Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH TRONG VIỆC SỬ DỤNG NHÃN HIỆU VÀ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH TRONG VIỆC SỬ DỤNG NHÃN HIỆU Ở VIỆT NAM 1. Một số vấn đề lý luận về cạnh tranh không lành mạnh trong việc sử dụng nhãn hiệu 1. Khái quát về nhãn hiệu và hành vi cạnh tranh không lành mạnh Nhãn hiệu là yếu tố đƣợc sử dụng rất rộng rãi trong nền kinh tế thị trƣờng, ở một nhãn hiệu có sự gắn liền giữa lĩnh vực thƣơng mại và lĩnh vực sở hữu trí tuệ. Mặc dù có nhiều thuật ngữ đƣợc đƣợc sử dụng rộng rãi không chỉ trong kinh tế, thƣơng mại mà cả trên các phƣơng tiện thông tin đại chúng và đời sống thƣờng nhật nhƣ “nhãn hiệu”, “thƣơng hiệu”, “biểu tƣợng” hay “logo”, tuy nhiên chỉ có nhãn hiệu là khái niệm đƣợc nhắc đến trong pháp luật sở hữu trí tuệ.
Theo pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam, “nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau” [13, Điều 4, Khoản 16]. Về khái niệm cạnh tranh, theo Từ điển Tiếng Việt, cạnh tranh là “cố gắng giành phần hơn, phần thắng về mình giữa những người, những tổ chức hoạt động nhằm những lợi ích như nhau” [32, tr. Với khái niệm này, cạnh tranh đƣợc xem xét ở góc độ chung nhất của đời sống xã hội. Mác: "Cạnh tranh là sự ganh đua, đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu dùng hàng hóa để thu được lợi nhuận siêu ngạch" [5, tr.
Theo Từ điển kinh doanh của Anh xuất bản năm 1992, cạnh tranh đƣợc định nghĩa là “sự ganh đua, sự kình địch giữa các nhà kinh doanh trên thị trường nhằm tranh giành những lợi ích giống nhau từ chủ thể thứ ba” [13, tr. Dƣới góc độ sản xuất, kinh doanh trong điều kiện của cơ chế thị trƣờng, có thể hiểu khái niệm cạnh tranh nhƣ sau: “Cạnh tranh được coi là hành vi của các 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chủ thể trong khi tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế thị trường với mục đích giành và thiết lập cho mình những ưu thế có lợi nhất để thu lợi nhuận cao nhất” [16]. Cạnh tranh là một trong những quy luật cơ bản của nền kinh tế thị trƣờng, nơi pháp luật thừa nhận và bảo đảm chế độ sở hữu nhiều thành phần, quyền tự do ý chí của các chủ thể mà tiêu biểu là quyền tự do kinh doanh. Có tự do cạnh tranh thì nền kinh tế thị trƣờng mới vận hành theo đúng quy luật tất yếu của nó và từ đó phát huy nội lực thúc đẩy nền kinh tế.
Do đó, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều thừa nhận cạnh tranh và đƣa ra những đảm bảo pháp lý nhằm thúc đẩy tự do cạnh tranh. Tuy nhiên, chính cạnh tranh cũng là yếu tố đem đến những hậu quả tiêu cực về kinh tế - xã hội, đó là khi các chủ thể sản xuất, kinh doanh thực hiện những hành vi CTKLM. Khi cơ chế thị trƣờng khuyến khích các doanh nghiệp đƣợc tự do kinh doanh thì việc đánh giá tính lành mạnh, trung thực trong hành vi cạnh tranh của doanh nghiệp và đặt ra các giới hạn cho cạnh tranh nhằm ngăn ngừa hành vi CTKLM là một công việc khó khăn, trong đó việc đƣa ra một khái niệm đầy đủ về hành vi CTKLM có ý nghĩa then chốt. Công ƣớc Paris ngày 20/03/1883 về bảo hộ sở hữu công nghiệp (sau đây gọi là Công ƣớc Paris) là một trong những điều ƣớc quốc tế sớm nhất có quy định về việc chống lại hành vi CTKLM.
Điều 10Bis của Công ƣớc đã đƣa ra khái niệm về các hành vi CTKLM, cụ thể là: “Bất cứ hành động nào trái với tập quán trung thực trong công nghiệp và thương mại đều bị coi là hành động cạnh tranh không lành mạnh” [8]. Theo Công ƣớc Paris, tiêu chí quan trọng nhất để đánh giá tính chất “không lành mạnh” là “trái với tập quán trung thực”. Tuy nhiên, chính bản thân tiêu chí này cũng không nhất quán ở mọi quốc gia. Tuỳ thuộc vào hoàn cảnh lịch sử, điều kiện kinh tế, văn hoá, xã hội mà ở mỗi quốc gia sẽ có những tập quán kinh doanh riêng.
Điều 10Bis Công ƣớc Paris có ý nghĩa rất to lớn trong thƣơng mại quốc tế, tạo tiền đề cho sự hình thành và phát triển của thiết chế pháp luật của các quốc gia thành viên trong việc chống lại các hành vi CTKLM. Công ƣớc cũng khuyến nghị các quốc gia thành viên cụ thể hoá các tiêu chí để đánh giá hành vi CTKLM trong pháp luật của quốc gia mình. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Theo pháp luật của Cộng đồng châu Âu: Với nỗ lực để thống nhất các quy định về CTKLM giữa các quốc gia thành viên trong khuôn khổ chƣơng trình hài hoà hoá pháp luật chung (Legal Harmonisation), Cộng đồng châu Âu đã phát triển các quy định chung áp dụng cho Cộng đồng theo nhiều hình thức, cấp độ. Đặc biệt, Chỉ thị số 2005/29/EC hƣớng dẫn các hành vi thƣơng mại không lành mạnh đã thay thế cho một loạt các luật lệ thông thƣờng đang tồn tại ở các quốc gia thành viên [27].
Từ khi Chỉ thị số 2005/29/EC ra đời, các hành vi thƣơng mại trên khắp Châu Âu đƣợc đánh giá theo một tiêu chuẩn chung. Điều 5 của Chỉ thị quy định một hành vi thƣơng mại bị coi là không lành mạnh nếu: - Đi ngƣợc lại với các yêu cầu về sự cần mẫn nghề nghiệp; hoặc - Bóp méo một cách nghiêm trọng hoặc có khả năng bóp méo nghiêm trọng ứng xử kinh tế trong mối liên hệ với sản phẩm của ngƣời tiêu dùng trung bình (hay ngƣời tiêu dùng phổ thông) [27]. “Ngƣời tiêu dùng trung bình” – theo định nghĩa của Toà án công lý liên minh châu Âu, “là người có đầy đủ thông tin ở mức vừa phải, tinh ý ở mức vừa phải và thận trọng ở mức độ vừa phải, khi tính đến các yếu tố xã hội, văn hóa và ngôn ngữ” [17]. Theo quy định của Chỉ thị số 2005/29/EC thì trong thực tiễn để xác định một hành vi thƣơng mại là không lành mạnh đều dựa trên tác động của hành vi đó hoặc tác động có khả năng xảy ra của hành vi đó đối với ngƣời tiêu dùng trung bình hay còn gọi là ngƣời tiêu dùng phổ thông.
Với sự ra đời của Chỉ thị số 2005/29/EC, các hành vi thƣơng mại trên khắp Châu Âu đã đƣợc đánh giá theo một tiêu chuẩn chung nhất, mật thiết hơn, thay thế cho một loạt các luật lệ thông thƣờng về hành vi thƣơng mại không lành mạnh đang tồn tại phân tán ở các quốc gia thành viên EU và góp phần xoá bỏ các rào cản vốn tồn tại trên thị trƣờng chung những năm trƣớc đó. Theo pháp luật Việt Nam: Luật cạnh tranh 2004 đƣa ra định nghĩa về CTKLM tại Khoản 4 Điều 3 nhƣ sau: Hành vi cạnh tranh không lành mạnh là hành vi cạnh tranh của doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh trái với các chuẩn mực thông thƣờng về đạo đức kinh doanh, gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com lợi ích của Nhà nƣớc, quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác hoặc ngƣời tiêu dùng [21, Điều 3]. Định nghĩa về hành vi CTKLM trong Luật cạnh tranh 2004 về cơ bản là tƣơng đồng với Công ƣớc Paris cũng nhƣ pháp luật của các nƣớc có nền kinh tế thị trƣờng phát triển. Cụ thể, một hành vi CTKLM đƣợc cấu thành bởi 3 yếu tố: - Chủ thể thực hiện hành vi CTKLM: doanh nghiệp hoạt động trên thị trƣờng; - Tính chất của hành vi CTKLM: trái với các chuẩn mực thông thƣờng về đạo đức kinh doanh; - Đối tƣợng bị xâm hại bởi hành vi CTKLM: Nhà nƣớc, ngƣời tiêu dùng hoặc doanh nghiệp khác.
Nhƣ vậy, có thể thấy có nhiều quan điểm, nhiều cách định nghĩa khác nhau về hành vi CTKLM, tuy nhiên, tất cả các định nghĩa đó đều có chung nhận định rằng đây là hành vi cạnh tranh tiêu cực, xâm phạm môi trƣờng kinh doanh lành mạnh, đi ngƣợc lại chuẩn mực đạo đức xã hội, tập quán và truyền thống kinh doanh, xâm hại tới lợi ích của các chủ thể khác. Những hành vi này do đó cần phải đƣợc ngăn chặn kịp thời để bảo vệ lợi ích của nhà nƣớc, quyền và lợi ích chính đáng của doanh nghiệp khác và ngƣời tiêu dùng. Có nhiều căn cứ để phân loại các hành vi CTKLM. Ví dụ: - Xét theo hình thức của hành vi, hành vi CTKLM bao gồm nhiều dạng hành vi: chỉ dẫn gây nhầm lẫn, xâm phạm bí mật kinh doanh, phân biệt đối xử của hiệp hội, bán hàng đa cấp bất chính, v.v… - Xét theo mục đích của hành vi, hành vi CTKLM về cơ bản gồm các hành vi chiếm đoạt ƣu thế cạnh tranh của doanh nghiệp khác (ví dụ, chiếm đoạt bí mật thƣơng mại); hoặc hành vi hủy hoại ƣu thế cạnh tranh của doanh nghiệp khác (ví dụ, gièm pha đối thủ cạnh tranh); hoặc hành vi tạo ra ƣu thế cạnh tranh giả tạo (ví dụ, quảng cáo gian dối).
- Xét theo lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, hành vi CTKLM có thể gồm nhiều loại: CTKLM trong lĩnh vực ngân hàng, CTKLM trong lĩnh vực bảo hiểm, CTKLM trong lĩnh vực viễn thông, CTKLM trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ, v.v… 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Xét theo đối tượng bị xâm hại, hành vi CTKLM bao gồm: hành vi xâm hại tới lợi ích của đối thủ cạnh tranh, hành vi xâm hại tới lợi ích của ngƣời tiêu dùng, hành vi can thiệp vào môi trƣờng cạnh tranh nói chung. Hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong việc sử dụng nhãn hiệu Việc sử dụng quyền chống CTKLM trong các vụ việc có liên quan đến lĩnh vực sở hữu trí tuệ nói chung và nhãn hiệu nói riêng đã đƣợc biết đến từ lâu trên thế giới. Công ƣớc Paris đƣợc coi là văn kiện pháp lý quốc tế đầu tiên quy định về hành vi CTKLM trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp, trong đó có việc sử dụng nhãn hiệu. Theo Công ƣớc Paris, các nƣớc thành viên của Liên minh có trách nhiệm bảo đảm cho công dân của các nƣớc thành viên đó sự bảo hộ có hiệu quả chống lại hành vi CTKLM.
Công ƣớc Paris đã trải qua rất nhiều lần sửa đổi, điều chỉnh nhằm ngày một hoàn thiện hơn. Các hành vi CTKLM liên quan đến sở hữu công nghiệp đƣợc quy định tại Điều 10bis của Công ƣớc.