Hà Nội 2012. Trong luận văn này tác giả nhận thấy, tương đồng như cách tiếp cận của luận văn thạc sĩ trước đó của Nguyễn Văn Hiến, luận văn này chủ yếu nghiên cứu các quy định của Bộ luật Dân sự 2005 về hợp đồng nói chung và hợp đồng tặng cho QSDĐ nói riêng và thực tiễn xét xử tranh chấp dạng hợp đồng này tại Tòa án. Luận văn đặc biệt nhấn mạnh tới tính vô hiệu về 13 hình thức và đối tượng trong hợp đồng tặng cho QSDĐ và sự lúng túng của Tòa án trong việc giải quyết đối với một số hợp đồng tặng cho QSDĐ có điều kiện.
Đây cũng là những góc nhìn thực tiễn khá sinh động giúp cho NCS nhận diện vấn đề phức tạp của những tranh chấp, bất đồng liên quan đến tặng cho bắt nguồn từ nguyên nhân cơ bản nào, từ đó, nhận diện thực trạng pháp luật về vấn đề này đang ở đâu để có những giải pháp hoàn thiện phù hợp. Luận văn Thạc sĩ Luật học của tác giả Nguyễn Thị Nga về: “Xây dựng và hoàn thiện pháp luật thị trường quyền sử dụng đất ở Việt Nam”, 2003, Đại học Luật Hà Nội. Dù chỉ ở cấp độ là một luận văn Thạc sĩ và tên đề tài dường như không liên quan trực tiếp đến đề tài, song những nghiên cứu về QSDĐ với tính cách là một quyền tài sản, quyền được tách ra từ quyền sở hữu đại diện của Nhà nước và trở thành quyền tài sản độc lập của người sử dụng đất cho phép NCS có cách tiếp cận luận án của mình theo xu hướng mở. Theo đó, pháp luật đất đai hiện hành mặc dù đã có một số thay đổi theo hướng tích cực với việc tiếp tục mở rộng các quyền cho người sử dụng đất, song đối với quyền tặng cho QSDĐ thì dường như vẫn còn biểu hiện của sự gò bó, khiên cưỡng trong những quy định về loại đất tặng cho, bó hẹp về đối tượng thụ hưởng và với một quy trình, thủ tục chưa thực sự nhận được sự đồng thuận của người dân.
Công trình nghiên cứu là các sách chuyên khảo, sách tham khảo, giáo trình, các đề tài nghiên cứu khoa học Trong sách tham khảo: “Một số vấn đề về sở hữu ở nước ta hiện nay” của hai tác giả: PGS.TS Nguyễn Văn Thạo và TS. Nguyễn Hữu Đạt - Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2004, tác giả của cuốn sách thể hiện các quan điểm khác nhau về sở hữu và đặc biệt nghiên cứu đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước ta về vấn đề sở hữu đất đai qua các thời kỳ theo sự xác định về chế độ sở hữu đất đai trong các bản Hiến pháp từ 1945 đến nay. Công trình nghiên cứu trên có giá trị hữu ích cho NCS có nhận định chắc chắn rằng, sở hữu toàn dân về đất đai mà Nhà nước là đại diện chủ sở hữu trong giai đoạn hiện nay là vấn đề cần thiết khách quan, giải quyết ở nhiều khía cạnh về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, lịch sử của đất nước, song vẫn quan tâm, chú trọng tới quyền lợi của người sử dụng đất. Tuy nhiên, các quyền mà Nhà nước xác lập cho người sử dụng đất bị chi phối và hạn chế bởi Nhà nước.
Điều này cho phép tác giả lý giải vì sao những điều kiện về chủ thể, về đối tượng, về quy trình, thủ tục tặng 14 cho QSDĐ lại hạn chế và chặt chẽ đến vậy và “lý thuyết vật quyền” áp dụng trong trường hợp này có phần hạn chế và khiên cưỡng. Trong cuốn sách chuyên khảo“Pháp luật về tặng cho quyền sử dụng đất ở Việt Nam”, tác giả Nguyễn Hải An, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia – Sự thật, năm 2012. Đây là cuốn sách được ấn hành trên cơ sở của sự chuyển thể từ luận án tiến sĩ mà tác giả đã thực hiện năm 2011 đã được đề cập ở trên. Điểm nhấn trong cuốn sách này đó là sự nghiên cứu tập trung về bản chất của hợp đồng tặng cho tài sản nói chung và tặng cho tài sản là QSDĐ nói riêng.
Cuốn sách cũng cung cấp những thông tin quan trọng và bổ ích của pháp luật một số quốc gia trên thế giới liên quan đến tặng cho bất động sản như: nghiên cứu pháp luật của Cộng hòa Pháp, Nhật Bản, Đức, Liên bang Nga và Thái Lan cũng cho thấy, hầu hết pháp luật các nước đều có quy định về tặng cho tài sản có điều kiện, có thể là những nghĩa vụ hay trách nhiệm được đặt ra trong hợp đồng buộc bên được tặng cho phải thực hiện khi nhận tài sản tặng cho và vấn đề hiệu lực của hợp đồng tặng cho tài sản. Đây là những vấn đề mấu chốt, có ý nghĩa quan trọng cho NCS tiếp cận và nghiên cứu hình thức và hiệu lực của giao dịch tặng cho QSDĐ ở, đặc biệt trong các trường hợp tặng cho nhà mà không tặng cho đất, hợp đồng vô hiệu từng phần hay vô hiệu toàn bộ khi một trong các chủ thể có QSDĐ ở không đồng ý việc tặng cho. Xaca Vacaxum, Tori Aritdumi (người dịch: Nguyễn Đức Giao, Lưu Tiến Dũng), “Bình luận Khoa học BLDS Nhật Bản”, Viện nghiên cứu khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 1995, hợp đồng tặng cho tài sản được phân tích trong Chương X của tài liệu, từ trang 541 đến trang 546 với các nội dung cở bản như: khái niệm tặng cho; hậu quả của việc tặng cho; hình thức của hợp đồng tặng cho tài sản; trách nhiệm của người tặng cho.