Chương 1: Khái luận về chế định đại diện Chương 2: Thực trạng pháp luật Việt Nam về Đại diện trong quan hệ hợp đồng Chương 3: Cơ sở và định hƣớng giải pháp hoàn thiện pháp luật về Đại diện trong quan hệ hợp đồng Trƣớc khi đi vào nội dung chính của Luận văn, tác giả thống nhất về mặt sử dụng thuật ngữ ngắn gọn để thuận tiện cho quá trình phân tích và luận giải. Thuật ngữ “hợp đồng” dùng thay cho “hợp đồng trong kinh doanh, thƣơng mại”; thuật ngữ “đại diện trong quan hệ hợp đồng” dùng thay cho “đại diện trong quan hệ hợp đồng trong lĩnh vực kinh doanh, thƣơng mại”; thuật ngữ “Bộ luật dân sự” thay cho “Bộ luật dân sự 2005”; thuật ngữ “Luật thƣơng mại” thay cho “Luật thƣơng mại 2005”. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 KHÁI LUẬN VỀ CHẾ ĐỊNH ĐẠI DIỆN Cùng với sự tiến bộ, phát triển không ngừng của loài ngƣời, con ngƣời ngày càng mở rộng hơn nữa về các loại hình quan hệ xã hội. Và các quan hệ về kinh tế thƣơng mại cũng không phải là ngoại lệ.
Theo guồng quay phát triển kinh tế, một cá nhân chủ thể hay một tổ chức để có thể duy trì sự tồn tại của mình và thúc đẩy hơn nữa các tiềm năng bản thân, họ phải tham gia cùng lúc nhiều quan hệ xã hội khác nhau. Có những quan hệ xã hội đòi hỏi phải do chính chủ thể trong quan hệ xác lập. Những cũng có những quan hệ có thể hình thành mà không cần thiết chính các chủ thể phải tự mình tham gia. Đây chính là một nét thể hiện sự nhạy bén của xã hội nói chung và nền kinh tế nói riêng.
Với những quan hệ xã hội phải do chính các chủ thể tự mình xác lập, tác giả sẽ không đƣa ra bàn luận trong cuốn Luận văn này. Nội dung mà tác giả muốn hƣớng đến đó là những quan hệ xã hội mang tính linh hoạt cao, thể hiện sự kết hợp một cách hiệu quả giữa các chủ thể thông qua một hình thức pháp lý, một công cụ pháp lý hữu hiệu là quan hệ đại diện. Có phải quan hệ đại diện diễn ra một cách phổ biến, tùy hứng và đƣợc các bên chủ thể lựa chọn ngẫu nhiên không? Câu trả lời sẽ dần đƣợc giải đáp trong các phần nội dung khác nhau mà tác giả sẽ trình bày dƣới đây trong nội dung cuốn Luận văn này. Trƣớc hết, để có thể hiểu sâu sắc về quan hệ đại diện, các nội dung của đại diện hay đơn giản chỉ là để hiểu đại diện là gì, Luận văn sẽ trình bày về nội dung đầu tiên đó là Khái luận về Đại diện.
Khái niệm đại diện Trong đời sống xã hội nói chung và đời sống dân sự nói riêng, trong phần lớn quan hệ pháp luật các chủ thể sẽ tự mình xác lập và thực hiện các giao dịch. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau, có thể là nguyên nhân khách quan hoặc chủ quan, các cá nhân, tổ chức không thể tự mình tham gia vào các giao dịch nhất định. Đó là khi cá nhân gặp các vấn đề về sức khỏe, hay vì một số lý do do đặc thù công việc của cá nhân, cũng có thể xuất phát từ yêu cầu công việc cần thực hiện đòi hỏi trình chuyên môn chuyên biệt,…. Hay xuất phát từ nguyên nhân chủ thể không thể đảm bảo điều kiện để tham gia các giao dịch theo quy định của pháp luật nhƣ: Ngƣời chƣa thành niên, ngƣời bị hạn chế năng lực hành vi dân sự,….
Lúc này, họ cần đến sự hỗ trợ về mặt chủ thể để thay mặt họ tham gia vào các quan hệ pháp luật. Hay chính là họ sử dụng những “ngƣời giúp đỡ” thực hiện hành vi với bên thứ ba “vì họ”, “theo tài khoản của họ” nhƣ những “ngƣời đƣợc ủy quyền” hoặc “trong lợi ích của họ” [32]. Và pháp luật đã tạo ra một công cụ pháp lý hữu hiệu để giải quyết vấn đề này, đó là chế định đại diện. Đại diện là một chế định lớn, xuyên suốt đƣợc quy định trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật thực định, và đƣợc quy định cụ thể nhất trong Bộ luật Dân sự Việt Nam 2005.
Mở rộng tầm nhìn ra hệ thống văn bản pháp luật của các nƣớc khác trên thế giới, chúng ta sẽ thấy những cách nhìn nhận, quy định có phần khác biệt của các Bộ luật dân sự lớn về khái niệm đại diện. Mặc dù trong những BLDS này không đƣa ra khái niệm đại diện một cách trực tiếp. Nhƣng qua cách quy định gián tiếp ta cũng có thể hiểu đƣợc đại diện là gì. Trong BLDS Pháp quy định về một số nội dung của hợp đồng ủy quyền, tại điều 389-3 có đƣa ra “ngƣời quản lý theo pháp luật đối với tài sản của ngƣời chƣa thành niên đại diện cho ngƣời chƣa thành niên trong mọi giao dịch dân sự”, hay tại điều 1984 “hợp đồng ủy quyền là hợp đồng trong đó một ngƣời trao cho ngƣời khác quyền thực hiện một công việc nhân danh và vì lợi ích của ngƣời ủy quyền [2].
Qua những quy định này có thể thấy theo tinh thần của BLDS Pháp thì đại diện chính là việc một ngƣời thay ngƣời khác thực hiện công việc của ngƣời đó, vì lợi ích và nhân danh ngƣời đó. 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Cùng chung với quan điểm này, trong BLDS Thái Lan 1995 cũng đƣa ra quy định: “Hợp đồng uỷ quyền là một hợp đồng mà trong đó một ngƣời gọi là ngƣời thụ uỷ đƣợc quyền hành động cho một ngƣời khác gọi là ngƣời chủ uỷ và ngƣời đó chấp thuận làm nhƣ vậy” [3]. Tuy không đƣa ra một khái niệm cụ thể về hoạt động đại diện nhƣng các quy định kể trên đã thể hiện đƣợc tinh thần, nội dung cốt lõi của khái niệm đại diện. Không phải là ngoại lệ, cùng với tinh thần đó BLDS Việt Nam 2005 đã đƣa ra khái niệm cụ thể về đại diện: “Đại diện là việc một ngƣời (sau đây là ngƣời đại diện) nhân danh và vì lợi ích của ngƣời khác (sau đây là ngƣời đƣợc đại diện) xác lập và thực hiện giao dịch dân sự trong phạm vi đại diện”.
Từ khái niệm đại diện đƣợc quy định trong BLDS Việt Nam 2005 và những quan điểm về đại diện đƣợc thể hiện trong các BLDS lớn, ta có thể rút ra khái niệm đại diện: Đại diện là việc một người (người đại diện) thay mặt người khác (người được đại diện) thực hiện một số hành vi nhất định vì lợi ích hợp pháp và trong sự cho phép của người đó. Từ những phân tích khái niệm đại diện trên có thể nhận định Đại diện là một quan hệ pháp lý đƣợc cấu thành từ nhiều quan hệ pháp lý khác nhau. Quan hệ giữa người đại diện và người được đại diện: Đây là quan hệ “nội bộ”, không có hiệu lực pháp lý đối với bên ngoài. Quan hệ pháp lý giữa người đại diện và người thứ ba trong quan hệ giao dịch cũng là quan hệ “nội bộ” mang tính phụ thuộc, phái sinh từ quan hệ thứ nhất.
Quan hệ giữa người được đại diện và người thứ ba là quan hệ chủ yếu, phát sinh từ giao dịch do người đại diện xác lập. 292] 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Qua ba quan hệ pháp lý cấu thành kể trên, có thể thấy rõ nội dung của một quan hệ đại diện. - Quan hệ thứ nhất đề cập đến khía cạnh tƣơng tác về quyền và nghĩa vụ giữa ngƣời đại diện và ngƣời đƣợc đại diện. Việc ngƣời đƣợc đại diện giao cho ngƣời đại diện những “công việc” gì, phạm vi công việc đến đâu hay ngƣời đại diện đƣợc hƣởng những quyền lợi gì từ việc thực hiện đại diện là yếu tố “nội bộ”, là nội dung chỉ tác động đến ngƣời đại diện và ngƣời đƣợc đại diện, hoàn toàn không ảnh hƣởng đến bên ngoài, đến các chủ thể khác.
Bên thứ ba khi giao kết hợp đồng với ngƣời đƣợc đại diện thông qua ngƣời đại điện không cần biết và cũng không có nghĩa vụ phải biết giữa ngƣời đƣợc đại diện và ngƣời đại diện thỏa thuận những nội dung gì. Điều duy nhất bên thứ ba cần quan tâm đó là ngƣời đại diện có “quyền hạn” nhƣ thế nào trong giao dịch với mình. - Quan hệ thứ hai là một quan hệ phái sinh từ quan hệ thứ nhất. Nếu nhƣ trong quan hệ thứ nhất, ngƣời đƣợc đại diện giao cho ngƣời đại diện những “công việc” cụ thể và phạm vi của những công việc đó, thì quan hệ thứ hai chính là sự cụ thể hóa những nội dung đó của quan hệ thứ nhất.
Mọi hoạt động nằm trong quan hệ pháp lý thứ hai sẽ diễn ra theo giới hạn và nội dung cụ thể đƣợc thỏa thuận trong quan hệ pháp lý thứ nhất. Tuy nhiên, thực tế luôn luôn đa dạng. Và việc quan hệ pháp lý thứ hai diễn ra vƣợt quá phạm vi mà quan hệ pháp lý thứ nhất vạch ra là điều hoàn toàn có thể xảy ra. Lúc này, sự tƣơng tác giữa quan hệ pháp lý thứ nhất và quan hệ pháp lý thứ hai sẽ dẫn đến sự xuất hiện của quan hệ pháp lý mấu chốt nhất - quan hệ pháp lý thứ ba.
- Quan hệ pháp lý thứ ba - Quan hệ giữa ngƣời đƣợc đại diện và ngƣời thứ ba là quan hệ mấu chốt, cần đƣợc quan tâm nhất. Có thể nhận định nhƣ vậy bởi lẽ bản chất của hoạt động đại diện là việc một ngƣời “thực hiện thay” ngƣời khác một công việc nhất định đối với ngƣời thứ ba. Và hậu quả cần 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com quan tâm nhất phát sinh từ hoạt động đại diện chính là ngƣời đƣợc đại diện và ngƣời thứ ba sẽ có trách nhiệm với nhau nhƣ thế nào từ hoạt động đại diện của ngƣời đại diện. Chứ không phải là ngƣời đại diện sẽ có nghĩa vụ gì với bên thứ ba vì ngƣời đại diện chỉ là “làm thay” mà thôi.
Hay có thể nói theo một cách khác, chính việc một ngƣời xác lập một giao dịch dân sự trong phạm vi thẩm quyền cho phép lại làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt các quyền, nghĩa vụ dân sự của ngƣời khác (ngƣời đƣợc đại diện) là điểm đặc biệt, là cơ sở phân biệt chế định đại diện với các chế định pháp lý tƣơng tự khác. Có thể thấy rõ sự khác biệt này của chế định đại diện qua những so sánh cụ thể sau: - Khác với ngƣời đại diện, ngƣời nhận bán hàng ký gửi, đại lý dù xác lập giao dịch cho ngƣời ký gửi, ngƣời đại lý nhƣng nhân danh mình, không phải nhân danh ngƣời ký gửi, ngƣời đại lý.