Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận Chương 2. Phương pháp nghiên cứu Chương 3. Thực trạng VHDN tại LS – Vina.
Một số giải pháp và khuyến nghị. 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài Trên thế giới vấn đề VHDN đã được quan tâm và là “Sự ám ảnh” đối với các nhà nghiên cứu.
Đề tài chuyển giao VHDN từ công ty mẹ ở chính quốc sang các công ty con nước ngoài đã được nghiên cứu chi tiết trong tác phầm “International corperate culture: From helpless global convergence to constructive European divergence” của Christoph I. Barmeyer và Eric Davoine (2006). Tác phẩm tập trung vào nghiên cứu mô tả mức độ tiếp cận các yếu tố VHDN chuyển giao từ công ty mẹ ở Bắc Mỹ sang các công ty con ở Đức và Pháp. Một cuộc khảo sát trên diện rộng được tiến hành với tất cả các nhà quản lý tại các công ty con ở Đức và Pháp.
Kết quả nghiên cứu cho thấy việc chấp nhận các quy tắc ứng xử có nhiều vấn đề ở Pháp hơn là ở Đức, tuy nhiên nhiều nhà quản lý tại hai nước đã từ chối việc ký kết thực hiện những quy định đó và họ thấy có nhiều vấn đề quan trọng hơn, đây là vấn đề riêng và không thuộc về nơi làm việc của họ. Trong thực tế có nhiều sự xung đột giá trị mà các nhà quản lý hai nước gọi đó là tình trạng tiến thoái lưỡng nan giữa việc tạo ra giá trị và hành vi đạo đức (ví dụ quy định về việc “tặng quà hoặc hối lộ” các nhà quản lý nhận được nhiều đơn đặt hàng lớn qua việc tằng quà và tiền hối lộ cho các đối tác.); xung đột giữa truyền thống lâu đời 2000 năm của Luật La mã ở Châu Âu có sự khác biệt từ hệ thống Bắc Mỹ nên có những giá trị không phù hợp. Tác giả đưa ra kết luận rằng cần có sự hài hòa giữa văn hóa quốc gia và VHDN, sự do dự và quá trình tiếp nhận chỉ ra rằng chính những nỗ lực đồng nhất văn hóa là nguyên nhân của sự thất bại, điều quan trọng là để thích ứng giữa chiến lược toàn cầu và bối cảnh địa phương. Từ đó tác giả đã chỉ ra một số biện pháp khắc phục.
Một số tác giả khác có nghiên cứu đến quá trình chuyển giao văn hóa như Scholz (2000), D'Iribame (2002); Barmeyer/ Davoine (2004) chia ra thành ba giai đoạn: lựa chọn, hòa giải và tiếp nhận, trong đó quá trình tiếp nhận đang ngày càng trở thành vấn đề nghiên cứu trung tâm. Tương ứng với ba giai đoạn các nhà nghiên cứu trên phân biệt ba mẫu phản ứng điển hình: chống đối, thích ứng, chấp nhận và hội nhập. Ba mô hình 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com mô tả ở đây không phải là cứng nhắc mà nó đại diện cho các giai đoạn của sự phát triển. Ban đầu các nhân viên của một công ty con kháng cự nhưng tùy thuộc vào hoàn cảnh, sức đề kháng có thể thay đổi thành thích ứng hoặc thậm chí thành sự chấp nhận và hội nhập.
Trong các nghiên cứu về mô hình của văn hóa được chuyển giao từ các công ty đa quốc gia, Hampden – Turner & Trompenaars (1987) đã xác định mô hình mà họ gọi là mô hình “Bảy chiều của văn hóa”, mô hình này được nghiên cứu thông qua một cơ sở dữ liệu lớn là kết quả thu thập của 30.000 cuộc khảo sát đối với hàng nghìn quản lý trên 28 quốc gia. Hofstede (1980) đã đề xuất mô hình bốn chiều nổi tiếng: Khoảng cách quyền lực; chủ nghĩa cá nhân– chủ nghĩa tập thể; tính không chắc chắn– sự né tránh; nam tính– nữ tính. Ngoài ra xu hướng nghiên cứu chính được các học giả thế giới quan tâm từ nhiều năm là nghiên cứu về mối quan hệ của VHDN với hiệu suất doanh nghiệp; VHDN với chuyển giao tri thức. Trước tiên, nghiên cứu về mối quan hệ giữa VHDN và hiệu suất DN, Peters và Waterman (1982) cho rằng các doanh nghiệp có hiệu suất cao được phân biệt với các doanh nghiệp có hiệu suất thấp vì họ sở hữu những đặc điểm văn hóa nhất định và ”văn hóa mạnh”.
Deal và Kennedy (1982) cho rằng hiệu suất doanh nghiệp có thể được tăng cường bởi các giá trị được chia sẻ mạnh. Nhiều nhà nghiên cứu về VHDN đều tìm thấy một liên kết mang tính xây dựng giữa VHDN và hiệu suất hoạt động. Stewart (2007) đề cập rằng lợi nhuận là mục tiêu của bất kỳ tổ chức nào và chuẩn mực văn hóa trong một tổ chức ảnh hưởng mạnh mẽ đến tất cả những ai tham gia vào tổ chức. Bên cạnh đó cạnh tranh thị trường, cả văn hóa đổi mới và văn hóa gắn kết xác định sự phù hợp của các hoạt động hãng có thể góp phần vào hiệu quả của nó.
Vốn dĩ VHDN không chỉ là một yếu tố quan trọng của một tổ chức; mà còn là sức mạnh trung tâm khiến cho hiệu suất kinh doanh cao theo Gallagher và Brown (2008). Gallagher và Brown đã đề cập rằng VHDN ảnh hưởng đến tất cả các hoạt động mà doanh nghiệp thực hiện. Mối tương quan tích cực này được công nhận bởi hơn 35 biện pháp thực hiện, bao gồm lợi nhuận trên đầu tư, tăng trưởng doanh thu, và sự duy 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trì khách hàng, thị phần, doanh số sản phẩm mới, sự thực thi của nhân viên. Cùng quan điểm trên, Kotter (1992) cho rằng các công ty có VHDN hiệu quả sẽ có tác động đến hiệu suất hoạt động của công ty đó.
Sự quan tâm lớn cho của nhà quản lý nghiên cứu VHDN là các giả định rằng một số đặc trưng VHDN nhất định, sẽ dẫn đến sự gia tăng trong hoạt động tài chính của công ty. Bước ngoặt của các học giả nghiên cứu trong suốt những năm 1980 chỉ ra cách mà các tổ chức thành công sở hữu những đặc điểm nổi trội về văn hóa (Ouchi, 1985) cho thấy các mối quan hệ tích cực giữa VHDN và hiệu quả hoạt động. Trong những năm 1990, “Sự ám ảnh” trong việc thử nghiệm các lý thuyết về khả năng thích ứng Denison (1990), Gordon và DiTomaso (1992), và Kotter & Heskett (1992) tìm thấy kết quả không nhất quán về mối liên kết giữa VHDN mạnh và hiệu suất doanh nghiệp. Đề tài “Organizational Culture and Firm Performance: A Reflection of Theory, Research and Practice” của Mayuk Dasgupta (2013) thông qua làm một cuộc tổng quan các nghiên cứu về mối liên hệ giữa VHDN và hiệu suất kinh doanh.
Tác giả đã rút ra kết luận giống với Schein (1990) và Caffold (1984) rằng mối quan hệ này còn mơ hồ, các nhà nghiên cứu không thể xác định được rằng liệu mối liên hệ giữa VHDN và hiệu quả hoạt động doanh nghiệp có theo mối quan hệ “ Nhân – Quả” hay không. Trice và Beyer (1984) lập luận rằng các nghiên cứu trước đây về VHDN đề xuất tập trung vào nền tảng cơ sở đặc trưng, duy nhất của văn hóa, trong khi xét theo bản chất đa chiều của nền văn hóa nó là một khái niệm bao gồm nhiều biến, quan hệ mật thiết với nhau; họ không thực sự xác định các biến cụ thể bao hàm lên một VHDN hiệu quả, họ cũng không cung cấp bằng chứng thực nghiệm quan trọng để hỗ trợ mối quan hệ đó. Nhìn chung các nghiên cứu về chuyển giao mới dừng ở mức độ mô tả mức độ tiếp cận và phản ứng, các mô hình dần xét đầy đủ và hoàn thiện các khía cạnh. Nghiên cứu liên quan đến chuyển giao VHDN là một vấn đề còn mới mẻ ở Việt Nam, hiện chưa đề tài nghiên cứu trực tiếp về vấn đề chuyển giao VHDN, chủ yếu là các công trình nghiên cứu cung cấp cái nhìn tổng quan về khái niệm, vai trò cũng nhưng những nhân tố tác động đến VHDN và thực trạng VHDN tại một công ty hoặc một 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com doanh nghiệp nhất định.
Đầu tiên phải kể tới "Văn hoá kinh doanh và triết lý kinh doanh" của PGS. Đỗ Minh Cương – NXB.Chính trị quốc gia, (2001). Đây là công trình đầu tiên ở nước ta trình bày một cách hệ thống về các vấn đề văn hoá kinh doanh, VHDN, triết lý kinh doanh. từ phương diện cơ sở lý luận và thực tiễn trên thế giới và tại Việt Nam.
Công trình là một tài liệu tham khảo tốt, cung cấp những kiến thức hữu ích đối với quá trình nghiên cứu luận văn này. Nguyễn Mạnh Quân - "Đạo đức kinh doanh và văn hoá công ty" – NXB. Đại học Kinh tế Quốc dân, (2011). Đây là giáo trình của Trường Đại học Kinh tế Quốc dân.
Công trình trình bày rõ khái niệm, bản chất, các dạng VHDN. Ngoài ra công trình cũng đề cập đến vấn đề vận dụng VHDN trong quản lý - tạo lập bản sắc văn hoá công ty. Luận văn đã tham khảo công trình này khi xây dựng phần cơ sở lý luận. Trong một nghiên cứu khác, PGS.TS Phùng Xuân Nhạ - "Nhân cách doanh nhân và văn hoá kinh doanh ở Việt Nam trong tiến trình đổi mới và hội nhập quốc tế" – Đề tài cấp nhà nước, mã số: KX.
Công trình đã xây dựng các mô hình cấu trúc phân tầng với bảng thang các giá trị chi tiết về nhân cách doanh nhân và văn hoá kinh doanh Việt Nam trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế. Đề tài cũng tìm hiểu sự tương đồng và khác biệt trong nhân cách doanh nhân và văn hoá kinh doanh giữa Việt Nam với các nước đặc biệt là ở hai "khu vực văn hoá" phương Đông và phương Tây để rút ra một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam. Luận án Tiến sĩ “Hệ thống tiêu chí nhận diện VHDN – Vận dụng cho doanh nghiệp Việt Nam” được thực hiện bởi Đỗ Hữu Hải (2014) đã có đóng góp về mặt lý luận khi đưa ra hệ thống tiêu chí nhận diện VHDN ở Việt Nam và các tiêu chí nhận diện VHDN vận dụng cho doanh nghiệp Việt Nam thể hiện ở ba yếu tố: Yếu tố tổ chức gồm 36 tiêu chí nhận diện. Trong những tiêu chí thuộc các khía cạnh dùng để nhận diện VHDN thì có những tiêu chí thuộc khía cạnh Sự kiểm soát, Sự phối hợp, Sự điều tiết, Sự kiểm soát của lãnh đạo, Kinh nghiệm lãnh đạo và Trách nhiệm của người lãnh đạo.
Tác giả tự xây dựng và kiểm nghiệm độ tin cậy của các tiêu chí này thông qua nghiên cứu định lượng. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ngoài ra trong nghiên cứu về “văn hóa nội bộ của doanh nghiệp Agribank” do Trung tâm nghiên cứu Masso Survey thực hiện.