Chương 1 VỊ TRÍ DIA LÝ, CANH QUAN VÀ QUA TRÌNH NGHIÊN CỨU 1. Vị trí địa lý - cảnh quan môi trường di tích chùa Hồ Thiên Đông Triều là địa phương cửa ngõ phía tây của tỉnh Quảng Ninh, có diện tích tự nhiên 39.658,35ha; dân số trên 18 vạn người, được chia thành 21 đơn vị hành chính (bao gồm: 10 phường và 11 xã), thị xã có 11 dân tộc anh em cùng chung sống, trong đó dân tộc Kinh chiếm 97,4% [51]. Đông Triều cách thành phố Ha Long 78km, cách thành phố Uông Bí 25km về phía Đông, cách Thủ đô Hà Nội 90km về phía Tây. Phía Bắc giáp huyện Sơn Động và huyện Lục Nam tỉnh Bắc Giang; phía Tây giáp Thành phố Chí Linh tỉnh Hải Dương; phía Nam giáp huyện Kinh Môn tỉnh Hải Dương: phía Đông Nam giáp huyện Thuỷ Nguyên thuộc thành phô Hải Phòng và phía Đông giáp thành phố Uông Bí.
Địa hình của Đông Triều có đặc điểm đồi núi trung du xen lẫn đồng bằng. Phía Bắc và Tây Bắc là vùng đồi núi thuộc cánh cung Đông Triều, phía Nam là vùng đồng bang ven sông. Vùng đổi núi phía Bắc gồm các xã: An Sinh, Bình Khê, Trang Lương. Vùng giữa là vùng đồi núi thấp xen kẽ kéo dài từ xã Hồng Thái Đông qua phía bắc phường Mạo Khê, phường Kim Sơn, phường Tràng An.
Vùng đồng bằng phía Nam là khu vực giáp với sông Kinh Thầy và sông Đá Bạc. Đông Triều nằmở vị trí đầu mối giao thông quan trọng. Từ đây có các đường giao thông thủy, bộ và đường sắt kết nối với các trung tâm lớn như Hải Phòng, Hải Dương, Hà Nội và các tỉnh khác. Đánh giá về vị trí của Đông Triều, cổ nhân đã tổng kết: “Huyện Đông Triéu có núi non tạo nên thành lity, có sông dài uốn lượn tạo nên thang địa.
Đường thủy thông nhau, noi liên các tran thành, sông khu câu tháp là nơi người và vật tụ hội, đây chính là vùng danh thắng phía Đông. Thời nhà Trần, nhà Lê, Dong Tỉriéu duoc coi là nơi hiểm yếu của phía Đông ” [21]. Trong xu thế hội nhập quốc tế hiện nay, năm trong vùng trọng điểm kinh tế Bắc Bộ (Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh), trên hành lang kinh tế Nam Ninh - Lạng Sơn - Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh, với vị trí của mình, Đông Triêu đã và đang đóng một vai trò ngày càng quan trọng, nó mở ra cho Đông Triêu nhiêu cơ hội đê phát triên kinh tê, văn hóa xã hội, trong đó kinh tế du lịch, địch vụ là một trong những thế mạnh. Là quê hương của nhà Trần, An Sinh xưa, Đông Triều nay đóng vai trò là trung tâm văn hóa, tín ngưỡng của nhà Trần, nơi nhà Trần xây dựng lăng tâm của các vua và quý tộc hoàng gia; nơi xây cất thái miéu dé thờ phụng tổ tiên và các vua nhà Trần và là thánh địa, thủ đô của thiền phái Trúc lâm.
Đông Triều ngày nay còn lưu giữ một hệ thống di tích lịch sử và danh thắng phản ánh bề dày các lớp trầm tích văn hóa hàng trăm năm, trong đó tiêu biêu và nôi bật là hệ thông lăng tâm, đên miêu và chùa tháp. Chùa Hồ Thiên là một quan thé chùa tháp nằm trong hệ thống di tích chùa tháp của thiền phái Trúc Lâm được xây dựng trên day Yên Tử. Trong thư tịch cô, dãy núi Yên Tử thường được viết là BFW (Yên Tử sơn, một âm đọc khác là An Tử son). Thuật ngữ Yên Tử son là dé chi dãy núi tương đương với một phan vòng cung Đông Triều theo cách gọi của địa lý hiện đại, là phần chạy dài từ khu vực Uông Bí đến sông Lục Nam.
Núi Yên Tử có nhiều ngọn núi cao, cảnh sắc thiên nhiên hùng vĩ như: Bạch Vân, Bảo Đài, Trù Phong, vv.32], trong đó cao nhất là đỉnh Bạch Vân (B= #), nay thường gọi là đỉnh Chùa Đồng nơi có ngôi chùa băng đồng với độ cao 1068m so với mực nước biển. Trên các núi này, nhiều chùa tháp Trúc Lâm được xây dựng. Hồ Thiên là một trong những điềm chùa như vậy. Hồ Thiên được xây dựng trên núi Trù Phong, cũng còn được gọi là núi Phật Sơn, một ngọn núi trên dãy Yên Tử.
Núi Trù Phong là một khu vực sông núi nhô cao lên tạo thành các ngọn, điểm cao nhất cao trung bình khoảng 800m so với mực nước biên, từ đỉnh cao này có các sườn núi chạy về phía nam, trong đó hai sườn lớn nhô ra xa nhất tạo thành thế tay ngai, khoảng giữa hai sườn là nơi đặt dựng các công trình, phía trước là những đôi đất thấp hình bát úp như những tiền án trực tiếp, xa hơn là dòng sông Cầm uốn lượn như minh đường tụ thủy. Hình thé núi non, sông ngòi tạo cho Trù Phong có địa thế đẹp theo quan niệm phong thủy. Trên địa thế tự nhiên đó, các công trình được xây dựng dựa trên việc khai thác địa hình tự nhiên vốn có, khu trung tâm của chùa được xây dựng ở một sườn núi kiêu yên ngựa, trong khu vực có toa độ 21°10°05.9” kinh độ Đông, độ cao khoảng 500m so với mực nước biên. Khu tịnh thất được đặt tại các vách núi phía sau, nằm cao hơn so với khu trung tâm, tận dụng các mái đá làm nơi tọa thiền, hoặc xây dựng kiến trúc trên những sườn núi dạng yên ngựa.
Ở dưới chân núi, nơi có một thung lũng nhỏ được gọi là khu Bãi Băng là nơi dựng một số công trình có chức năng như nơi đón tiếp và điểm cao nhất là am Hàm Rồng. Am Hàm Rồng năm cách khu trung tâm khoảng 180m, trên độ cao khoảng 700m so với mực nước biển tại vị trí có tọa độ 21°10°13.11” kinh độ Đông (Xem PL. Vị thế và cảnh quan của H6 Thiên được người xưa mô tả “Là ngọn núi đôi nổi tiếng ở miền Đông xứng danh là thắng cảnh bậc nhất trong thiên hạ. Am Long động sừng sững xanh xanh mây dồn gam tụ, núi đá liền tận Quỳnh Lâm bảo dai, giáp at lô trước đều là cảnh vắng rừng già vậy mà động Trù Phong sừng sững, nhấp nhô góp dén tre biếc, bao đỉnh núi bao quanh, bao khe suối uốn lượn, địa thế về trước, chăng cần đến gậy phép mà don sông biển về dưới chân, chăng phải mượn thé mây, riêng một càn khôn đẹp nhất trời một động””.
Chùa Trù Phong (Hỗ Thiên) nằm trong quan thé Quynh Lâm, Yên Tử. Núi non san sát, suối khe bao bọc, cảnh trí tuyệt mỹ. Đây là chốn Tùng lâm, được lập ra từ thời Trần. Phía sau và hai bên chùa đều có núi bao bọc, phía trước có đồi tạo thành một vùng phúc địa ở giữa mà theo thuật ngữ phong thủy đó là địa thế “Tả thanh long, hữu bạch hô, sau có châm trước có án”.
Địa thế cộng với cảnh sắc thiên nhiên, khí hậu và môi trường khiến cho con người cảm nhận Trù Phong như nơi cảnh Phật, cõi tiên. Núi Trù Phong ngày nay thuộc địa bàn thôn Phú Ninh, xã Bình Khê, thị xã Đông Triều. Trước đây, để lên chùa phải đi qua làng Phú Ninh đi qua hồ Bến Châu, tới suối Thùm Thùm thì đi men theo suối, đến Bãi Bằng và lên chùa. Nay du khách có thể đi theo đường cũ, đi thuyền qua hồ Bến Châu đến đường hành hương kết nối Ngọa Vân - Hoa Yên, đi theo đường ? Bia Trù Phong tự bi ký, nguồn Bộ môn Khảo cổ học hành hương, đến bến xe chùa Hỗ Thiên xây dựng trên một phần khu đất của Bãi Bằng và leo bộ lên chùa.
Cảnh sắc thiên nhiên hiện nay đã có nhiều thay đôi, rừng già cơ bản không còn, xung quanh chùa rừng đang được tái sinh, các đôi núi lân cận chủ yếu là rừng nuôi trồng. Việc mở đường, khai thác than đã làm thay đổi địa mạo sông suối vì thế cảnh thanh u xưa đã giảm bớt đi rất nhiều. Phía trước đập Bến Châu được xây dựng tạo thành một hồ nước lớn gọi là hồ Bến Châu. Mặc dù cảnh sắc thiên nhiên có nhiều thay đổi nhưng địa thế xung quanh cơ bản còn giữ được nét hùng vĩ vốn có.
Lịch sử nghiên cứu chùa Hồ Thiên 1. Giai đoạn trước năm 2000 Khảo cứu sớm nhất về Hồ Thiên được biết đến hiện nay là của Đỗ Nam Tử Nguyễn Trọng Thuật, kết quả khảo cứu của ông đã được trình bày trên báo Đuốc Tuệ số tháng 11/1935. Theo mô tả của Nguyễn Trọng Thuật: “Ngàn núi Yên Tử khởi từ hạt Đông Triều theo hướng Đông chạy đến hạt Quảng Yên, nhô lên có ba ngọn rất cao: đầu đăng Tây là ngọn Ngoa Vân, giữa là ngọn Hồ Thiên và đăng Đông là ngọn Yên Tử. Ngon nào cũng có chùa, đều là cô tích từ đời nhà Tran.
Chùa Ngoa Vân và ngọn tháp Phật Hoàng là một ngọn tháp đá chín tầng thờ xá lợi đức Giác hoàng Trần Nhân Tôn ở trên núi Ngọa Vân. Ngọn Yên Tử có chùa Hoa Yên là chùa chính và nhiều chùa nhỏ như Vân Tiêu, Bảo Sát và chùa Đồng, vv. Ngọn Hồ Thiên có chùa Hồ Thiên. Chùa này cũng như những chùa ở hai ngọn núi kia đều là nơi đạo tràng của Trúc Lâm tam tổ.
Ở đây còn lại một tháp chín tầng bằng đá xanh, kiểu rất xinh xăn và nhà bia cũng bằng đá xanh ghi công đức trùng tu của vua Lê, chúa Trịnh; có bài khắc ngự chế và niên hiệu Vĩnh Hựu (1735 - 1740). Trước nhà bia có một cái nhà bằng ba gian, nhà thường mà xây cuốn, tường và cuốn xây dày đến 2m, thé mà cây ăn rễ vào cũng làm cho cuốn ấy sat một góc. Ca ngàn núi Yên Tử đều dốc ngược; chùa Hồ Thiên này cũng nhờ miếng đất làn làn ra độ một mẫu nên mới dựng được vài nền nhà. Đây cũng là chỗ ngang vai núi thôi, lên tới tuyệt đỉnh còn xa.
Đỉnh cao ngang với chùa Bảo Sát bên Yên Tử, chỉ kém chùa Đông mà thôi, cho nên hôm nào âm trời, khi mây u ám cả chùa, cây côi thì không trông thấy xa, còn hôm nao thanh trời mới trông thấy xa, cả bê Đông. Các mô tả của Nguyễn Trọng Thuật cho thấy, ông không đầu tư nhiều cho việc khảo cứu di tích, tuy nhiên qua các ghi chép này có thé thay, đầu thé ky XX chùa Hồ Thiên được xây dựng trên ngọn núi được gọi là ngọn Hồ Thiên. Thời điểm tác giả khảo cứu chùa còn nhà bia, tháp 9 tầng, phía trước nhà bia có một công trình 3 gian, tường được xếp bằng gạch, thân tường dày 2m. Không thấy tác giả nhắc đến Tam Bảo, am Hàm Long và những khu vực khác, tác giả cũng có chút nhằm lẫn khi mô tả tháp có 9 tầng, thực tế tháp chỉ có 5 tầng.