Luận án về quyền sử dụng đất ở theo pháp luật Việt Nam hiện nay

Luận án phân tích quy định về quyền sử dụng đất ở theo pháp luật Việt Nam hiện nay, cung cấp cái nhìn sâu sắc về các vấn đề pháp lý liên quan.

Chuyên ngành

Luật Đất Đai

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án

2023

164
4
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Việt Nam xác định quyền sử dụng đất là tài sản thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước quản lý. Pháp luật Việt Nam không thừa nhận quyền tư hữu về đất đai, mà thay thế bằng quyền sử dụng đất (QSDĐ). Điều này tạo ra sự khác biệt trong cách thức quản lý và sử dụng đất. Người sử dụng đất có quyền chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, và tặng cho QSDĐ. Sự cho phép này không chỉ là một hình thức chuyển nhượng tài sản mà còn là một quyền năng của người sử dụng đất. QSDĐ được coi là tài sản có giá trị, tham gia vào các giao dịch kinh tế. Việc ghi nhận và cho phép QSDĐ chuyển nhượng giữa các cá nhân đã tạo ra một khung pháp lý linh hoạt, giúp người sử dụng đất có thể thực hiện quyền lợi của mình một cách hiệu quả.

1.1. Đặc điểm của quyền sử dụng đất

QSDĐ ở Việt Nam không chỉ đơn thuần là quyền sở hữu mà còn là quyền năng của người sử dụng đất. Điều này có nghĩa là người sử dụng đất có thể thực hiện các giao dịch như chuyển nhượng, cho thuê, và tặng cho. Luật đất đai 2023 đã quy định rõ ràng về các quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất, tạo điều kiện cho việc thực hiện các giao dịch này. Sự phức tạp trong các giao dịch tặng cho QSDĐ, đặc biệt là đất ở, đòi hỏi phải có sự nghiên cứu sâu sắc về các quy định pháp luật hiện hành. Việc tặng cho QSDĐ không chỉ mang tính chất kinh tế mà còn có ý nghĩa văn hóa, xã hội, thể hiện mối quan hệ giữa các cá nhân trong cộng đồng.

II. Quy định về quyền sử dụng đất theo pháp luật Việt Nam

Pháp luật Việt Nam quy định rõ về quyền sử dụng đất thông qua các văn bản pháp lý như Hiến pháp 2013 và Luật Đất đai 2023. Các quy định này xác định rõ ràng quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất, bao gồm quyền chuyển nhượng, cho thuê, và tặng cho. Quy định về đất đai không chỉ đảm bảo quyền lợi cho người sử dụng đất mà còn bảo vệ lợi ích của Nhà nước. Việc quy định rõ ràng về các hình thức sử dụng đất giúp giảm thiểu tranh chấp và mâu thuẫn trong quá trình thực hiện quyền sử dụng đất.

2.1. Các loại hình sử dụng đất

Có nhiều loại hình sử dụng đất khác nhau, bao gồm đất nông nghiệp và đất phi nông nghiệp. Mỗi loại hình sử dụng đất đều có những quy định riêng về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng. Quy hoạch sử dụng đất cũng là một yếu tố quan trọng trong việc xác định cách thức sử dụng đất hiệu quả. Việc phân loại và quy hoạch sử dụng đất giúp tối ưu hóa việc khai thác tài nguyên đất đai, đồng thời đảm bảo sự phát triển bền vững cho xã hội.

III. Tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng đất

Tranh chấp về quyền sử dụng đất thường xảy ra do sự không rõ ràng trong các quy định pháp luật hoặc do sự khác biệt trong nhận thức của các bên liên quan. Các tranh chấp này có thể liên quan đến việc tặng cho QSDĐ, chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hoặc các vấn đề khác liên quan đến quyền lợi của người sử dụng đất. Việc giải quyết tranh chấp này đòi hỏi sự can thiệp của cơ quan nhà nước và sự tham gia của các bên liên quan để đảm bảo quyền lợi hợp pháp của người sử dụng đất.

3.1. Nguyên nhân gây ra tranh chấp

Nguyên nhân gây ra tranh chấp thường xuất phát từ sự không đồng thuận giữa các bên trong các giao dịch tặng cho hoặc chuyển nhượng QSDĐ. Sự thiếu minh bạch trong các quy định pháp luật cũng góp phần làm gia tăng tranh chấp. Đặc biệt, trong các giao dịch tặng cho QSDĐ, việc không rõ ràng về quyền lợi và nghĩa vụ của các bên có thể dẫn đến những mâu thuẫn không đáng có. Do đó, việc nghiên cứu và hoàn thiện các quy định pháp luật về tặng cho QSDĐ là rất cần thiết để giảm thiểu tranh chấp và bảo vệ quyền lợi của người sử dụng đất.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI Phần 1 CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC ĐÃ ĐƯỢC CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Các công trình nghiên cứu khoa học trong nước 1. Công trình nghiên cứu là các luận văn, luận án Luận án tiến sĩ luật học của Nguyễn Hải An (2011) về “Cơ sở lý luận và thực tiễn về tặng cho quyền sử dụng đất”. Luận án là công trình nghiên cứu toàn diện về vấn đề tặng cho QSDĐ, bao gồm các nội dung: lý luận về tặng cho QSDĐ; nội dung pháp luật về tặng cho QSDĐ; thực tiễn tặng cho QSDĐ nhìn nhận qua hoạt động xét xử của toà án và kiến nghị các giải pháp hoàn thiện pháp luật về tặng cho QSDĐ.

Về cơ sở lý luận, luận án đặc biệt nhấn mạnh bản chất của tặng cho QSDĐ, theo đó, tặng cho QSDĐ là tặng cho quyền tài sản thuộc sở hữu của nhà nước và bản chất của tặng cho QSDĐ trên thực tế là tặng cho đất. Luận án cũng đưa ra các đặc điểm của tặng cho QSDĐ, như: tặng cho QSDĐ vừa là hợp đồng thực tế, vừa là hợp đồng ưng thuận; tặng cho QSDĐ là một hợp đồng đơn vụ; tặng cho QSDĐ là hợp đồng không có đền bù, tặng cho QSDĐ chịu sự giám sát và bảo đảm thực hiện bằng nhà nước. Luận án cũng làm rõ cơ cấu điều chỉnh của pháp luật về tặng cho QSDĐ thông qua việc dày công nghiên cứu về lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật về tặng cho QSDĐ. Về phương diện pháp luật, luận án của tác giả Nguyễn Hoài An tập trung đi sâu nghiên cứu các chế định về tặng cho QSDĐ dựa trên sự nghiên cứu ba loại hợp đồng cơ bản về tặng cho QSDĐ là: 1) Hợp đồng tặng cho QSDĐ mà trên đất không có tài sản; 2) hợp đồng tặng cho QSDĐ mà trên đất có tài sản; 3) hợp đồng tặng cho tài sản trên đất không gắn với QSDĐ; 4) hợp đồng tặng cho QSDĐ có điều kiện.

Đồng thời, luận án cũng chỉ rõ tính hiệu lực của các loại hợp đồng này. Về thực tiễn thực thi pháp luật về tặng cho QSDĐ, tác giả luận án tập trung phản chiếu những khó khăn, vướng mắc về tặng cho QSDĐ thông qua các tranh chấp về tặng cho QSDĐ được giải quyết tại tòa án. Qua nghiên cứu đó, tác giả nhận định về nguyên nhân của những khó khăn, vướng mắc trong quá trình giải quyết tranh chấp hợp đồng tặng cho QSDĐ được bắt nguồn từ chính hệ thống pháp luật thiếu đồng bộ 12 và thiếu phù hợp, cùng với cơ chế thực thi chưa nghiêm, hoạt động xét xử chưa có hiệu quả. Trên cơ sở đó, luận án đề xuất hai nhóm giải pháp về hoàn thiện pháp luật về tặng cho QSDĐ và biện pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về tặng cho QSDĐ.

Có thể khẳng định rằng, luận án này mặc dù được nghiên cứu trên cơ sở của các Luật Đất đai và Bộ luật Dân sự cũ, song cho đến thời điểm hiện nay thì đây là công trình nghiên cứu tập trung và toàn diện nhất về vấn đề tặng cho QSDĐ. Luận văn thạc sĩ luật học của Nguyễn Văn Hiến (2006) về “Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”. Đây là công trình nghiên cứu tập trung về hợp đồng tặng cho QSDĐ. Nội dung cơ bản, xuyên suốt của luận văn là nghiên cứu hợp đồng tặng cho QSDĐ với tính cách là hợp đồng dân sự, hợp đồng không có đền bù.

Các trường hợp hợp đồng tặng cho QSDĐ vô hiệu và những khó khăn, vướng mắc và những rào cản phát sinh trong thực tiễn xét xử các tranh chấp hợp đồng tặng cho QSDĐ tại Tòa án. Luận văn cũng cung cấp cho người đọc nhận diện sâu sắc hơn về bản chất của hợp đồng tặng cho về QSDĐ, những phức tạp trong giải quyết tranh chấp loại hợp đồng này trong thực tế. Tuy nhiên, tiếp cận hợp đồng tặng cho về QSDĐ cần phải đặt trong mối quan hệ chặt chẽ, không thể tách rời giữa Bộ luật Dân sự và Pháp luật đất đai thì luận văn mới chỉ thiên về nghiên cứu các chế định trong Bộ luật Dân sự mà các chế định trong Luật Đất đai còn mờ nhạt. Luận văn Thạc sĩ của Dương Anh Sơn (2010) về “Bản chất của hợp đồng tặng cho – Nhìn từ góc độ Luật So sánh”, Khoa Kinh tế, Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh.

Luận văn đã đưa ra cái nhìn tổng quan và khoa học về bản chất của hợp đồng tặng cho là hợp đồng không có đền bù, việc ràng buộc điều kiện của người nhận tặng cho theo ý chí của người tặng cho QSDĐ chỉ là nhằm hướng tới việc thực thi có hiệu quả các cam kết, thỏa thuận và hiện thực hóa tốt hơn ý chí của người tặng cho QSDĐ mà thôi. Luận văn thạc sĩ: "Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất – một số vấn đề lý luận và thực tiễn" của tác giả Trần Thị Minh, Hà Nội 2012. Trong luận văn này tác giả nhận thấy, tương đồng như cách tiếp cận của luận văn thạc sĩ trước đó của Nguyễn Văn Hiến, luận văn này chủ yếu nghiên cứu các quy định của Bộ luật Dân sự 2005 về hợp đồng nói chung và hợp đồng tặng cho QSDĐ nói riêng và thực tiễn xét xử tranh chấp dạng hợp đồng này tại Tòa án. Luận văn đặc biệt nhấn mạnh tới tính vô hiệu về 13 hình thức và đối tượng trong hợp đồng tặng cho QSDĐ và sự lúng túng của Tòa án trong việc giải quyết đối với một số hợp đồng tặng cho QSDĐ có điều kiện.

Đây cũng là những góc nhìn thực tiễn khá sinh động giúp cho NCS nhận diện vấn đề phức tạp của những tranh chấp, bất đồng liên quan đến tặng cho bắt nguồn từ nguyên nhân cơ bản nào, từ đó, nhận diện thực trạng pháp luật về vấn đề này đang ở đâu để có những giải pháp hoàn thiện phù hợp. Luận văn Thạc sĩ Luật học của tác giả Nguyễn Thị Nga về: “Xây dựng và hoàn thiện pháp luật thị trường quyền sử dụng đất ở Việt Nam”, 2003, Đại học Luật Hà Nội. Dù chỉ ở cấp độ là một luận văn Thạc sĩ và tên đề tài dường như không liên quan trực tiếp đến đề tài, song những nghiên cứu về QSDĐ với tính cách là một quyền tài sản, quyền được tách ra từ quyền sở hữu đại diện của Nhà nước và trở thành quyền tài sản độc lập của người sử dụng đất cho phép NCS có cách tiếp cận luận án của mình theo xu hướng mở. Theo đó, pháp luật đất đai hiện hành mặc dù đã có một số thay đổi theo hướng tích cực với việc tiếp tục mở rộng các quyền cho người sử dụng đất, song đối với quyền tặng cho QSDĐ thì dường như vẫn còn biểu hiện của sự gò bó, khiên cưỡng trong những quy định về loại đất tặng cho, bó hẹp về đối tượng thụ hưởng và với một quy trình, thủ tục chưa thực sự nhận được sự đồng thuận của người dân.

Công trình nghiên cứu là các sách chuyên khảo, sách tham khảo, giáo trình, các đề tài nghiên cứu khoa học Trong sách tham khảo: “Một số vấn đề về sở hữu ở nước ta hiện nay” của hai tác giả: PGS.TS Nguyễn Văn Thạo và TS. Nguyễn Hữu Đạt - Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2004, tác giả của cuốn sách thể hiện các quan điểm khác nhau về sở hữu và đặc biệt nghiên cứu đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước ta về vấn đề sở hữu đất đai qua các thời kỳ theo sự xác định về chế độ sở hữu đất đai trong các bản Hiến pháp từ 1945 đến nay. Công trình nghiên cứu trên có giá trị hữu ích cho NCS có nhận định chắc chắn rằng, sở hữu toàn dân về đất đai mà Nhà nước là đại diện chủ sở hữu trong giai đoạn hiện nay là vấn đề cần thiết khách quan, giải quyết ở nhiều khía cạnh về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, lịch sử của đất nước, song vẫn quan tâm, chú trọng tới quyền lợi của người sử dụng đất. Tuy nhiên, các quyền mà Nhà nước xác lập cho người sử dụng đất bị chi phối và hạn chế bởi Nhà nước.

Điều này cho phép tác giả lý giải vì sao những điều kiện về chủ thể, về đối tượng, về quy trình, thủ tục tặng 14 cho QSDĐ lại hạn chế và chặt chẽ đến vậy và “lý thuyết vật quyền” áp dụng trong trường hợp này có phần hạn chế và khiên cưỡng. Trong cuốn sách chuyên khảo“Pháp luật về tặng cho quyền sử dụng đất ở Việt Nam”, tác giả Nguyễn Hải An, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia – Sự thật, năm 2012. Đây là cuốn sách được ấn hành trên cơ sở của sự chuyển thể từ luận án tiến sĩ mà tác giả đã thực hiện năm 2011 đã được đề cập ở trên. Điểm nhấn trong cuốn sách này đó là sự nghiên cứu tập trung về bản chất của hợp đồng tặng cho tài sản nói chung và tặng cho tài sản là QSDĐ nói riêng.

Cuốn sách cũng cung cấp những thông tin quan trọng và bổ ích của pháp luật một số quốc gia trên thế giới liên quan đến tặng cho bất động sản như: nghiên cứu pháp luật của Cộng hòa Pháp, Nhật Bản, Đức, Liên bang Nga và Thái Lan cũng cho thấy, hầu hết pháp luật các nước đều có quy định về tặng cho tài sản có điều kiện, có thể là những nghĩa vụ hay trách nhiệm được đặt ra trong hợp đồng buộc bên được tặng cho phải thực hiện khi nhận tài sản tặng cho và vấn đề hiệu lực của hợp đồng tặng cho tài sản. Đây là những vấn đề mấu chốt, có ý nghĩa quan trọng cho NCS tiếp cận và nghiên cứu hình thức và hiệu lực của giao dịch tặng cho QSDĐ ở, đặc biệt trong các trường hợp tặng cho nhà mà không tặng cho đất, hợp đồng vô hiệu từng phần hay vô hiệu toàn bộ khi một trong các chủ thể có QSDĐ ở không đồng ý việc tặng cho. Xaca Vacaxum, Tori Aritdumi (người dịch: Nguyễn Đức Giao, Lưu Tiến Dũng), “Bình luận Khoa học BLDS Nhật Bản”, Viện nghiên cứu khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 1995, hợp đồng tặng cho tài sản được phân tích trong Chương X của tài liệu, từ trang 541 đến trang 546 với các nội dung cở bản như: khái niệm tặng cho; hậu quả của việc tặng cho; hình thức của hợp đồng tặng cho tài sản; trách nhiệm của người tặng cho.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Quyền sử dụng đất ở theo pháp luật Việt Nam 2023" cung cấp cái nhìn tổng quan về các quy định pháp lý liên quan đến quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam. Nội dung tài liệu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc hiểu rõ quyền lợi và nghĩa vụ của người sử dụng đất, cũng như các quy trình pháp lý cần thiết để đảm bảo quyền lợi hợp pháp. Đặc biệt, tài liệu này giúp người đọc nhận thức rõ hơn về các vấn đề liên quan đến quản lý đất đai, từ đó có thể đưa ra quyết định đúng đắn trong việc sử dụng và đầu tư vào bất động sản.

Để mở rộng kiến thức về quy hoạch và sử dụng đất, bạn có thể tham khảo thêm các tài liệu như Luận văn tốt nghiệp nghiên cứu ảnh hưởng của quy hoạch sử dụng đất đến giá đất trên địa bàn huyện Vân Đồn tỉnh Quảng Ninh, nơi phân tích tác động của quy hoạch đến giá trị đất đai. Bên cạnh đó, Luận văn đánh giá quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2011-2015 trên địa bàn phường Hà Trung thành phố Hạ Long tỉnh Quảng Ninh sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc về quy hoạch đất đai trong một giai đoạn cụ thể. Cuối cùng, bạn cũng có thể tìm hiểu thêm về Luận văn thạc sĩ đánh giá kết quả thực hiện và đề xuất giải pháp hoàn thành phương án quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 tại huyện Đakrông tỉnh Quảng Trị, giúp bạn nắm bắt được các giải pháp quy hoạch hiệu quả trong tương lai.

Những tài liệu này không chỉ mở rộng kiến thức mà còn giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về quy hoạch và sử dụng đất tại Việt Nam.