Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ ngữ văn của tác giả Đặng Hoàng Oanh với đề tài "Văn xuôi Việt Nam giai đoạn 1975 đến nay từ cách đọc chấn thương", chuyên ngành Lí luận văn học (mã số 9.22.01.20), được thực hiện tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội năm 2022 dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Lê Lưu Oanh và TS. Trần Ngọc Hiếu.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Lí thuyết chấn thương (trauma theory) hình thành và phát triển từ đầu những năm 1990 tại Hoa Kỳ và phương Tây, gắn liền với "khúc ngoặt đạo đức" của lí thuyết phê bình đương đại nhằm nhận thức lại những biến cố lịch sử thảm khốc và các dạng thức bạo lực ngầm ẩn. Trong đời sống học thuật Việt Nam thời kỳ Đổi mới, nhiều khung lí thuyết như thi pháp học, kí hiệu học, phê bình nữ quyền, phê bình sinh thái hay lí thuyết trò chơi đã được tiếp nhận; tuy nhiên, lí thuyết chấn thương vẫn chưa được giới thiệu một cách hệ thống và việc ứng dụng vào nghiên cứu văn học còn hạn chế. Trong khi đó, văn xuôi Việt Nam sau năm 1975 là một thực thể vận động phức tạp, mang đậm dấu ấn của những di chứng chiến tranh và các bất trắc trong đời sống thế sự thời hậu chiến. Việc vận dụng lí thuyết chấn thương giúp giải mã các chấn thương lịch sử và chấn thương đời thường vốn chưa được định danh rõ ràng về mặt nội hàm trong nghiên cứu văn học trước đây.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu được xác định bao gồm:
- Khẳng định vị trí, vai trò của lí thuyết chấn thương trong bối cảnh khoa học nhân văn hiện đại và tính khả dụng của lí thuyết này trong nghiên cứu văn học; bước đầu thiết lập một mô hình đọc chấn thương.
- Khẳng định ưu thế của cách đọc chấn thương đối với bộ phận văn xuôi Việt Nam sau năm 1975; khám phá những đặc sắc về nội dung tư tưởng và hình thức biểu đạt của các tác phẩm văn xuôi giai đoạn này.
Nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Khái quát diễn trình hình thành và phát triển của lí thuyết chấn thương ở phương Tây, diễn giải hệ thống khái niệm cơ bản.
- Xây dựng quan niệm của luận án về chấn thương trên cơ sở tiếp thu hạt nhân lí thuyết của Cathy Caruth và kết hợp các hướng tiếp cận hậu Caruth.
- Khảo sát các giải phổ chấn thương trong văn học, phân tích cơ chế gây ra, bảo lưu hoặc làm quên lãng chấn thương trong đời sống lịch sử và đời thường.
- Phân tích những biến đổi trong lối viết và cấu trúc tự sự của văn xuôi Việt Nam từ năm 1975 đến nay dưới tác động của chấn thương.
Đối tượng, phạm vi và tư liệu nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Văn xuôi Việt Nam giai đoạn 1975 đến nay được tiếp cận dưới góc nhìn của lí thuyết chấn thương.
- Phạm vi và tư liệu nghiên cứu: Khảo sát các tác phẩm văn xuôi đương đại Việt Nam từ năm 1975 đến nay thuộc các thể loại truyện ngắn, tiểu thuyết và kí; kết hợp nghiên cứu các văn bản lí thuyết chấn thương và các trường hợp văn học thế giới có liên quan.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án phục dựng diễn trình phát triển của lí thuyết chấn thương qua ba giai đoạn chính và xác định vị trí nghiên cứu đối với văn xuôi Việt Nam sau năm 1975:
| Giai đoạn phát triển |
Tác giả và công trình tiêu biểu |
Nội dung và đóng góp trọng tâm |
| Chặng thứ nhất: Thời kì manh nha (Nửa sau thế kỉ XIX – đầu thế kỉ XX) |
- John Ericsson (1860, On Railway and Other Injuries of the Nervous System) - Charles Dickens (1865) - Jean Martin Charcot, Pierre Janet - Josef Breuer & Sigmund Freud (1895, Studies on Hysteria; 1920, Beyond the Pleasure Principle) |
- Nhận diện chấn thương tâm lí qua tai nạn đường sắt (railway shock, spine shock). - Phân tâm học xác lập cơ chế chấn thương: thời kì ủ bệnh, tính chất đến muộn (Nachträglichkeit), tính lặp lại bắt buộc (compulsion to repeat), hội chứng shellshock ở cựu binh Thế chiến I, đặt nền tảng cho chẩn đoán PTSD sau này. |
| Chặng thứ hai: Sự trỗi dậy (Thập niên 1990) |
- Nhóm nghiên cứu trường phái Yale: Geoffrey Hartman, Shoshana Felman, Dori Laub, Cathy Caruth - Shoshana Felman & Dori Laub (1992, Testimony: Crises of Witnessing in Literature, Psychoanalysis and History) - Cathy Caruth (1995, Trauma: Explorations in Memory; 1996, Unclaimed Experience: Trauma, Narrative, History) |
- Gắn liền với sự ra đời của Kho lưu trữ video Fortunoff Holocaust tại Đại học Yale (1980). - Xác lập mô hình chấn thương cổ điển: chấn thương là sự kiện gây choáng ngợp không thể đồng hóa, thách thức khả năng biểu đạt của ngôn ngữ, tồn tại độ trễ (latency) và tạo nghịch lí trong trần thuật. |
| Chặng thứ ba: Đa dạng hóa, đa phương hóa (Từ năm 2000 đến nay) |
- Ruth Leys (2000, Trauma: A Genealogy) - Dominick LaCapra (Writing History, Writing Trauma) - Michelle Balaev (2008, 2012, 2014, The Nature of Trauma in American Novels) - Wendy S. Hesford, Puleng Segalo, Judith Butler, Amos Goldberg (2006) - J. (biên tập, 2018, Trauma and Literature, Cambridge University Press) - The Journal of Literature and Trauma Studies (2012–2018) |
- Phê phán mô hình cổ điển, chuyển sang mô hình đa nguyên (pluralism theory) và lí thuyết địa điểm (place theory). - Nghiên cứu chấn thương như một diễn ngôn gắn với bối cảnh văn hóa, quyền lực, bạo lực thường nhật, giới tính, chủng tộc và lí thuyết cảm xúc (Affect theory). - Mở rộng ngữ liệu sang văn học châu Á, châu Phi, Ireland, Rwanda. |
Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết
Tại Việt Nam, các nghiên cứu trước đây về văn xuôi giai đoạn sau 1975 chủ yếu tiếp cận dưới góc độ thi pháp học, tự sự học hoặc xã hội học văn học. Khi đề cập đến mất mát, các công trình thường khu biệt ở phạm vi chiến tranh mà chưa nhìn nhận chấn thương như một cấu trúc tâm lí - văn hóa hoàn chỉnh; đồng thời mảng chấn thương trong đời thường và các cơ chế bạo lực tiềm ẩn trong đời sống nhật dụng chưa được nghiên cứu thấu đáo. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống này bằng việc xây dựng một khung lí thuyết chấn thương hệ thống để khảo sát toàn diện văn xuôi Việt Nam từ năm 1975 đến nay.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lí thuyết và khung phân tích
Luận án xây dựng khung phân tích kết hợp giữa mô hình chấn thương cổ điển và mô hình diễn ngôn đương đại:
- Hạt nhân lí thuyết của Cathy Caruth: Định nghĩa chấn thương là trải nghiệm choáng ngợp trước những sự kiện đột ngột hoặc thảm họa mà phản ứng đối với nó xuất hiện dưới dạng ảo giác, ký ức xâm nhập lặp lại không kiểm soát. Luận án vận dụng các khái niệm: sự trải nghiệm muộn màng (Nachträglichkeit / belatedness), thời kì ủ bệnh (latency), tính lặp lại bắt buộc (compulsion to repeat), tiếng nói của vết thương (the voice of wound), và nghịch lí giữa biết và không biết (knowing and not knowing).
- Mở rộng theo hướng đa nguyên và diễn ngôn: Kết hợp quan điểm của Michelle Balaev về tính kiến tạo văn hóa của chấn thương; khái niệm vô thức xã hội của Erich Fromm; lí thuyết diễn ngôn và quyền lực của Michel Foucault; quan niệm của Judith Butler về bạo lực giới; khái niệm "cái chết tượng trưng" của Amos Goldberg; và lí thuyết cảm xúc (Affect theory) để giải mã các dạng bạo lực tiềm ẩn trong đời sống thường nhật.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu định tính chuyên ngành và liên ngành:
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Vận dụng tri thức từ triết học, phân tâm học, văn hóa học và thi pháp học để soi chiếu các hiện tượng chấn thương trong văn bản văn học.
- Phương pháp hệ thống: Đặt chấn thương trong mối liên hệ hữu cơ với diễn trình vận động của văn học Việt Nam sau năm 1975 và cấu trúc chỉnh thể của tác phẩm.
- Phương pháp loại hình: Phân loại các dạng thức chấn thương (chấn thương lịch sử, chấn thương đời thường) và các kiểu nhân vật chấn thương trong văn xuôi.
- Phương pháp phân tích cấu trúc văn bản nghệ thuật: Giải mã các yếu tố tự sự như người kể chuyện, điểm nhìn trần thuật, ngôn ngữ và kết cấu tác phẩm từ văn bản nghệ thuật.
Nguồn tư liệu nghiên cứu
Tư liệu khảo sát bao gồm các tác phẩm truyện ngắn, tiểu thuyết, kí tiêu biểu của văn xuôi Việt Nam từ năm 1975 đến nay; kết hợp tham chiếu các văn bản lí luận phê bình chấn thương của Freud, Caruth, Hartman, Felman, Leys, LaCapra, Balaev và một số tác phẩm văn học thế giới (Svetlana Alexievich, Wislawa Szymborska, Natascha Wodin).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương 1 tập trung làm rõ bản chất của lí thuyết như một "cách đọc" (bắt nguồn từ thuật ngữ Hy Lạp cổ theōria), phản ánh sự dịch chuyển từ các mô hình tập trung thuần túy vào cấu trúc nội tại của văn bản (như Phê bình mới, Chủ nghĩa cấu trúc) sang các mô hình tiếp cận mở, liên ngành và mang tính giải trung tâm của văn hóa hậu hiện đại.
Tác giả hệ thống hóa ba chặng đường phát triển của lí thuyết chấn thương từ y học và phân tâm học thế kỉ XIX đến trường phái Yale những năm 1990 và bước ngoặt đa dạng hóa ở đầu thế kỉ XXI.
Tiếp đó, chương này phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội của văn học Việt Nam sau năm 1975. Luận án chỉ ra sự chuyển biến từ nền văn học thời chiến mang cảm hứng sử thi, lãng mạn—nơi nỗi đau cá nhân bị hòa tan vào cái bi tráng của cộng đồng (dẫn chứng qua nhân vật Tnú trong Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành, người chịu đựng nỗi đau tột cùng nhưng không phải là nhân vật chấn thương vì nỗi đau đã được chuyển hóa thành sức mạnh chiến đấu)—sang nền văn học thời hậu chiến. Sau năm 1975, văn học được giải phóng khỏi nhãn quan duy ý chí, mở ra không gian cho cái tôi cá nhân, nhìn nhận lại những vết thương chiến tranh chưa lành và chất vấn các góc khuất lịch sử.
Chương 2. Nhận diện chấn thương và văn học chấn thương
Chương 2 thiết lập khung khái niệm và xác lập quan niệm của luận án về chấn thương. Luận án khẳng định chấn thương tinh thần là hiện tượng mang tính cấu trúc của vô thức:
- Cơ chế hoạt tác: Chấn thương không được chủ thể nhận thức trọn vẹn tại thời điểm xảy ra sự kiện mà được kích hoạt trong quá trình nhớ lại thông qua các mảnh vỡ kí ức, giấc mơ và ảo giác.
- Bạo lực tiềm ẩn và cơ chế diễn ngôn: Mở rộng khái niệm sự kiện chấn thương, không chỉ giới hạn ở chiến tranh hay thảm họa quy mô lớn mà bao gồm cả các cơ chế trấn áp, chuẩn tắc áp đặt vô hình trong đời sống thường nhật. Vận dụng quan niệm vô thức xã hội (Erich Fromm) và diễn ngôn quyền lực (Michel Foucault), luận án chỉ ra rằng các thiết chế xã hội có thể kiểm duyệt và đè nén khiến nỗi đau bị tước mất tiếng nói.
- Tính bất khả của ngôn ngữ: Chấn thương làm phát lộ sự bất lực của ngôn ngữ thông thường. Trạng thái chấn thương thường được biểu đạt gián tiếp qua sự câm lặng, khoảng trống tự sự hoặc ngôn ngữ ám thị (phân tích qua tác phẩm của Svetlana Alexievich và thơ Wislawa Szymborska).
- Chấn thương xuyên lịch sử: Sự liên kết giữa chấn thương cá nhân và kí ức tập thể, trong đó chấn thương của thế hệ trước có thể di căn sang thế hệ sau (dẫn chứng qua tác phẩm của Natascha Wodin).
- Phân loại văn học chấn thương và văn xuôi chứng nhân: Xác định vai trò của thể loại chứng từ, tự truyện trong việc khôi phục sự thật lịch sử và trả lại tiếng nói cho các nạn nhân.
Chương 3. Một số chủ đề chấn thương trong văn xuôi Việt Nam giai đoạn 1975 đến nay
Chương 3 đi sâu khảo sát các chủ đề chấn thương tiêu biểu trong văn xuôi đương đại Việt Nam qua hai nhánh chính:
- Chấn thương lịch sử:
- Cơ chế hình thành: Bắt nguồn từ những trải nghiệm bạo lực khốc liệt của chiến tranh và những biến động xã hội thời hậu chiến.
- Cảm thức chấn thương: Cảm thức mất mát, sự vỡ mộng trước thực tại, nỗi ám ảnh dai dẳng bởi kí ức chết chóc và cảm giác tội lỗi của người sống sót.
- Các kiểu nhân vật chấn thương: Kiểu nhân vật cựu binh mang hội chứng sang chấn sau chiến tranh (PTSD), nhân vật mang thương tật thể xác gắn liền với vết thương tinh thần, và nhân vật sống trong sự giằng xé giữa quá khứ và hiện tại.
- Chấn thương trong đời thường:
- Các hình thái bạo lực trong đời thường: Bạo lực gia đình, bạo lực giới, sự đàn áp tâm lí, định kiến xã hội và áp lực sinh tồn trong xã hội hiện đại.
- Cảm thức chấn thương: Cảm giác cô đơn, bất an, sự vong thân và khủng hoảng căn tính bản thể.
- Các kiểu nhân vật chấn thương: Kiểu nhân vật phụ nữ chịu áp chế của trật tự phụ quyền, kiểu nhân vật bị tổn thương tâm lí từ thời thơ ấu, và kiểu nhân vật tha hóa, bế tắc giữa nhịp sống thế sự.
Chương 4. Chấn thương và cấu trúc tự sự trong văn xuôi Việt Nam giai đoạn 1975 đến nay
Chương 4 khảo sát sự tác động của chấn thương tới hình thức nghệ thuật và cách thức tổ chức tự sự:
- Vấn đề người kể chuyện và đạo đức tự sự: Người kể chuyện trong văn học chấn thương mang trách nhiệm đạo đức của một chứng nhân. Luận án chỉ ra sự suy giảm thẩm quyền của người kể chuyện toàn tri truyền thống; thay vào đó là người kể chuyện không đáng tin cậy hoặc người kể chuyện trải nghiệm, đi kèm với sự đa bội của điểm nhìn trần thuật nhằm phản ánh sự phân mảnh của tâm lí chấn thương.
- Sự khủng hoảng của ngôn ngữ: Ngôn ngữ tự sự bị phá vỡ cấu trúc tuyến tính thông thường, xuất hiện nhiều khoảng lặng, đứt gẫy, câu văn ngập ngừng, cùng sự thâm nhập của ngôn ngữ tiềm thức, dòng ý thức và ngôn ngữ giấc mơ.
- Hiệu ứng gây tác động về cảm xúc (Affect theory): Phân tích cách thức văn bản tạo ra sự truyền dẫn cảm xúc, lôi kéo người đọc vào trải nghiệm đau đớn của nhân vật, biến việc đọc thành một hành vi chia sẻ và đồng cảm đạo đức.
- Kết cấu mở: Tác phẩm văn học chấn thương thường từ chối mô hình kết thúc đóng kín, có hậu hay giải quyết triệt để xung đột. Kết cấu mở phản ánh bản chất của chấn thương: một vết thương không thể dễ dàng khép miệng và luôn có nguy cơ tái diễn trong tương lai.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lí luận
- Luận án là công trình nghiên cứu hệ thống đầu tiên tại Việt Nam giới thiệu toàn diện về lịch sử hình thành, các giai đoạn phát triển, nội dung cốt lõi và tính khả dụng của lí thuyết chấn thương trong nghiên cứu văn học.
- Thiết lập một khung lí thuyết chấn thương tích hợp, kết hợp giữa mô hình phân tâm học cổ điển của Cathy Caruth với mô hình đa nguyên, văn hóa và diễn ngôn của phê bình đương đại.
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Chứng minh tính khả dụng và hiệu quả của cách đọc chấn thương khi áp dụng vào việc giải mã văn xuôi Việt Nam giai đoạn từ 1975 đến nay, giúp khám phá những tầng sâu tư tưởng mới của các tác phẩm quen thuộc.
- Mở rộng phạm vi của văn học chấn thương sang mảng đề tài chấn thương đời thường và bạo lực tiềm ẩn, khắc phục quan niệm đơn giản hóa cho rằng chấn thương chỉ gắn liền với chiến tranh hay thảm họa lịch sử.
- Làm sáng tỏ mối quan hệ tương hỗ giữa nội dung cảm thức chấn thương và những cách tân trong cấu trúc tự sự (người kể chuyện, ngôn ngữ, điểm nhìn, kết cấu) của văn xuôi đương đại.
Kiến nghị và đề xuất
Luận án đề xuất việc tiếp tục vận dụng linh hoạt và có bản lĩnh các lí thuyết văn học hiện đại của phương Tây vào nghiên cứu văn học dân tộc, tránh việc sao chép giản đơn hoặc áp đặt lí thuyết cơ học, nhằm tạo ra những đối thoại học thuật bình đẳng trong bối cảnh hội nhập quốc tế.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Do dung lượng và giới hạn đề tài, luận án chưa thể bao quát toàn bộ khối lượng tác phẩm văn xuôi phong phú từ sau năm 1975 đến nay, đồng thời chỉ tập trung khảo sát dòng mạch chính của lí thuyết chấn thương mà chưa thể bao quát hết các biến thể lí thuyết chuyên biệt trên thế giới.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng việc áp dụng cách đọc chấn thương sang các thể loại văn học khác như thơ ca, kịch bản sân khấu hoặc văn học mạng; đồng thời triển khai các nghiên cứu so sánh văn học chấn thương Việt Nam với văn học của các quốc gia có cùng bối cảnh lịch sử trong khu vực và trên thế giới.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng thụ hưởng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Lí luận văn học, Văn học Việt Nam, Văn học so sánh.
- Giảng viên đại học và các nhà nghiên cứu trong việc xây dựng giáo trình chuyên đề về lí thuyết văn học đương đại và tiến trình văn xuôi Việt Nam thời kì Đổi mới.
- Các nhà nghiên cứu thuộc các ngành khoa học xã hội và nhân văn liên quan như tâm lí học văn hóa, nghiên cứu văn hóa, xã hội học nghệ thuật.
- Phần nội dung có giá trị tham khảo cao:
- Phần tổng thuật và hệ thống hóa lí thuyết chấn thương (Chương 1 và Chương 2) là tài liệu tham khảo cơ bản về các thuật ngữ, cơ chế hoạt tác của chấn thương trong nghệ thuật.
- Khung phân tích chủ đề và cấu trúc tự sự (Chương 3 và Chương 4) cung cấp các thao tác tiếp cận văn bản cụ thể cho việc thực hành phân tích tác phẩm văn xuôi.
Câu hỏi thường gặp
1. Quan niệm về chấn thương của luận án có điểm gì kế thừa và mở rộng so với lí thuyết của Cathy Caruth?
Luận án kế thừa quan niệm cốt lõi của Cathy Caruth: xem chấn thương là một cấu trúc trải nghiệm mang tính đến muộn (latency / Nachträglichkeit), hoạt động trong vô thức, thách thức khả năng biểu đạt của ngôn ngữ và thường quay trở lại lặp lại một cách không kiểm soát. Tuy nhiên, luận án mở rộng giới hạn của mô hình Caruth bằng cách tiếp thu các quan điểm hậu Caruth (Michelle Balaev, Foucault, Judith Butler): không xem chấn thương thuần túy là sự đứt gãy bệnh lí thần kinh mà tiếp cận chấn thương như một diễn ngôn văn hóa - xã hội, mở rộng đối tượng sang các hình thái bạo lực tiềm ẩn và áp chế trong đời sống thường nhật.
2. Sự khác biệt trong việc miêu tả nỗi đau giữa văn học trước 1975 và sau 1975 được tác giả luận giải như thế nào?
Trong văn học trước 1975, cảm hứng sử thi và lãng mạn giữ vai trò chủ đạo. Nỗi đau và sự mất mát của con người dù khốc liệt nhưng được đặt trong phạm trù cái bi hùng, hòa vào âm hưởng ngợi ca chung của cộng đồng (tiêu biểu như nhân vật Tnú trong Rừng xà nu, nỗi đau mất gia đình và đôi bàn tay thương tật được chuyển hóa thành sức mạnh hờn căm, chiến đấu, không tồn tại trạng huống chấn thương dai dẳng). Ngược lại, văn học sau 1975 giải phóng cái nhìn duy ý chí, phơi bày những vết thương chiến tranh còn mưng mủ, mô tả trực diện nỗi ám ảnh tinh thần, sự vỡ mộng và bi kịch đời tư của cá nhân trong thời hậu chiến.
3. Diễn trình phát triển của lí thuyết chấn thương phương Tây được luận án chia thành những giai đoạn nào?
Luận án chia lịch sử lí thuyết chấn thương thành ba giai đoạn:
- Chặng thứ nhất (nửa sau thế kỉ XIX – đầu thế kỉ XX): Khởi đầu từ y học với các nghiên cứu về tai nạn đường sắt (John Ericsson), phát triển thành lí thuyết tâm lí qua phân tâm học của Freud và cộng sự (Josef Breuer, Charcot, Janet) với các khái niệm Nachträglichkeit, compulsion to repeat, shellshock.
- Chặng thứ hai (thập niên 1990): Sự trỗi dậy của trường phái Yale (Geoffrey Hartman, Shoshana Felman, Dori Laub, Cathy Caruth) gắn với nghiên cứu về thảm họa Holocaust, xác lập mô hình chấn thương cổ điển và văn học chứng nhân.
- Chặng thứ ba (từ năm 2000 đến nay): Đa dạng hóa và đa phương hóa với sự xuất hiện của mô hình đa nguyên (Michelle Balaev), nghiên cứu phả hệ (Ruth Leys), lịch sử (Dominick LaCapra), mở rộng sang các vấn đề giới tính, bạo lực thường nhật và lí thuyết cảm xúc.
4. Luận án giải thích thế nào về "tính bất khả biểu đạt của ngôn ngữ" trong văn học chấn thương?
Do chấn thương là sự kiện vượt quá ngưỡng tri nhận thông thường và không được đồng hóa trọn vẹn vào kí ức tại thời điểm xảy ra, ngôn ngữ quy chiếu trực tiếp tỏ ra bất lực trong việc tái hiện nó. Ngôn ngữ bị trượt nghĩa hoặc rơi vào trạng thái im lặng. Do đó, văn học chấn thương buộc phải tìm kiếm các phương thức biểu đạt gián tiếp như sử dụng ngôn ngữ ám thị, ngôn ngữ của giấc mơ, các khoảng trống tự sự và sự câm lặng (được minh chứng qua các tác phẩm của Svetlana Alexievich hay thơ Wislawa Szymborska).
5. Cấu trúc tự sự trong văn xuôi Việt Nam sau năm 1975 biến đổi như thế nào dưới tác động của chấn thương?
Chấn thương tác động sâu sắc đến hình thức tự sự qua bốn phương diện:
- Người kể chuyện: Suy giảm thẩm quyền của người kể chuyện toàn tri; xuất hiện người kể chuyện đóng vai trò chứng nhân hoặc người kể chuyện không đáng tin cậy; trần thuật đa điểm nhìn.
- Ngôn ngữ: Ngôn ngữ bị đứt gãy, xuất hiện nhiều khoảng lặng, đan xen ngôn ngữ độc thoại nội tâm và tiềm thức.
- Hiệu ứng cảm xúc: Văn bản tạo ra sự truyền dẫn cảm xúc mạnh mẽ (Affect theory) nhằm khơi gợi sự thấu cảm đạo đức từ người đọc.
- Kết cấu: Sử dụng kết cấu mở, không khép kín xung đột, phản ánh tính chất chưa thể chữa lành của các vết thương tinh thần.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Đặng Hoàng Oanh là một công trình nghiên cứu lí luận văn học được triển khai công phu, tiếp cận văn xuôi Việt Nam giai đoạn từ năm 1975 đến nay dưới lăng kính lí thuyết chấn thương. Bằng việc hệ thống hóa tường minh ba chặng đường phát triển của lí thuyết chấn thương trên thế giới và xác lập một khung phân tích đa nguyên, luận án đã làm sáng tỏ các giải phổ chấn thương lịch sử và chấn thương đời thường trong văn học đương đại. Đồng thời, công trình chỉ ra mối liên hệ chặt chẽ giữa cảm thức chấn thương và sự biến đổi của cấu trúc tự sự, đóng góp tư liệu lí luận và phương pháp tiếp cận có giá trị cho nghiên cứu văn học Việt Nam.