Tổng quan nghiên cứu

Trong tiến trình lịch sử quân chủ Việt Nam từ năm 1075 đến năm 1919, Nam Định luôn khẳng định vị thế là một trong những trung tâm giáo dục và khoa bảng tiêu biểu với 82 vị đỗ đại khoa và 405 vị đỗ trung khoa. Dưới triều Nguyễn giai đoạn 1802-1919, toàn tỉnh đã đào tạo được 31 vị Tiến sĩ và 347 vị Cử nhân, đồng thời sở hữu mạng lưới giáo dục quy mô lớn gồm 14 trường học công lập cùng 24 trường tư thục danh tiếng. Tuy nhiên, trước tác động khắc nghiệt của chiến tranh và biến đổi kinh tế - xã hội vào cuối thế kỷ XX, ước tính hơn 70% các thiết chế Nho học tại địa phương đã bị hư hại hoặc biến mất hoàn toàn khỏi không gian văn hóa làng xã.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là làm rõ quá trình hình thành, biến đổi kiến trúc, hoạt động tế tự và vai trò xã hội của Văn miếu cùng hệ thống văn từ, văn chỉ trên địa bàn tỉnh Nam Định trong giai đoạn 1802-1919. Mục tiêu cụ thể hướng đến việc hệ thống hóa toàn bộ cứ liệu lịch sử, khảo sát thực địa hiện trạng các di tích Nho học và phân tích sâu sắc tác động của Nho giáo đối với nếp sống cộng đồng cư dân châu thổ sông Hồng. Phạm vi nghiên cứu bao quát không gian 10 đơn vị hành chính của tỉnh Nam Định trong khung thời gian từ khi vua Gia Long lên ngôi năm 1802 đến khoa thi Nho học cuối cùng năm 1919, có sự so sánh đối chiếu với giai đoạn trước thế kỷ XIX. Luận văn mang ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc, góp phần tái hiện 100% diện mạo hệ thống di tích Nho học cấp tỉnh, phủ, huyện, tổng và xã, tạo lập cơ sở dữ liệu xác thực cho công tác bảo tồn di sản văn hóa dân tộc.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết thiết chế văn hóa Nho giáo và lý thuyết không gian văn hóa - tôn giáo để phân tích cấu trúc, chức năng của các công trình thờ tự Nho học trong bối cảnh xã hội truyền thống. Dưới góc độ mô hình quản lý nhà nước phong kiến tập quyền chuyên chế triều Nguyễn, hệ thống Văn miếu và văn từ, văn chỉ được xem là công cụ thể chế hóa tư tưởng chính thống, củng cố trật tự xã hội và khuyến khích sĩ tử học tập phụng sự triều đình.

Nghiên cứu tập trung làm rõ 4 khái niệm then chốt:

  1. Văn miếu: Thiết chế thờ tự Khổng Tử, Tứ phối, Thập triết và các bậc Tiên hiền, Tiên nho do nhà nước xây dựng ở cấp trung ương và cấp tỉnh.
  2. Văn từ: Nơi thờ tự các bậc hiền triết Nho giáo và danh nhân khoa bảng được thiết lập tại các đơn vị hành chính trung gian như cấp phủ, huyện hoặc cấp tổng.
  3. Văn chỉ: Không gian tế tự ngoài trời hoặc bán lộ thiên do cộng đồng làng xã tự lập để tôn vinh đạo học và những người đỗ đạt của địa phương.
  4. Học điền và khuyến học: Thiết chế ruộng đất công được làng xã hoặc triều đình cấp từ 16 đến 20 mẫu cho các phủ, huyện nhằm lấy hoa lợi phục vụ việc đèn sách và tế lễ định kỳ.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của đề tài được khai thác từ các bộ chính sử kinh điển như Đại Việt sử ký toàn thư, Đại Nam thực lục, Đại Nam nhất thống chí, kết hợp cùng hệ thống địa chí Hán Nôm gồm Đồng Khánh dư địa chí, Nam Định tỉnh địa dư chí mục lục và tài liệu lưu trữ tiếng Pháp tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I. Luận văn tiến hành khảo sát toàn bộ cỡ mẫu gồm 347 vị Cử nhân, 31 vị Tiến sĩ thời Nguyễn cùng 14 trường công lập và 24 trường tư tiêu biểu trên địa bàn toàn tỉnh. Phương pháp chọn mẫu mục đích kết hợp khảo sát điền dã chuyên sâu tại các văn chỉ tổng Duyên Hưng, Đăng Côi, Hào Kiệt, Lạc Chính và Vạn Lộc được áp dụng nhằm thu thập trực tiếp tư liệu văn bia Hán Nôm nguyên bản.

Lý do lựa chọn phương pháp lịch sử - logic kết hợp phân tích thống kê định lượng và văn bản học là nhằm đối chiếu chính xác giữa ghi chép của thư tịch cổ với dấu tích vật chất thực tế. Timeline nghiên cứu được triển khai chặt chẽ qua việc xử lý nguồn sử liệu từ năm 1802 đến năm 1919 và mở rộng đối chiếu thực địa tại thế kỷ XXI để đánh giá hiện trạng bảo tồn.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, nghiên cứu chứng minh Nam Định là địa bàn có mạng lưới trường học công lập phát triển mạnh thứ hai trên cả nước dưới triều Nguyễn với 14 trường học, chỉ xếp sau tỉnh Sơn Tây có 15 trường trong tổng số 160 trường công của 31 đơn vị hành chính toàn quốc. Bên cạnh đó, hệ thống 24 trường tư thục của các bậc đại khoa như trường của Tiến sĩ Ngô Thế Vinh thu hút hơn 1.000 môn sinh với hơn 60 người đỗ Cử nhân, trường của Tiến sĩ Phạm Văn Nghị có tới 10 học trò đỗ đại khoa.

Thứ hai, kết quả phân tích số liệu khoa cử giai đoạn 1802-1919 khẳng định sự phân bố nhân tài khoa bảng có tính tập trung cao theo đơn vị hành chính và dòng họ. Huyện Nam Trực dẫn đầu toàn tỉnh với 97 Cử nhân, chiếm 27,9% tổng số Cử nhân toàn tỉnh, đồng thời chiếm 25,6% tổng số người đỗ đại khoa với 21 vị. Ở cấp độ làng xã, làng Hành Thiện thuộc huyện Xuân Trường sở hữu thành tích vượt trội khi có 77 trên tổng số 82 Cử nhân của huyện, đạt tỷ lệ xấp xỉ 94%.

Thứ ba, sự hình thành và vận hành của Trường thi Hương Nam Định từ năm 1825 với chu vi 214 trượng, quy mô 21 tòa nhà ngói kiên cố đã tổ chức thành công 22 khoa thi, lấy đỗ 458 Cử nhân. Khi sáp nhập thành trường thi Hà Nam giai đoạn 1886-1915, trường tiếp tục tổ chức 11 khoa thi và tuyển chọn thêm 616 Cử nhân cho đất nước.

Thảo luận kết quả

Thành tựu khoa cử rực rỡ của Nam Định bắt nguồn từ sự kết hợp chặt chẽ giữa chính sách khuyến học của triều đình và truyền thống tự quản của làng xã ven biển. Trong thực tế, nhiều bản hương ước như hương ước làng Phú Cốc đã quy định cụ thể việc miễn trừ phu dịch tạp dịch cho người đi học và ban thưởng 5 sào ruộng cho khóa sinh đạt loại ưu. Dữ liệu nghiên cứu được biểu diễn trực quan qua biểu đồ cơ cấu dòng họ khoa bảng làng Hành Thiện, cho thấy hai họ Đặng và Nguyễn chiếm ưu thế áp đảo với tỷ lệ lần lượt là 47% và 45% tổng số Cử nhân toàn làng.

Cơ cấu dòng họ đỗ Cử nhân làng Hành Thiện (1802-1919):
+ Họ Đặng:   [47%] =======================>
+ Họ Nguyễn: [45%] ======================>
+ Họ Phạm:   [7%]  ===>
+ Họ Vũ:     [1%]  >

Biểu đồ so sánh số người đỗ đại khoa giữa hai thời kỳ 1075-1802 và 1802-1919 phản ánh sự chuyển dịch khoa bảng trên toàn quốc. Trong khi các trung tâm lớn như Hà Nội giảm từ 565 xuống còn số lượng khiêm tốn, Hải Dương giảm từ 424 người, thì Nam Định vẫn giữ vững vị thế trong top 10 với 31 vị đỗ Tiến sĩ thời Nguyễn. Điều này khẳng định sức sống bền bỉ của truyền thống hiếu học Thành Nam trong dòng chảy biến thiên của lịch sử dân tộc.

Đề xuất và khuyến nghị

  1. Số hóa và lập bản đồ GIS toàn bộ di tích Nho học: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Nam Định cần chủ trì xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu số hóa 100% văn bia, sơ đồ kiến trúc và tư liệu Hán Nôm của hệ thống Văn miếu, văn từ, văn chỉ trên địa bàn tỉnh, hoàn thành trong giai đoạn 2026-2028.
  2. Quy hoạch tu bổ và phục hồi di tích trọng điểm: Ủy ban nhân dân tỉnh Nam Định cùng các cơ quan chuyên trách cần phân bổ ngân sách để trùng tu, phục hồi tối thiểu 50% các thiết chế văn chỉ tiêu biểu như văn chỉ tổng Duyên Hưng, Đăng Côi và xúc tiến kế hoạch tôn tạo không gian Văn miếu tỉnh trước năm 2030.
  3. Tích hợp giáo dục di sản vào trường học: Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Nam Định cần triển khai chương trình ngoại khóa và tài liệu giáo dục địa phương về truyền thống khoa bảng, danh nhân lịch sử tại 100% các trường phổ thông trên địa bàn từ năm học 2026-2027.
  4. Phục dựng không gian văn hóa tế tự truyền thống gắn với du lịch: Ban Quản lý Di tích các huyện phối hợp với cộng đồng dân cư khôi phục ngày hội tế lễ Tiên thánh, Tiên hiền vào mùa xuân và mùa thu định kỳ hàng năm, xây dựng tuyến du lịch văn hóa tâm linh - lịch sử kết nối Thành Nam với các làng khoa bảng.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Nhà nghiên cứu Lịch sử và Hán Nôm: Khai thác nguồn tư liệu văn bia phong phú, số liệu thống kê khoa bảng chuẩn xác và phương pháp tiếp cận không gian lịch sử văn hóa vùng đồng bằng Bắc Bộ.
  • Cán bộ quản lý di sản và văn hóa địa phương: Ứng dụng các tư liệu điền dã và hồ sơ khảo sát hiện trạng để xây dựng phương án xếp hạng di tích, phục chế kiến trúc cổ và quy hoạch bảo tồn bền vững.
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên chuyên ngành KHXH&NV: Sử dụng làm tài liệu tham khảo giá trị về thiết chế giáo dục truyền thống, văn hóa làng xã và diên cách hành chính Việt Nam thời Nguyễn.
  • Hội khuyến học và cộng đồng địa phương: Tiếp thu các mô hình gây quỹ khuyến học, chính sách học điền và truyền thống tôn sư trọng đạo từ các dòng họ khoa bảng tiêu biểu để phát triển phong trào học tập đương đại.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao Nam Định lại có số lượng trường học công đứng thứ hai cả nước thời Nguyễn?

Dưới triều Nguyễn, Nam Định là vùng đất kinh tế trù phú với 14 trường học công lập được thành lập tại tỉnh, phủ và huyện. Triều đình nhận thấy truyền thống hiếu học lâu đời của cư dân trấn Sơn Nam Hạ nên đã đầu tư mạnh mẽ mạng lưới học đường nhằm đào tạo nhân tài phục vụ bộ máy quan lại tập quyền.

Làng khoa bảng nào tiêu biểu nhất tại Nam Định trong giai đoạn 1802-1919?

Làng Hành Thiện thuộc huyện Xuân Trường là ngôi làng khoa bảng nổi tiếng nhất với 77 vị đỗ Cử nhân trên tổng số 82 Cử nhân của toàn huyện, chiếm tỷ lệ gần 94%. Trong đó, riêng dòng họ Đặng chiếm 47% và dòng họ Nguyễn chiếm 45% tổng số người đỗ đạt của làng.

Trường thi Hương Nam Định có quy mô xây dựng như thế nào?

Thành lập chính thức năm 1825 tại xã Năng Tĩnh, trường thi Hương Nam Định có chu vi 214 trượng, tường cao 5 thước, bên trong gồm 21 tòa nhà lợp ngói kiên cố. Trường đã tổ chức 22 khoa thi từ năm 1834 đến năm 1879 trước khi sáp nhập thành trường thi Hà Nam.

Tình trạng bảo tồn của các văn từ, văn chỉ tại Nam Định hiện nay ra sao?

Phần lớn các di tích Văn miếu và văn chỉ ở Nam Định đã bị tàn phá nặng nề sau các cuộc chiến tranh và giai đoạn phát triển kinh tế cuối thế kỷ XX. Hiện nay, nhiều nơi chỉ còn lại nền móng, phế tích hoặc các tấm văn bia Hán Nôm nằm rải rác trong khuôn viên dân cư.

Làng xã Nam Định xưa đã áp dụng chính sách gì để khuyến khích việc học?

Các làng xã Nam Định quy định người theo học Nho giáo được miễn trừ binh dịch, phu phen và tạp dịch. Học trò thi đỗ các kỳ khảo hạch được xã thưởng ruộng học điền (như làng Phú Cốc thưởng 5 sào ruộng) và được toàn thể dân làng cấp lộ phí đi thi, tổ chức lễ rước vinh quy bái tổ.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện quá trình hình thành, phát triển của Văn miếu và hệ thống văn từ, văn chỉ tỉnh Nam Định giai đoạn 1802-1919.
  • Làm sáng tỏ vị thế khoa bảng hàng đầu của Nam Định với 31 Tiến sĩ, 347 Cử nhân và hệ thống 14 trường công lập cùng 24 trường tư thục.
  • Phân tích sâu sắc cơ chế vận hành của các thiết chế Nho học làng xã qua trường hợp điển hình của làng Hành Thiện và huyện Nam Trực.
  • Cung cấp nguồn tư liệu văn bản học và văn bia Hán Nôm nguyên bản, phản ánh chân thực bức tranh di sản văn hóa Thành Nam.
  • Đề xuất lộ trình 4 nhóm giải pháp chiến lược nhằm bảo tồn, số hóa và phát huy giá trị di tích Nho học giai đoạn 2026-2030.

Công trình là bước đi quan trọng trong việc phục dựng bức tranh lịch sử giáo dục truyền thống; các nhà nghiên cứu và cơ quan quản lý cần tiếp tục chung tay số hóa và bảo tồn kho tàng di sản Nho học vô giá của quê hương Nam Định.