Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VĂN HÓA DOANH NGHIỆP VÀ GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CÁC DOANH NGHIỆP NHẬT BẢN Ở VIỆT NAM VÀ CÔNG TY TNHH AGREX VIỆT NAM 1.1 Cơ sở lý luận về văn hóa doanh nghiệp 1.1 Một số vấn đề cơ bản về VHDN * Văn hóa Văn hóa ra đời gắn liền với sự phát triển của lịch sử nhân loại, đây là một khái niệm rất phức tạp, có nhiều định nghĩa và cách hiểu khác nhau. Các nhà nghiên cứu cũng đã có nhiều cách tiếp cận khác nhau, do vậy dẫn đến nhiều quan niệm khác nhau về nội dung thuật ngữ này. Hiểu theo nghĩa hẹp, văn hóa là hệ tư tưởng, các hệ thống và các thể chế đi theo nó như nghệ thuật, khoa học, triết học, đạo đức học… Hiểu theo phạm vi nghiên cứu rộng chúng ta có các khái niệm về văn hóa như sau: Theo triết học Mac – Lê nin “văn hóa là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra bằng lao động và hoạt động thực tiễn trong quá trình lịch sử của mình; biểu hiện trình độ phát triển xã hội trong từng thời kỳ lịch sử nhất định” [12, tr.
Theo chủ tịch Hồ Chí Minh “ vì lẽ sinh tồn cũng như vì mục đích cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương tiện, phương thức sử dụng. Toàn bộ những 21 z sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” [13, tr. Trong luận văn tác giả sử dụng định nghĩa văn hóa của PGS.
VS Trần Ngọc Thêm : “Văn hóa là hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội”. 10] * Văn hóa doanh nghiệp Giống như sự đa dạng và phong phú trong định nghĩa về văn hóa, khái niệm văn hóa doanh nghiệp cũng được tiếp cận theo nhiều cách khác nhau và cũng có nhiều định nghĩa trong lĩnh vực này. Theo ông Georges de Saite Marie, chuyên gia người pháp về văn hóa doanh nghiệp vừa và nhỏ, đã đưa định nghĩa như sau” VHDN là tổng hợp các giá trị, các biểu tượng, huyền thoại, nghi thức, các điều cấm kỵ, các quan điểm triết học, đạo đức tạo thành nền móng sâu xa của doanh nghiệp [17, tr. Một định nghĩa khác của tổ chức lao động quốc tế (ILO) “VHDN là sự trộn lẫn đặc biệt các giá trị, các tiêu chuẩn, thói quen và truyền thống, những thái độ ứng xử và lễ nghi mà toàn bộ chúng là duy nhất đối với một tổ chức đã biết” Tuy nhiên định nghĩa phổ biến và được chấp nhận rộng rãi nhất là định nghĩa của chuyên gia nghiên cứu các tổ chức Edgar Schein: “VH công ty là tổng hợp những quan niệm chung mà các thành viên trong công ty học được trong quá trình giải quyết các vấn đề nội bộ và xử lý các vấn đề với môi trường xung quanh” [17, tr.
22 z Trong luận văn này, thuật ngữ VHDN được hiểu như sau : “ VHDN là một hệ thống các giá trị, các chuẩn mực, các quan niệm và hành vi do chủ thể doanh nghiệp tạo ra trong quá trình kinh doanh, được thể hiện trong cách ứng xử của họ trong nội bộ doanh nghiệp và với xã hội, tự nhiên ở một cộng đồng hay một khu vực”[18, tr.2 Các yếu tố cấu thành VHDN Theo Edgar Schein, VHDN được chia thành ba mức độ khác nhau, đó là các mức độ cảm nhận được các giá trị văn hóa trong doanh nghiệp hay nói cách khác là tính hữu hình của các giá trị văn hóa đó. Đây là cách tiếp cận độc đáo, đi từ hiện tượng đến bản chất của một nền văn hóa, giúp cho chúng ta hiểu một các đầy đủ và sâu sắc những bộ phận cấu thành nên nền văn hóa đó.1 các mức độ của VHDN [nguồn: Đỗ Thị Phi Hoài, tr. Những quá trình và cấu trúc hữu Mức độ thứ nhất hình của doanh nghiệp (artifacts) Những giá trị được chấp nhận Mức độ thứ hai (Espoused values) Mức độ thứ ba Những quan niệm chung (basic Underlying Assumptions) 23 z Mức độ thứ nhất: bao gồm tất cả những hiện tượng và sự vật mà một người có thể nhìn, nghe và cảm nhận khi tiếp xúc với một tổ chức có nền văn hóa xa lạ như: kiến trúc, cơ cấu tổ chức, các văn bản quy định nguyên tắc hoạt động của doanh nghiệp, lễ nghi và lễ hội hàng năm, các biểu tượng, ngôn ngữ, các hành vi ứng xử thường thấy của các thành viên trong doanh nghiệp, những câu chuyện, hình thức và mẫu mã sản phẩm… Mức độ thứ hai: là những giá trị được tuyên bố, đó là các quy định, nguyên tắc, triết lý, chiến lược và mục tiêu riêng, là kim chỉ nam cho mọi hoạt động của tổ chức, những giá trị này cũng có tính hữu hình vì người khác có thể nhận biết và diễn đạt chúng một cách rõ ràng, chính xác.mưc Mức độ thứ ba:những quan niệm chung, những ý nghĩa niềm tin, nhận thức, suy nghĩ và tình cảm có tính vô thức, mặc nhiên được công nhận trong doanh nghiệp.3 Tác động của văn hóa doanh nghiệp đối với sự phát triển của doanh nghiệp * Tích cực: VHDN tạo nên phong thái của doanh nghiệp: chúng ta không mấy khó khăn để nhận ra phong cách của một doanh nghiệp thành công. phong cách đó thường gây ấn tượng mạnh cho người ngoài và thường là niềm tự hào của các thành viên trong tổ chức đó, phong thái riêng của doanh nghiệp là thứ không thể mua hay bắt chước được mà nó chỉ được tạo nên từ ý thức, sự nỗ lực của cả một tập thể.
24 z Một nền văn hóa tốt giúp cho doanh nghiệp thu hút nhân tài và củng cố lòng trung thành của nhân viên đối với doanh nghiệp: những yếu tố thuộc về chính sách của công ty, sự giám sát, các mối quan hệ cá nhân, điều kiện làm việc và mức lương là những yếu tố vật chất chứ không phải động cơ giữ chân nhân tài, những yếu tố khác như: thành tích, sự ghi nhận, bản thân công việc, trách nhiệm và sự tiến bộ là những yếu tố có ảnh hưởng dài hạn mang tính tích cực đối với nhân viên, hay nói cách khác VHDN của doanh nghiệp là yếu tố giữ chân nhân tài ở lại với doanh nghiệp. Các cá nhân nhận thấy vai trò của mình trong việc giúp tổ chức đạt được sứ mệnh, mục tiêu chung, đó là động lực khiến họ muốn cống hiến nhiều hơn cho doanh nghiệp. VHDN góp phần làm giảm mâu thuẫn, xây dựng khối đoàn kết: VHDN được miêu tả như một chất keo gắn kết các thành viên trong doanh nghiệp, việc tạo ra một văn hóa làm việc chung sẽ tạo ra sự thống nhất trong quan điểm nhìn nhận, đánh giá và lựa chọn. điều này có ý nghĩa đối với các doanh nghiệp có mâu thuẫn và thiếu sự thống nhất về nội bộ.
VHDN khích lệ quá trình đổi mới và sáng chế: nghĩa là các nhân viên được khuyến khích để tách biệt ra và đưa ra sáng kiến. sự khích lệ này sẽ góp phần phát huy tính năng động sáng tạo của các thành viên, là cơ sở cho quá trình nghiên cứu và phát triển công ty. Mặt khác, những thành công của nhân viên trong công việc sẽ tạo động lực gắn bó họ với công ty lâu dài và tích cực hơn. * Tiêu cực: VHDN như một rào cản trước yêu cầu thay đổi và đa dạng: một doanh nghiệp có nền văn hóa tiêu cực có thể là do doanh nghiệp đó có cơ chế quản lý cứng nhắc theo kiểu hợp đồng độc đoán, chuyên quyền và hệ thống tổ chức quan 25 z liêu, gây ra không khí thụ động, sợ hãi ở các nhân viên, khiến họ có thái độ thờ ơ hoặc chống đối lãnh đạo.
ở một khía cạnh khác cũng có thể là doanh nghiệp không có ý định tạo nên một mối liên hệ nào khác giữa nhân viên ngoài quan hệ công việc, văn hóa của doanh nghiệp từ đó sẽ tạo ra những rào cản đối với những thành viên muốn đóng góp cho tổ chức, không tạo được môi trường thúc đẩy cá nhân nỗ lực trên hành trình thực hiện sứ mệnh chung của doanh nghiệp.4 Các phương thức đánh giá VHDN Trong VHDN có nhiều phương thức để đánh giá và xây dựng, trong phạm vi luận văn này, tác giả xin đề cập đến mô hình của Denison. Đây là một công cụ để xác định sự thay đổi của doanh nghiệp dưới sự tác động của VHDN, công cụ này đánh giá VHDN với bốn đặc điểm văn hóa cơ bản tiêu biểu nhằm tập trung vào mối liên hệ giữa VHDN với các điểm mấu chốt để đo lường thành tích của doanh nghiệp cũng như khả năng thu được lợi nhuận, sự tăng trưởng, chất lượng, sự cải tiến, khách hàng và sự thỏa mãn của nhân viên. Mô hình này được sử dụng để giúp doanh nghiệp nhận ra được những điểm mạnh, điểm yếu để từ đó điều chỉnh các quy tắc và duy trì qua thời gian để trở thành các giá trị ngầm định. mô hình Denison nguồn (nguồn Đỗ Thị Phi Hoài, tr.
Mô hình Denison được cấu thành bởi bốn yếu tố: Khả năng thích ứng: Doanh nghiệp có nền móng VHDN vững chắc sẽ có khả năng cảm nhận và thích ứng với những thay đổi của môi trường kinh doanh để từ đó sẽ có những phương án kinh doanh và điều chỉnh các hành vi sao cho phù hợp nhất. Các thành viên trong doanh nghiệp phải nhận ra tầm quan trọng của việc làm hài lòng khách hàng, liên tục tìm kiếm những thách thức mới và cải tiến để đáp ứng hoặc đón đầu nhu cầu của họ. Bên cạnh đó, đề cao việc học tập liên tục, rút ra bài học từ những kinh nghiệm đã có để phát triển trong tương lai. 27 z Sứ mệnh: Trong yếu tố này, doanh nghiệp phải xác định định hướng dài hạn, tầm nhìn, mục tiêu, ý nghĩa tồn tại và cách thức hành động cho từng nhân viên, có nhiệm vụ nói với họ rằng tại sao họ đang làm công việc này? Và làm thế nào để công việc chúng ta làm mỗi ngày góp phần vào sự phát triển chung của toàn doanh nghiệp.